Journey in Life: 08/02/14

Saturday, August 2, 2014

Hợp pháp hóa sòng bạc ở Nhật Bản: Tỉ lệ đảo lộn

Pachinko neon. Photo courtesy Chelsea Marie Hicks.

Ông trùm (magnate) kinh doanh sòng bạc người Mỹ Sheldon Adelson có lẽ đang dần mất kiên nhẫn với chính quyền của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, hay ít nhất là tin đồn như vậy. Tại Đại hội Trò chơi Nhật Bản bế mạc ngày 16 tháng Năm, các nhà kinh doanh trò chơi quốc tế đã hi vọng sẽ được ăn mừng tin Nhật Bản lần đầu tiên hợp pháp hóa sòng bạc – mở cánh cửa dẫn tới hầu bao đầy ắp của dân chơi (punter and high-roller) giàu có Nhật Bản và khắp châu Á. Dự luật nhằm thực hiện thay đổi mang tính lịch sử này lầu đầu được trình lên Nghị viện tháng Mười Hai năm 2013. Nhưng giờ đây tỉ lệ dự luật này được thông qua đã giảm xuống còn 50 – 50 như ông Sakihito Ozawa, một chính khách ủng hộ cờ bạc, thừa nhận tại Hội nghị.

Không chỉ ông trùm Adelson với lời hứa bỏ ra 10 tỉ USD xây dựng một khu resort ở Nhật Bản mà các nhà đầu tư nước ngoài khác từ Phố Wall tới Frankfurt đều đang theo dõi liệu Thủ tướng Abe và đảng Dân chủ Tự do của ông có đặt toàn bộ vốn liếng chính trị vào nỗ lực hợp pháp hóa sòng bạc hay không. Thời gian không còn nhiều vì phiên họp lưỡng viện (Diet session) sẽ kết thúc vào tháng Sáu và các tranh luận thực sự về dự luật vẫn chưa bắt đầu. Giống như việc cắt giảm thuế suất cao của thuế thu nhập doanh nghiệp, thay đổi này được xem là một cải cách quan trọng với Nhật Bản. Các nhà vận động hành lang cho rằng, kết quả của thay đổi này có thể mang lại một con gà đẻ trứng vàng (money-spinner) còn vượt xa Las Vegas, thúc đẩy du lịch tăng trưởng và thu về nguồn tiền thuế rất cần thiết cho chính phủ đang ngập trong nợ nần (debt-laden). Nhật Bản còn có một lý do hoàn hảo để xây dựng các ‘khu resort tích hợp’ (integrated resorts): Thế vận hội Tokyo 2020.

Tuy nhiên, những lo ngại vốn có về tệ nạn cờ bạc và khả năng dính líu tới tội phạm có tổ chức khiến hợp pháp hóa sòng bạc là một sự tái cơ cấu phức tạp hơn nhiều so với các cải cách khác mà những nhà đầu tư yêu cầu. Đối tác trong liên minh của ông Abe – đảng Công Minh (New Komeito) thu hút sự ủng hộ từ môn phái Phật giáo tục gia (Buddhist lay sect) Soka Gakkai vốn không có cái nhìn thiện cảm với cờ bạc. Các tổ chức luật sư và nhân viên xã hội cũng đang phản ứng dữ dội (up in arms) với viễn cảnh thay đổi này. Thủ tướng Abe có thể là Chủ tịch Nhóm công tác của Quốc hội về hợp pháp hóa cờ bạc nhưng ông cũng là một nhà xã hội bảo thủ; người muốn có các du khách bị thu hút bởi Trà đạo Kyoto hơn là những người bị lôi kéo (lured by) bởi các bàn poker.

Trong khi đó, cờ bạc đang phát triển mạnh ở Nhật Bản. Những sòng bạc ‘chui’ núp bóng quán massage hay hộp đêm và thường được ‘bảo kê’ (overseen) bởi các tay anh chị yakuza (mafia Nhật). Một loại hình phổ biến là máy đánh bạc pachinko, lách luật (evade) nhờ trao các “giải thưởng đặc biệt” sau đó có thể đổi ra tiền thật ở những kiosk tách biệt khỏi cửa hàng có máy pachinko. Nhà nước quản lý việc cá cược đua ngựa, đua xe đạp, thuyền máy và xổ số kiến thiết quốc gia. Dễ dàng đoán được lực lượng phản đối mạnh mẽ nhất việc xây dựng các sòng bạc nước ngoài được cấp phép chính thức (officially-sanctioned) chính là các công ty địa phương đang điều hành tất cả những hoạt động này. Sẽ là rất dũng cảm nếu Thủ tướng Abe và đảng Dân chủ Tự do mở cửa thị trường và tạo thêm cạnh tranh. Các công ty địa phương đang hoạt động trong ngành này có thể sẽ khó khuất phục hơn bất kì nhóm lợi ích (vested-interrest groups) nào mà ông Abe từng đối mặt.

Đăng Duy
The Economist

Vì sao vi lượng đồng căn liệu pháp không đáng tin?

A bizarre "warning" sign about homeopathy beside a highway on Antigua. Photo courtesy David Stanley.

Vào bất kỳ hiệu thuốc nào, nhiều khả năng bạn sẽ thấy chúng: những gói chứa các loại vi lượng đồng căn với khẳng định chữa lành bất kỳ điều gì đang làm bạn khổ sở, từ ho và cảm sốt cho tới mất ngủ (insomnia) hay hen suyễn (asthma). Tuy nhiên, nếu lật gói thuốc lên xem, có lẽ bạn sẽ cảm thấy mơ hồ trước các thành phần thuốc được liệt kê. Một số liệu pháp khẳng định có chứa ong nghiền, cây tầm ma (stinging nettle) và thậm chí cả thạch tín (arsenic) và cả các loại đường như lactose và sucrose. Người Mỹ chi tới 3 tỉ USD mỗi năm cho dược liệu vi lượng đồng căn. Họ đang nghĩ cái quái gì vậy?

Lịch sử của vi lượng đồng căn liệu pháp – nghĩa đen là ‘sự đau đớn tương tự’ (ghép từ tiếng Hy Lạp: homoios là 'tương tự' và hypos là 'sự đau đớn’) – bắt nguồn từ cuối thế kỉ 18. Bác sĩ người Đức Samuel Hahnemann có lý do hoàn toàn chính đáng khi không mấy ấn tượng với nền y học đương thời. Các bác sĩ dùng đỉa (leeche) để rút máu và thạch cao nóng (hot plaster) để làm giộp da (blister) rồi chích cho khô. Năm 1790, bác sĩ Hahnemann mắc phải một cơn sốt và nó đã thay đổi sự nghiệp của ông. Sau khi nuốt bột vỏ cây (bark) canh-ki-na (cinchona), ông thấy thân nhiệt tăng lên. Vỏ cây canh-ki-na có chứa ký ninh (quinine), vốn đã được biết là phương thuốc chữa sốt rét (malaria). Hahnemann suy ngẫm: canh-ki-na có lẽ làm ông bị sốt; sốt lại là triệu chứng của sốt rét; và canh-ki-na thì lại chữa sốt rét. Từ suy luận “tài tình” này, ông đã có một bước nhảy vọt về logic khá ‘ảo diệu’: các loại thuốc gây ra những triệu chứng ở người bình thường tương tự như triệu chứng bệnh cần chữa ở người ốm. Tìm được chất gây ra dấu hiệu bệnh và chất này có lẽ sẽ chữa bệnh đó ở người đã mắc sẵn.

Hahnemann sau đó kết luận rằng các thành phần cần được pha loãng và lắc nhiều lần* trong một quá trình để làm ‘tăng hiệu quả’ (potentiation). Ông tin rằng lượng thành phần hoạt tính (active ingredient) càng nhỏ, thuốc càng hiệu nghiệm (potent). Liệu pháp vi lượng đồng căn sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để thể hiện công hiệu giả định. Một ký hiệu (designation) phổ biến là ‘NC’, ở đó C có nghĩa là một chất được pha loãng với tỉ lệ 1:100 và N là số lần chất được pha loãng. Vì thế một dung dịch 200C tức là một gram chất này được hòa với 100 gram nước và quá trình này lặp lại 200 lần. Ở mức độ pha loãng này, dung dịch mới sẽ không có một chút phân tử nào của chất ban đầu. Hầu hết các viên thuốc vi lượng đồng căn được làm hoàn toàn từ đường. Tuy nhiên chúng được coi là vẫn còn “ký ức” của chất ban đầu.

Điều này thật nhảm nhí. Viện Y tế Quốc gia Mỹ (America’s National Institutes of Health - NIH), nhà tài trợ nghiên cứu y học lớn nhất thế giới, chỉ ra rằng nghiên cứu vi lượng đồng căn rất khó khăn bởi khó mà kiểm tra được tác dụng của một loại thuốc mà có rất ít hoặc không có thành phần hoạt tính. Các nhà nghiên cứu không thể khẳng định được thuốc đó có chứa thành phần như khẳng định mà cũng chẳng thể chỉ ra tác dụng hóa học của thứ thuốc pha loãng ấy với cơ thể. Đánh giá toàn diện nhất về vi lượng đồng căn liệu pháp được xuất bản năm 2005 trên tạp chí y khoa Lancet. Các nhà nghiên cứu so sánh các trường hợp sử dụng vi lượng đồng căn với thuốc thông thường. Trong những thử nghiệm lớn hơn và được thiết kế tốt, họ chỉ ra ‘không có bằng chứng thuyết phục nào’ rằng vi lượng đồng căn hiệu quả hơn giả dược. Trong khi đó ở các thử nghiệm tương tự, thuốc thông thường cho thấy tác dụng lâm sàng cụ thể. Viện Y tế Quốc gia Mỹ tuyên bố thẳng thừng (dryly): ‘Một số ý tưởng then chốt của vi lượng đồng căn mâu thuẫn hoàn toàn với các khái niệm căn bản của hóa học và vật lý’.

Đăng Duy
The Economist

* Các thuốc của vi lượng đồng căn được điều chế bằng cách pha loãng dần dần các chất trên một máy đàn hồi lắc mạnh, gọi là succussion (máy dao động).