Journey in Life: 07/18/14

Friday, July 18, 2014

Vì sao Scotland muốn giữ đồng bảng Anh là đồng tiền chính thức?

£20 note. Photo courtesy Petras Gagilas.

Giống như quốc kỳ và quốc ca, tiền tệ cũng được coi là biểu tượng thể hiện bản sắc dân tộc. Ngay ở châu Âu, nơi đồng euro được lưu hành đã đưa đồng franc Pháp hay đồng mark Đức lui vào dĩ vãng thì tiền xu vẫn duy trì niềm tự tôn và lịch sử của mỗi quốc gia. Dựa trên ý nghĩa đó, đảng Quốc gia Scotland (SNP), chủ trương thành lập quốc gia mới sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 18 tháng Chín tới, đang cố gắng hình thành đồng tiền riêng của mình. Đây có lẽ sẽ là một nhiệm vụ “khua chiêng gióng trống” (rousing task): các tờ tiền mới sẽ in chân dung Robert the Bruce, Robert Burns và David Hume hay thậm chí lên mặt (snub) với người Anh bằng cách in hình Adam Smith, nhà kinh tế học nổi tiếng người Scotland – hiện được in trên tờ tiền 20 bảng. Tuy nhiên, các nhà dân tộc chủ nghĩa Scotland lại muốn giữ đồng bảng Anh. Vì sao vậy?

Quốc gia mới này sẽ phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế. Với khoản thâm hụt ngân sách 11% và kế hoạch tăng chi tiêu công, thiếu hụt tài khóa của Scotland sẽ rất nghiêm trọng. Duy trì các mối giao thương sẽ là nhiệm vụ trọng tâm. Hiện nay, Mỹ là đối tác thương mại quan trọng nhất của Scotland, chiếm tới 14% trong tổng giá trị xuất khẩu 26 tỷ bảng (42 tỷ USD) năm 2012. Tuy nhiên, 307 năm thống nhất đồng nghĩa với việc kinh tế Scotland vẫn gắn bó mật thiết với Vương quốc liên hiệp Anh hơn. Nếu Scotland độc lập, giao thương với các quốc gia trong liên hiệp Anh sẽ được coi là ngoại thương, với giá trị xuất khẩu từ Scotland lên tới 74 tỷ bảng, cao gần gấp ba lần so với xuất khẩu sang Mỹ. Các khu vực khác trong Vương quốc Anh sẽ chiếm tới 65% giá trị ngoại thương của Scotland. Thế nhưng, tỷ giá đồng tiền mới sẽ lên xuống tùy theo doanh thu từ dầu mỏ - xương sống của nền kinh tế Scotland và vì vậy khiến các nhà xuất khẩu khó khăn hơn. Nếu Scotland gia nhập khu vực đồng tiền chung euro, tỷ giá hối đoái ở quốc gia này sẽ lại bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các sự kiện từ Đức hơn là ở Anh. Tất cả những điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại và GDP. Giữ nguyên đồng bảng đồng nghĩa các doanh nghiệp sẽ không phải lo lắng về biến động tỷ giá trong chi phí giao dịch như khi buôn bán bằng ngoại tệ khác.

Đồng bảng Anh cũng sẽ là cách để tăng cường danh tiếng. Một nước Scotland độc lập sẽ phải chịu gánh nặng nợ bình quân đầu người lớn như của Vương quốc liên hiệp Anh nhưng xóa được lịch sử vay nợ dài như ở nước này. Nếu giữ đồng bảng, Scotland có thể mượn lịch sử tín dụng tốt các khoản nợ đã thanh toán, giống như Hy Lạp và Cyprus mượn tín nhiệm (credibility) của Đức bằng việc dùng chung đồng euro vào giữa những năm 2000, và hy vọng được vay với lãi suất thấp như Anh. Danh tiếng cũng có ý nghĩa đối với ngành bảo hiểm và ngân hàng ở nước này. Bằng cách giữ đồng bảng và dựa vào cơ quan giám hộ tiền tệ là Ngân Hàng Trung ương Anh, nền tài chính Scotland sẽ được các nhà đầu tư coi là có hậu thuẫn (underpinned) từ một ngân hàng trung ương vững chắc và an toàn, dù ngân hàng đó gần đây đang phải đối mặt với một số vấn đề.

Việc giữ đồng bảng là chính sách hợp lý khi xét đến tầm quan trọng của thương mại và danh tiếng như trên. Tuy nhiên, vấn đề là chính sách này không khả thi. Chính phủ Anh đã tuyên bố thẳng thừng rằng Scotland sẽ không được chính thức sử dụng đồng bảng. Với những người chỉ quan tâm tới thương mại, có một phương thức rất đơn giản là sử dụng đồng bảng một cách phi chính thức. Điều này có thể được, nhưng giống như các nền kinh tế mới nổi El Salvador hay Ecuador áp dụng (dùng đồng đôla Mỹ) – giải pháp này sẽ gây tổn hại đến tín nhiệm tài chính của Scotland. Khi Ngân hàng Trung ương Anh không chịu trách nhiệm đối với các ngân hàng Scotland, nước này sẽ không có người cho vay cuối cùng (a lender of last resort) đồng nghĩa với việc khủng hoảng tài chính dễ xảy ra. Với chính sách lãi suất dành riêng cho Anh, xứ Wales và Bắc Ireland, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức lãi suất cao hơn đối với các khoản nợ của Scotland do nền kinh tế biến động tùy thuộc vào dầu mỏ. Đảng Quốc gia Scotland có thể thành công trong chiến dịch vận động nước Scotland độc lập giữ đồng bảng, nhưng điều này sẽ không mang lại lợi ích như những gì h mong chờ.

Phương Thùy
The Economist

Vòm Sắt Iron Dome của Israel hoạt động như nào?

Secretary of Defense Leon Panetta visit the Iron Dome battery in Ashkelon. Photo courtesy U.S. Embassy Tel Aviv.

Israel từ lâu đã được bảo vệ bởi các 'Bức tường sắt' nổi tiếng. Giờ đây, các bức tường này có thêm "mái vòm" phía trên. Các nhà sản xuất vũ khí ở Israel đã hình thành hệ thống chống tên lửa gọi là Vòm Sắt (Iron Dome) trên không phận nước này. Họ tuyên bố đây là hệ thống đáng tin cậy và nhanh nhất hiện nay, có khả năng bắn hạ (shoot down) tên lửa chỉ 15 giây sau khi được phóng lên (launch to impact time of 15 seconds). Chương trình trị giá 1 tỉ USD do Mỹ tài trợ đã phục vụ đắc lực cho Israel trong chiến dịch Protective Edge gần đây chống lại lực lượng Hamas ở dải Gaza. Các lực lượng vũ trang Palestine đã bắn (lob) gần 1.000 quả tên lửa về phía Israel nhưng các tên lửa đánh chặn (interceptor) của Vòm Sắt Iron Dome đã bắn hạ 87% số mục tiêu theo số liệu của Israel, giúp đời sống ở các thành phố Israel ít nhiều diễn ra bình thường. Hệ thống chống tên lửa này hoạt động như nào?

Vòm Sắt Iron Dome là bộ phận tầm gần trong hệ thống phòng thủ tên lửa 3 tầng của Israel. Hai tầng còn lại là David's Sling vẫn đang được phát triển nhắm tới các mục tiêu trên bầu khí quyển với phạm vi vươn xa hơn Địa Trung Hải và hệ thống Arrow - được thiết kế để đánh chặn tên lửa đạn đạo tầm xa hơn nữa trong không gian. Khi tên lửa đối phương được phóng ra, radar của Vòm Sắt Iron Dome ngay lập tức lần theo quỹ đạo (trajectory), tính toán điểm va chạm và phóng lên một quả tên lửa khác sẽ khoá mục tiêu trong vài giây và bắn hạ. Mỗi vụ đánh chặn tốn khoảng 60.000 USD nhưng các kiến trúc sư của hệ thống này khẳng định Vòm Sắt Iron Dome giúp Israel tránh được thiệt hại hàng tỉ đôla về cơ sở hạ tầng và kinh tế cũng như thương vong về người.

Hệ thống này đã giải quyết được nhiều vấn đề hóc búa (teething problem). Ban đầu các chiến lược gia quân sự Israel muốn bố trí nó ở các sân bay để đáp trả máy bay địch trong trường hợp cần thiết. Các tướng lĩnh đã phát triển một mạng lưới nhận diện tất cả các hoạt động không lưu 'thân thiện' (friendly airborne traffic) trên toàn quốc giúp đảm bảo Vòm Sắt Iron Dome chỉ nhắm vào các mục tiêu không xác định. Tuy nhiên, vẫn tồn tại các vấn đề khác: ngay cả khi tên lửa bị bắn hạ, các mảnh vụn (shrapnel) nguy hiểm sẽ rơi từ trên trời xuống. ‘Bất cứ cái gì (bay) lên cũng sẽ phải (rơi) xuống’, kiến trúc sư của hệ thống Arrow – Uzi Rubin nói. Vì thế, đường xá và các khu vực nông thôn của Israel vẫn bị đe dọa (remain exposed). Nông dân - thường là dân nhập cư từ Thái Lan sẽ sống trong sợ hãi giữa đồng không mông quạnh (cower among their crops). 200.000 người Bedouin đang sống trong các khu ổ chuột (shanty towns) cũng không có nơi nào để trốn. Những công nhân đang xây dựng hạ tầng cho Israel sẽ chỉ biết nhìn lên trời và cầu nguyện. Ngày 14 tháng Bảy, một quả tên lửa đã làm bị thương nghiêm trọng một bé gái 10 tuổi đang ở trong nhà tại khu ổ chuột Lakiya. Ngay cả trong thành phố, cứ 10 tên lửa bắn ra, xác suất sẽ có một quả lọt qua được lưới bảo vệ.

Một vài người cho rằng vấn đề chính của Vòm Sắt Iron Dome thực ra là chuyện chính trị. Thành công của hệ thống này có nghĩa là Thủ tướng Israel Binyamin Netanyahu có thể sử dụng Vòm Sắt Iron Dome để duy trì chính sách giải quyết xung đột của mình mà không phải lo lắng về sự trả đũa (retaliation) từ phía Palestine. Theo một cựu quan chức cấp cao: ‘Vòm Sắt Iron Dome đã làm thay đổi tính toán của tất cả các cấp trong chính giới (political echelon) Israel mà họ vẫn chưa lường hết được. Hệ thống này giúp Israel không phải chiều theo sức ép từ dân chúng trong nước và về mặt quân sự đòi hỏi phải chấm dứt xung đột một cách nhanh chóng, từ đó có thể tiếp tục ném bom dải Gaza.’ Nó cũng giúp nước này phần nào bất khả xâm phạm (degree of immunity) trước các nước láng giềng trang bị tên lửa như lực lượng vũ trang Hezbollah của người Hồi giáo Shia ở Lebanon hay Syria, khiến cho một thỏa thuận về hòa bình lâu dài trở nên bớt cấp thiết hơn. Dù sao, khi tiếng còi báo động không kích (air-raid siren) vang lên, hầu hết người Israel đều thở phào nhờ có sự bảo vệ của Vòm Sắt Iron Dome.

Đăng Duy
The Economist


"Speak the same language" nghĩa là gì?

Chúng tôi có cùng tiếng nói về lịch sử nước Bỉ*. Photo courtesy Dr Les (Leslie - Leszek).

'Speak the same language' (shared via VOA) có một từ mới là language nghĩa là tiếng nói, ngôn ngữ. Vì thế, speak the same language có nghĩa là nói cùng một ngôn ngữ, tức là hiểu rõ nhau và đồng ý với nhau về nhiều vấn đề.

Ví dụ
Jane and Jack get along very well. They really speak the same language about almost everything.
When we got down to planning where to go on our trip, I was glad we spoke the same language.
Bob and his father didn't speak the same language when it comes to politics.
There's no use setting up a meeting between the environmentalists and the construction company - they just don't speak the same language.

It’s true that people of different religions (tôn giáo) have different views about the world. But on issues like fighting poverty (giảm nghèo), we speak the same language (hiểu nhau và có cùng quan điểm). We all agree that it is a problem that must be solved (giải quyết).

There is a process (quá trình) that’s going on today between the U.S. and Vietnam. Although there are still some problems to be resolved, the two countries have improved bilateral ties (quan hệ song phương), and in many ways they are speaking the same language.


* Among the most moving places to visit in the capital of Belgium, is Martyrs' Square in Brussels, where over 400 heroes of the Belgian Revolution of 1830 lie buried in a crypt beneath the cobblestones. This square is usually known by its French name, La Place des Martyrs, or also by its Dutch name, De Martelaarsplaats. Many of the dead here lie not far from where they were shot, in fierce battles amid the Brussels streets and barricades.

A wonderful monument here honours these heroes who died for the cause of freedom, in the brief 1830-31 revolutionary war that created the Belgian nation.

Particularly extraordinary and moving at the Place des Martyrs - Martelaarsplaats, are four beautiful sculptures of angels, with the angels´ faces in touchingly eternal expressions of mourning for the brave ones who gave their lives for the freedom of others.

Belgium is today a nation with three official languages, reflecting its two large language groups of French and Dutch speakers, along with a small area whose native language is German. The Romans and Julius Caesar were in the neighbourhood over 2000 years ago, and Caesar wrote of fighting some fierce tribes here called the "Belgae", from whom the nation takes its name.

In fact, Julius Caesar referred to the Belgians or 'Belgae', in the very first sentence of his most famous book, 'De Bello Gallico', his commentary on the 'Gallic Wars': « Gallia est omnis divisa in partes tres, quarum unam incolunt Belgae ... » « The whole of Gaul is divided into three parts, in one of which live the Belgians ... »

As the Roman Empire fell apart, the Belgian region was home to the Merovingian kings in the early "dark ages", and then was part of the empire of Charlemagne. Under Charlemagne's grandson Lothair and great-grandson King Lothair II, the area of current Belgium was part of a kingdom of 'Lotharingia' whose name we know today as the French 'Lorraine'. This kingdom rapidly divided among royal heirs, with 'Upper Lorraine' roughly inside what is now France, and Brussels becoming the capital of a 'Duchy of Lower Lorraine' - roughly today's Low Countries - when a castle was built in Brussels' old centre around the year 979.

Borders and regional identity continued to change quickly in the centuries after Charlemagne, the "high middle ages". What was 'Lower Lorraine' gave way to several of the great mediaeval territories and dukedoms spreading across differing sections of what is now Belgium, with names we still hear today: Flanders, Brabant, Luxembourg. And various smaller territories and fiefdoms were also a part here, amid the ever-shifting landscape of mediaeval and feudal Europe.

The middle part of Belgium, including Brussels, was the historic territory of Brabant, and the Dukes of Brabant, about the year 1100, built premises right at what is known today in Brussels as the Royal Square - Place Royale - Kongingsplaats.

Brabant and much of Belgium then came to be part of the great late-mediaeval dukedom of Burgundy, which reached the height of influence in the 1400s with Brussels as the Burgundian capital along with Dijon. At its height, Burgundy was regarded by many as the richest court in all Europe. Today's independent Belgium is thus a remnant of that long-ago much larger Renaissance realm of Burgundy, as well as of the even more ancient kingdom of mediaeval Lotharingia.

The area of today's Belgium kept its leading role in Europe in the early 1500s, as Burgundy in turn was enveloped into the Holy Roman Empire at its height. The towns of Belgium gave birth and upbringing to the Emperor Charles V, who at one point ruled most of Europe from Brussels. So, about 500 years ago, Brussels was already the 'centre' of Europe.

After Charles, his empire began to break apart, and the territory of today's Belgium had a succession of foreign rulers from within Charles V's widely-flung Habsburg family: First the Spanish, who kept hold of the territory we now call Belgium, while the Dutch to the north broke away during the Protestant Reformation. After the 'War of the Spanish Succession', the Habsburg territories were further divided, with Belgium going under Austrian control from 1714 onwards.

It was under the Austrians, in the late 1700s, that elegant buildings began to be built around a large square which was named the Place Saint-Michel, or Saint Michael's Square. This would later become Place des Martyrs - Martelaarsplaats that you see here.

The beginning of the end of Austrian rule, and the beginning of the story of modern independent Belgium, was the 'Brabantine Revolution' (Révolution Brabançonne - Brabantse Revolutie), whereby in 1789 much of what is now Belgium, asserted its full independence from its then-rulers, the Habsburg emperors of Austria.

In sympathy and parallel with the epoch-changing revolution of 1789 in next-door France, the rebellious provinces of 'Austrian Netherlands' also went into rebellion that same year, and declared the deposition of the Austrian Habsburg Emperor, and the creation of the 'United Belgian States' (États-Belgiques-Unis - Verenigde Belgische Staten), which endured only briefly in 1789-1790. The 'Belgian' name came from the Latin word used by Julius Caesar to identify the fierce fighting tribes who inhabited this region in Caesar's day, the 'Belgae'.

In 1789, the seals of the document declaring the 'United Belgian States' to be 'free' and 'independent', were ornamented by silken tassels of black, yellow and red. The flag of the short-lived Belgian nation of 1789-90, then used these three colours, though in horizontal stripes and in a different order than the current vertically-striped Belgian flag.

The Austrians were able to briefly re-assert control of Belgium in 1790, then lost it to French control in 1792, and won it back one final time in 1793-94. The French then retained control, annexing most of what is now Belgium into France in 1795. As the Napoleonic era ended, Belgium was separated from France in 1814-1815.

As Napoléon was being defeated and his Empire terminated, the European nations meeting at the Council of Vienna of 1814-15, thought that the territories north of France, including modern Belgium and Luxembourg, should all be under the Dutch monarch, creating a single large buffer state between France and England.

The European powers meeting in Vienna avoided what might have seemed a more logical idea, of uniting only Dutch-speaking regions with the Netherlands, while letting the French-speaking regions of Wallonia remain united with France. The powers of 1815 did not want to reward France with territorial expansion to the north, precisely in the area around where Napoléon met his final defeat at Waterloo.

But the Vienna plan of shoving the French-speakers of Wallonia into a new Dutch monarchy, and expanding the Dutch nation and doubling its size, proved to be very unstable. The Dutch of the Netherlands were predominantly Protestant, while the southern populations, including the Dutch-speakers of Flanders, were predominantly Roman Catholic. And not only did the Catholic territories have large numbers of French speakers, the people in Flanders also speak a modestly different Dutch than in the Netherlands, which led them to chafe against the Dutch monarchy in sympathy with their French-speaking neighbours.

Tensions grew until an August, 1830 performance at the Brussels opera house, where political rebellion portrayed on the stage, became a catalyst for rebellion in the streets.

In September of 1830 the street rebellions became a full-blown revolution for Belgian independence. The Place Saint-Michel, Saint Michael's Square, a few hundred metres from the opera house where the fuse for revolution had been lit, became a key site for the declaration of Belgian liberty and independence, and a pivotal site in the fierce and deadly street battles. The central days of the revolution in September 1830 - the 23rd, 24th, 25th and 26th - are the dates inscribed upon the tablet held by the high figure in the monument that you see in the photos, representing the angel or goddess of the Belgian home nation (Latin 'patria'), with a lion by her side.

In 1830, with the hundreds of dead from the revolutionary battles, the decision was made to bury them there at the square, which now became the Square of the Martyrs of Freedom.

The revolution was quickly successful. Some battles continued to take place into 1831, as the Dutch made a last try to hold onto the Belgian territory, but the separation of Belgium and Luxembourg was speedily recognised and secured by the other European powers.

The Revolution of 1830 enabled Belgium to finally fulfil the dreams of the Belgian revolutionaries of 1789. The current Belgian tri-colour flag was established in 1831, using the 1789 colours of the 'Brabantine Revolution'. Belgium became a nation and even acquired a king of its own, the Protestant German Leopold of Saxe-Coburg, who agreed to marry the Catholic daughter of the French monarch, and raise their children as French-speaking Roman Catholics, while he became the first hereditary King of the Belgians.

And today, the political refugee Dr Les (Leslie) Sachs, may owe the saving of his life in the face of the threats to murder him, to protection extended from the royal household of the King of the Belgians, the descendant of that first Belgian monarch.

Léopold I, who was born in 1790, reigned in Belgium until 1865. Early in his reign, he supervised the building of this monument at Martyrs' Square. In one of the photos of the angels by the monument, you see between two angels the large plaque with the text in Latin. Two dates are given. The first is that of the declaration of the nation's identity, on the 25th of September 1830, a date closely tied to the death of the martyrs buried in the crypt below. The second date, the 25th of September 1840, is the date of the completion and dedication of the main part of the monument, with the final line noting that this took place under Léopold I as the reigning monarch.

Though the main monument structure was indeed completed and dedicated in 1840, the lovely and magnificent angels were added some years later, in 1848. Today, it is these sculptured angels which, above all, give Martyrs' Square its high character of deep emotion and magnificence.

The buildings around the square have, over the centuries, partially fallen into a difficult state, and you see one of the buildings undergoing inside-out comprehensive renovation in the photos. The overall revival and restoration of Martyrs' Square has been given a major boost, however, by the government of Belgium's majority Flemish-speaking region.

Belgium today is about 60 per cent Dutch-speaking, with most of the remainder French-speakers along with a few native German-speakers. Brussels itself is officially bi-lingual, and historically was predominantly a Dutch-speaking city through the centuries, from the mediaeval and Renaissance era down to early modern times. However, this changed in the 1800s, and Brussels today is at least 70 per cent French-speaking, with many of the rest of Brussels residents foreign-born rather than Dutch-speaking.

Yet, in one of the many curious paradoxes of Belgium's governmental arrangements, the predominantly French-speaking Brussels remains the 'capital' of the Dutch-speaking region of Flanders, while the French language community of Belgium has its capital in the provincial city of Namur.

Thus today, the Martelaarsplaats - Place des Martyrs, is the site of major national offices of Dutch-speaking Flanders. The Flemish government holds the two major buildings facing each other across the longer distance of the square, and the one you see in the photos in close-up with the three flags over the doorway (the EU flag, the Belgian flag, and the predominantly yellow Flemish flag) is actually the 'Kabinet van de Minister-President' of the 'Vlaamse Regering', or the 'Office of the Minister-President' (Prime Minister) of the Flemish government.

In front of the office of the Flemish Prime Minister, is a monument built in 1897 and dedicated to one of the particular martyrs of the Revolution, Jenneval. 'Jenneval' was the stage name of Louis Alexandre Hippolyte Dechez, as 'Jenneval' a well-known actor, who died from wounds in battle in October 1830. But some weeks before his death, Jenneval penned some of the original words to the Belgian national anthem, the Brabançonne. This monument to Jenneval was dedicated in 1897, on September 25th, precisely amid the 67th anniversary of the 1830 Belgian revolution for independence.

Công thức chiến thắng của giáo dục vì lợi nhuận ở Brazil

shared from fb Giang Le.

Massive Open Online Courses (MOOC) đã được The Economist nhắc đến vài lần. Số báo vừa rồi cũng có một loạt bài về MOOC và giáo dục đại học nói chung. Nhưng bài quan trọng nhất (link here) không phải về MOOC mà là về sự thành công của hệ thống đại học tư vì lợi nhuận của Brazil. Bài này đáng để tất cả những ai đang làm về giáo dục đại học ở Việt Nam nghiền ngẫm, kể cả các bạn đang chuẩn bị cho sự ra đời của Đại học Fulbright phi lợi nhuận.

Xin trích dẫn vài con số từ bài báo: 3/4 thị phần giáo dục đại học của Brazil nằm trong tay của các trường tư vì lợi nhuận, công ty kinh doanh đại học tư lớn nhất Brazil có market capitalization khoảng 8 tỷ USD, số lượng sinh viên của một trong các trường đại học tư là 150.000 sinh viên học ở 500 trung tâm trên toàn quốc, học phí ở các trường tư không đắt và đang giảm trong khi chất lượng tăng rất nhanh.

"A winning recipe" của các trường tư Brazil là gì? Để biết bí quyết này của họ phải hiểu cái dilemma của giáo dục đại học truyền thống:

"Quality [in education] is easy. And so is quantity. What’s difficult is combining the two.”

Nghĩa là xây dựng một chương trình/đội ngũ đào tạo đại học có chất lượng thì dễ, tuyển một lượng sinh viên lớn để có lợi nhuận và giảm học phí cũng dễ, nhưng đảm bảo cả hai điều này một lúc rất khó.

Các trường tư ở Brazil đã làm được bằng cách ứng dụng hình thức giáo dục trực tuyến như MOOC nhưng có một cải tiến quan trọng. Đó là các buổi nghe giảng lecture online có moderator, là những người không nhất thiết là giáo sư rất giỏi nhưng đủ khả năng giải thích và giúp đỡ sinh viên khi họ nghe các bài giảng online. Bên cạnh bài giảng online sinh viên còn phải tham gia các buổi seminar tại chỗ thảo luận kiến thức học được từ lecture.

Như vậy các trường tư Brazil tránh được điểm yếu của MOOC là không kiểm soát được chất lượng học/hiểu của sinh viên nhưng vẫn tận dụng được ưu điểm của hình thức đào tạo này là chỉ cần một đội ngũ giáo sư nhỏ có thể giảng cho hàng chục ngàn sinh viên cùng lúc. Yếu tố cuối cùng giúp các trường thành công là một vài chính sách của chính phủ Brazil khuyến khích và kiểm soát chất lượng đầu ra từ các trường đại học (chứ không phải đầu vào như Việt Nam).

Nếu Fulbright University sắp tới cũng áp dụng được mô hình này, sử dụng online lecture do các giáo sư giỏi của Harvard (và các nơi khác trên thế giới) trong khi vẫn có một đội ngũ moderator tại chỗ giúp sinh viên thì vấn đề chất lượng và chi phí sẽ không còn quá khó khăn. Điều quan trọng là trường phải được quyền soạn chương trình đào tạo độc lập không cần Bộ Giáo dục và Đào tạo duyệt. Chỉ tiêu đào tạo và tuyển sinh cũng vậy, trường phải được tự do hoàn toàn nếu có mơ ước lúc nào đó sẽ có 150.000 sinh viên như ở Brazil.

Chặt thang lấy củi nhóm lò...

shared via fb Nguyễn Cảnh Bình.

Tình cờ tôi thấy bức tranh này trên mạng thấy hay nên gửi lại đây cho mọi người xem.

Đâu đó chúng ta, hoặc phần nhiều, và có lẽ chính bản thân tôi cũng đang chặt thang để lấy củi nhóm lò như thế mà không biết.

Nhưng cứ chặt đã rồi tính...

Kỉ vật của chồng

Photo courtesy Steve Baker.
Một bà gặp người quen:
- Ô, chị đeo hộp gì ở dây chuyền vậy?
- Tóc. Kỉ vật của chồng tôi đấy.
- Nhưng chồng chị vẫn sống kia mà?
- Phải. Nhưng tóc thì chẳng còn sợi nào :)))

Cùng 'sống chậm' khi ngắm hoa nở



After 9 months and 50,000 shots (only using 5.000 for the final video), David de los Santos Gil has completed his first flower timelapse and it is breathtaking. Flowers in this video include: Lillium, hibiscus, carnations, orchids, dandelions, lilies, daisies, alstroemeria, peonies and nigella damask.

Music is Point of no return by Roger Subirana.

Máy bay chao lượn trên bầu trời châu Âu

24h time lapse of air traffic over Europe sky..., hat tip to Mc Bean.