Journey in Life: 07/04/14

Friday, July 4, 2014

Vì sao chủ nhà ở Anh không có quyền sở hữu thật sự?

The Prudential Assurance Building*, London. Photo courtesy Robert Cutts.

Nếu bạn là một người Nga giàu có đang phân vân không biết cất tiền ở đâu thì việc sở hữu một căn hộ ở trung tâm London không phải lựa chọn tồi. Thị trưởng London - ông Boris Johnson nói: thành phố ‘giờ được khẳng định là một thành phố có sức hấp dẫn trên toàn cầu tới mức bất động sản ở đây thực tế được coi như một loại tài sản’. Tuy nhiên bao người trong số các đại gia Nga (oligarch) này nhận ra rằng: trong nhiều trường hợp, họ không phải chủ sở hữu (owner) mà thật ra chỉ là người thuê (tenant)? Theo luật đất đai của Anh, hầu hết các căn hộ được bán dưới dạng ‘hợp đồng thuê’ (leasehold), về mặt kĩ thuật chính là một dạng thuê nhà dài hạn. Mảnh đất và tòa nhà trên đó do các freeholder (=landlord, chủ sở hữu) sở hữu. Cách phân chia này gây mơ hồ cho rất nhiều người mua nhà – không chỉ những người giàu đến từ Nga - mà còn dẫn đến những hậu quả lạ lùng (odd repercussion) cho các thành phố của Anh. Vậy điều khác biệt giữa người thuê nhà (leaseholder) và chủ sở hữu (freeholder) là gì?

Sự phân biệt này có nguồn gốc từ thời phong kiến: từ thế kỉ 11, những người tự do sở hữu các mảnh đất cho nông dân thuê để canh tác (toil). Vào thế kỉ 18, các dòng họ quý tộc như nhà Cadogan cho các nhà phát triển thuê đất dài hạn (long lease), tạo điều kiện hình thành những khu ‘Siêu biệt thự’ ở London (Great Estates). Việc cho thuê giải quyết được một vấn đề pháp lý: khi ai đó mua một ngôi nhà, đương nhiên họ cũng sở hữu mảnh đất ngôi nhà được xây trên đó và chịu trách nhiệm bảo trì (upkeep) ngôi nhà. Nhưng khi nhiều căn hộ được chồng lên nhau (piled on top) thì việc ai phải chịu trách nhiệm về hạ tầng tòa nhà trở nên mơ hồ hơn. Vì thế các chủ sở hữu chịu trách nhiệm này trong thời gian cho thuê nhà.

Kết quả là nhiều người không hề biết ai mới thực sự là chủ căn hộ đắt tiền của họ. Tuy nhiên, đây cũng không phải vấn đề lớn. Như ông Graham Winkley ở Công ty luật Boodle Hatfield cho biết, khi một chủ sở hữu cho thuê dài hạn đất của mình, ‘cơ bản là họ đã nhận tiền (để đổi lấy nhà đất) rồi’. Sau nhiều thập kỉ sửa đổi luật, người thuê nhà đã có những quyền lợi hợp pháp vững chắc. Bất cứ ai đã thuê nhà hơn 2 năm có thể gia hạn (hợp đồng) thêm 90 năm nữa (dù đôi khi với giá rất cao). Điều này cũng có nghĩa hiếm khi quyền thuê nhà bị hết hạn (run out). Trên thực tế, có quyền sở hữu một ngôi nhà nghĩa là có quyền quản lý và thu phí dịch vụ. Những người phát triển bất động sản xây các tòa căn hộ mới thường cho thuê dài hạn – 99 hoặc 125 năm và giao (farm out) quyền sở hữu này cho các công ty quản lý. Hệ thống này có hiệu quả không? Không hẳn. Việc thường xuyên phải gia hạn hợp đồng cho thuê khiến chủ sở hữu bất động sản bối rối và chỉ béo bở các công ty luật. Nếu không có một phần quyền sở hữu, người thuê nhà không dễ dàng gì yêu cầu sửa chữa hay thay đổi kết cấu trong tòa nhà. Quyền sở hữu thường được mua bán giữa các nhà đầu cơ và một số sẽ tìm cách moi tiền từ phí dịch vụ. Ở các nước cũng sử dụng Thông luật (common-law) như Mỹ và Canada, các căn hộ được coi là ‘chung cư’ (condominiums), nơi một công ty đại diện người dân sở hữu tòa nhà. Hệ thống này đơn giản hơn và quyền của chủ nhà cũng rõ ràng hơn.

Ở London, vấn đề lớn hơn có lẽ là hợp đồng thuê nhà không bao giờ hết hạn và chủ sở hữu thường khó tìm. Với cuộc khủng hoảng bất động sản ở thành phố hiện nay, việc phá bỏ (demolish) các ngôi nhà rải rác thưa thớt (low-density) ở nhiều khu vực để xây mới sẽ là hợp lý. Trong các thập niên 20 và 30, rất nhiều căn hộ mới đã được xây ở những khu đất mà hợp đồng thuê hết hạn cùng lúc. Tuy nhiên, ngày nay, tái phát triển kiểu đó là bất khả thi. Kể cả khi chỉ có duy nhất một chủ sở hữu một mảnh đất cũng không có cách nào từ chối người thuê nhà quyền gia hạn hợp đồng hoặc buộc họ phải bán phần (sở hữu). Điều này khiến nhà cũ thường hiếm khi bị phá dỡ trừ khi thuộc sở hữu của chính quyền địa phương (có quyền lực buộc người thuê rời đi). Nơi duy nhất có thể xây dựng được là các khu đất công nghiệp cũ. Người London đang phải trả nhiều tiền hơn bao giờ hết để được làm ‘người thuê nhà’ nhưng chẳng bao giờ nhà mới được xây đủ cả.

Đăng Duy
The Economist



* This building, along Holborn Bar in the City of London, was designed by Alfred Waterhouse in the late 1870s and replaced a number of existing buildings including Furnival’s Inn, where Charles Dickens lived from 1834 to 1837.

Hội nghị Bretton Woods quyết định những gì?

Photo credit: The Economist.

Ngày 1 tháng Bảy năm 1944, 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại một khách sạn ở vùng núi New Hampshire để thảo luận về hệ thống tiền tệ sau chiến tranh (tránh nguy cơ tái diễn khủng hoảng kinh tế). Hệ thống Bretton Woods được thành lập sau Hội nghị này bao gồm hai định chế toàn cầu vẫn đóng vai trò quan trọng ngày nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Hội nghị cũng thiết lập chế độ tỷ giá hối đoái cố định kéo dài đến năm 1971. Động lực quan trọng đối với các đại biểu tham gia Hội nghị là cảm giác rằng hệ thống tài chính giữa hai cuộc Thế chiến đã trở nên hỗn loạn (chaotic), sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng, cuộc Đại Khủng hoảng và sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ. Henry Morgenthau, Bộ trưởng Tài chính Mỹ, tuyên bố Hội nghị nên 'từ bỏ những điều tệ hại về kinh tế - các nước đua nhau phá giá đồng tiền và các rào cản thương mại mang tính phá hoại-. xuất hiện trước cuộc chiến tranh hiện nay'. Tuy nhiên, Hội nghị phải vượt qua được sự chia rẽ phức tạp (tricky) giữa hai bờ Đại tây dương. Lãnh đạo trí thức của Hội nghị là John Maynard Keynes, nhà kinh tế học người Anh, nhưng quyền lực tài chính lại thuộc về Harry Dexter White, chuyên gia cao cấp của Bộ Tài chính Mỹ - đại diện cho Tổng thống Mỹ Roosevelt.

Trạng thái căng thẳng trong việc duy trì tỷ giá hối đoái cố định là quá lớn cho các quốc gia trong quá khứ, nhất là khi tài khoản thương mại của họ bị thâm hụt. Quỹ Tiền tệ Quốc tế được thiết kế nhằm giải quyết vấn đề này, với vai trò như người cho vay quốc tế cuối cùng. Nhưng trong khi White, đại diện của quốc gia chủ nợ (với thặng dư thương mại), muốn tất cả các gánh nặng điều chỉnh (adjustment) do các quốc gia đi vay gánh chịu, Keynes cũng muốn các hạn chế (constraints) đối với các quốc gia chủ nợ. Ông muốn một hệ thống bù trừ cán cân thanh toán quốc tế không dựa trên đồng đôla, mà dựa trên một đồng tiền mới với tên gọi bancor. White cho rằng, như vậy, nước Mỹ sẽ phải trả tiền cho hàng xuất khẩu của mình bằng một "đồng tiền hài hước"; và Keynes đã thua tranh luận này. Tuy nhiên, trớ trêu thay, giờ nước Mỹ là quốc gia mắc nợ, và những người kế nhiệm White đã kêu gọi các quốc gia chủ nợ phải chịu một phần của việc điều chỉnh khi cán cân thương mại trở nên không kiểm soát được (get out of line).

Trong hệ thống tỷ giá hối đoái Bretton Woods, tất cả các đồng tiền xoay quanh đồng đôla, gắn với giá vàng. Nhằm ngăn chặn đầu cơ chống lại tỷ giá trao đổi cố định, các dòng vốn bị hạn chế chặt chẽ. Hệ thống này mang lại hơn hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, và hầu như không xảy ra (paucity) cuộc khủng hoảng tài chính nào. Tuy nhiên, hệ thống này tỏ ra quá cứng nhắc để đối phó với các cường quốc kinh tế mới nổi như Đức và Nhật Bản, và sự miễn cưỡng của Mỹ trong việc điều chỉnh chính sách kinh tế nội địa để duy trì tỷ giá vàng. Tháng 8 năm 1971, Tổng thống Mỹ Nixon đã phải rút hẳn khỏi hệ thống Bretton Woods và hệ thống tỷ giá hối đoái cố định tan rã (disintegrate).

Dù sao, cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới vẫn tồn tại. Nhưng các định chế này đều bị chỉ trích gay gắt, không chỉ vì sự thống trị của các nước giàu ở hai cơ quan này. Quỹ Tiền tệ Quốc tế bị chỉ trích vì các điều kiện đi kèm với các khoản vay, bị coi là quá chú trọng tới biện pháp thắt lưng buộc bụng và các quyền của chủ nợ mà không mấy quan tâm đến phúc lợi của người nghèo. Ngân hàng Thế giới, chủ yếu cho các nước đang phát triển vay, bị chỉ trích vì không quan tâm đầy đủ đến các hậu quả xã hội và môi trường của các dự án tài trợ. Khó có thể tin rằng một trong hai tổ chức này sẽ còn tồn tại trong 70 năm nữa, trừ khi chúng thay đổi để phản ánh sức mạnh ngày càng tăng của các thị trường mới nổi, đặc biệt là Trung Hoa.

Sơn Phạm
The Economist


"Get the short end of the stick" nghĩa là gì?

Last minutes (before sunrise) of a night shift, Kish island, Persian Gulf. Photo courtesy Hamed Saber.

'Get the short end of the stick' có một từ mới là short, nghĩa là ngắn. Người Mỹ dùng get the short end of the stick khi họ nhận được những gì ít hơn họ mong đợi, và cảm thấy bị chèn ép hay bị đối xử bất công.

Ví dụ
Poor (tội nghiệp) Donna! Last week was the third time that she had to work the late shift (ca đêm), but none of the other workers did. It was so unfair. She got the short end of the stick (bị thiệt thòi) once again. She might have to speak up (lên tiếng bênh vực quyền lợi) for herself.

Look how long housewives (bà nội trợ) were portrayed as morons (người đần độn). They got the short end of the stick. To watch a TV commercial from years ago, you’d think a woman’s highest ambition (tham vọng) was to get her husband’s shirt collars clean or to make desserts that were works of art (sản phẩm nghệ thuật)!

There’s nothing like illness to take away a sense of control, even if we often have less of it than we imagine. What people don’t like to think about is that you can do everything right—in life or in a treatment protocol—and still get the short end of the stick.

Bài giảng lý thuyết Lợi thế so sánh



Don Boudreaux's Everyday Economics video on comparative advantage is one of the best introductions to comparative advantage.

Claude Shannon - Cha đẻ của lý thuyết thông tin



Claude Elwood Shannon (30/4/1916 - 24/2/2001) là nhà toán học, kĩ sư điện tử, và mật mã học người Mỹ, được biết đến là 'cha đẻ của lý thuyết thông tin'.

Shannon sinh ra ở Petoskey, Michigan. Cha ông, Claude Sr (1862-1934), là một hậu duệ của những người định cư đầu tiên ở New Jersey, là một thương nhân tự gây dựng nên và có thời gian làm thẩm phán. Mẹ ông, Mabel Wolf Shannon (1890-1945), con gái của một người nhập cư Đức, là một giáo viên ngoại ngữ và có nhiều năm làm hiệu trưởng trường trung học phổ thông Gaylord, Michigan. Shannon sống 16 năm đầu tiên ở Gaylord, Michigan, theo học trường công ở đó, và tốt nghiệp trường trung học phổ thông Gaylord năm 1932.

Shannon nổi tiếng nhất vì đã xây dựng nên lý thuyết thông tin với bài báo năm 1948. Tuy nhiên ông cũng là người đưa ra lý thuyết thiết kế máy tính số và mạch số năm 1937, khi đang là một sinh viên cao học 21 tuổi tại MIT, ông đã viết luận án chứng minh rằng ứng dụng điện tử của đại số Boole có thể xây dựng và giải quyết bất kì quan hệ số hay logic nào. Có người coi nó là luận án cao học quan trọng nhất của mọi thời đại. Shannon cũng đóng góp cho ngành phân tích mật mã trong Thế chiến II và sau đó, với những đóng góp cơ bản cho việc phá mật mã.
-----
It was the change that no-one saw coming: the idea that we could take a book, a painting or a song and send it through cables and wires and even thin air to the other end of the world – and it would be identical on the other side. But this idea underpins everything about the Information Age we live in.

How did we make such a mind bending transition into the digital world? And how does it work? It turns out it's all based on a concept that is surprisingly beautiful in its simplicity. This short video essay by Delve.tv explores what that idea is and tells you about the man who figured it all out. Computers are everywhere and control almost every aspect of our lives. In the next 6 minutes you'll find out how they really work.

Công nghệ 'Mắt chim ưng' thật sự



Chim ưng Rufus, đuổi chim bồ câu quấy rối sân tennis trong các giải Wimbledon đã 14 năm.
-----
Meet Rufus, the Wimbledon Hawk that has protected the courts from pigeons since 2000. Before Rufus, pigeons would often interrupt play and groundskeepers were deployed to shoo away the birds with varying levels of success. Ever since Rufus joined the security team, Wimbledon has been 'pigeon interruption free'.