Journey in Life: 09/16/14

Tuesday, September 16, 2014

Hình thành một quốc gia độc lập như nào?

Scotland, the fabulous medieval castle Eilean Donan in the north west...it is still inhabitated and it is situated along the road to the Isle of Skye, close to Kyle of Lochalsh. Photo courtesy Moyan Brenn.

Tương lai của Scotland: nằm trong hay ngoài Vương quốc Anh sẽ được quyết định ngày 18 tháng Chín tới và kết quả được dự đoán sẽ rất sít sao. Trong tuần qua, các cuộc thăm dò dư luận (opinion poll) cho thấy khoảng cách rất nhỏ, một số còn (lần đầu tiên) nghiêng về phía ủng hộ độc lập (“Yes” vote). Nếu cuộc trưng cầu dân ý (referendum) thành công, Scotland sẽ trở thành quốc gia độc lập từ 24 tháng Ba năm 2016, ngày quốc khánh thứ 309 của Liên hiệp Anh. Nhưng bộ mặt của một nước Scotland độc lập vẫn chưa rõ ràng. Nguồn thu (revenue) từ trữ lượng dầu mỏ là chìa khóa trong kế hoạch tài chính của Đảng Quốc gia Scotland (Scottish National Party), nhưng một số chuyên gia cho rằng những dự tính (projection) này quá lạc quan. Còn rất nhiều điều phải thương lượng với phần còn lại của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: nợ công, dầu và chia sẻ gánh nặng (carve-up) khí tài quân sự. Đồng tiền sử dụng là vấn đề gây tranh cãi nhất. Đảng Quốc gia tuyên bố họ sẽ tiếp tục dùng đồng bảng, nhưng Quốc hội ở London kiên quyết khẳng định kế hoạch này sẽ thất bại ngay từ phút đầu (non-starter). Các phương án thay thế cũng không hề dễ chịu (unpalatable) chút nào: đồng euro, đồng bảng Scotland mới hoặc đơn phương sử dụng (unilateral adoption) đồng bảng Anh. Cả 3 lựa chọn đều khó khăn và có thể hủy hoại ngành tài chính của Edinburgh. Lá phiếu thuận vì thế sẽ chỉ là khởi đầu của một quá trình lập quốc rối ren. Điều gì sẽ tới sau đó?

Điều đầu tiên một quốc gia cần là người lãnh đạo. Đảng Quốc gia cam kết vẫn xem Nữ hoàng là người đứng đầu Scotland nhưng một Thống đốc (governor –general) có thể được bổ nhiệm để đại diện Nữ hoàng như ở Úc và Canada. Kể cả nếu Scotland muốn xóa bỏ (ditch) chế độ quân chủ (monarchy) để theo thể chế cộng hòa, nước này vẫn là thành viên của khối Thịnh vượng chung (Commonwealth) như Ấn Độ và Nam Phi đã làm. Quốc tịch sẽ được cấp rộng rãi. Mọi người dân Scotland sẽ được chọn tiếp tục giữ quốc tịch Vương quốc Liên hiệp Anh hay song tịch (dual nationality) và bất cứ ai cư trú, sinh ra hay thuộc dòng dõi ở Scotland sẽ được cấp hộ chiếu nước này. Điều này sẽ hạn chế xáo trộn (disruption) thị trường lao động và cho phép người dân tiếp tục sống và làm việc tại địa phương (jurisdiction).

Ở một số lĩnh vực, việc chia tách tương đối dễ xử lý. Scotland đã có lực lượng cảnh sát, quốc hội và hệ thống y tế riêng. Trở thành thành viên Liên hiệp Quốc là bước thiết yếu để quốc gia mới có mã vùng điện thoại quốc tế, tên miền internet (có thể là .scot vì tất cả các tên miền 2 chữ cái liên quan đã có nơi sở hữu) và mã bưu chính. Nhưng hầu hết các cơ quan nhà nước sẽ phải xây dựng từ con số không như ngoại giao đoàn (diplomatic corps) hoặc buộc phải tách khỏi phần còn lại của Vương quốc Liên hiệp Anh. Vấn đề các dịch vụ công sẽ rất khó tháo gỡ (untwine). Các mạng lưới điện và khí đốt liên kết nội bộ (intrinsically) chặt chẽ với nhau và cần được phối hợp quản lý. Tương lai ngành bưu chính cũng không chắc chắn. Dịch vụ phổ cập của Bưu chính Hoàng gia quy định dịch vụ giá rẻ hàng ngày được cung cấp chỉ trong phạm vi Vương quốc Anh, vì thế Scotland mới độc lập nhiều khả năng sẽ nằm ngoài diện được phục vụ. Xây dựng một hệ thống bưu chính quốc gia cho Scotland sẽ rất đắt đỏ và giá cả gần như chắc chắn bị đội lên do không còn chế độ bù giá chéo (cross-subsidy) của Anh cho những cao nguyên thưa dân (sparsely populated) ở Scotland. Tình báo Scotland có lẽ cũng sẽ bị loại khỏi liên minh chia sẻ thông tin tình báo ‘Five Eyes’.

Những người ủng hộ liên hiệp Anh, Scotland, Wales và Bắc Ireland (tòa soạn The Economist cũng nằm trong số này) hi vọng những nan giải của việc xây dựng một quốc gia mới, nhất là vấn đề đồng tiền sử dụng sẽ làm giảm (temper) mong muốn độc lập khi ngày bầu cử tới gần, nhưng những lý lẽ thực tiễn như trên có vẻ không mấy sức nặng, cho thấy chiến dịch ‘Better Together’ (Cùng nhau vẫn hơn) đã kém cỏi ra sao. Tinh thần dân tộc chủ nghĩa có ảnh hưởng chính trị lớn hơn nhiều so với các vấn đề "vụn vặt" như dịch vụ công nhưng sự thiếu vắng những thứ nhỏ bé này sẽ hiển hiện từng ngày từng giờ hàng chục năm sau khi các bài phát biểu hào sảng (rousing) kết thúc.

Đăng Duy
The Economist

"Be in cahoots with" nghĩa là gì?

Rhythmic Gymnastics - Wembley Arena. Photo courtesy Rob Schofield.

'Be in cahoots with' có từ cahoots, xuất xứ từ tiếng Pháp cahute là cái lều hay cái phòng nhỏ. 'Be in cahoots with' có nghĩa là cùng ở với nhau trong một cái lều nhỏ, tức là móc ngoặc hay cấu kết với ai. Thường thường thành ngữ này có nghĩa xấu, nhưng đôi khi nó cũng được dùng để chỉ một sự hợp tác kín đáo với nhau.

Ví dụ
Together they connive (đồng lõa) in cahoots and scheme to create the world's worst musical, a guaranteed catastrophic dog of a show.
With their regular penchant for not only making political mischief, they now appear to be in cahoots together by dispatching letters which do not appear to make any rational sense.

What a surprise (hết sức ngạc nhiên) when I arrived at the restaurant (tiệm ăn) and all my friends and family were there to celebrate (ăn mừng) my 30th birthday! Apparently they had all been in cahoots for weeks, working together on this event (buổi tiệc) without my ever suspecting (nghi ngờ).

Spectators (khán giả) couldn’t understand why one gymnast (vận động viên thể dục) kept getting the highest scores. It turns out his coach (huấn luyện viên) and the judges (giám khảo) were in cahoots (cấu kết). As a result of their conspiracy (thông đồng), they were all disqualified!

Huyền Trang
VOA

Ba vòng xoáy lên của John Adams

shared via Dainamax Tribune

Một nhân vật Hoa Kỳ đã có lời phát biểu đáng suy ngẫm:

"Tôi phải nghiên cứu chính trị và chiến tranh, để các con tôi có thể được tự do học hỏi toán pháp và triết học, địa dư và lịch sử thiên nhiên, kiến trúc hải thuyền và kỹ thuật hải vận, thương mại và canh nông - ngỏ hầu đời con của chúng có cái quyền được nghiên cứu hội họa, thơ văn, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, thêu dệt và nghệ thuật đồ sứ".

Sinh vào năm 1735 và mất năm 1826, John Adams không chỉ nghiên cứu về chính trị. Ông là nhà lãnh đạo thuộc lớp "Quốc Phụ" và là Tổng thống thứ nhì của Mỹ. Lời phát biểu đáng chú ý ở vài chi tiết, có và không:

Về chuyện "có", hai lần John Adams nhắc đến "kiến trúc".

Thế hệ của ông là những người đi làm cách mạng để giành độc lập nên phải học hỏi và vận dụng cả chính trị lẫn quân sự. Nhờ vậy mà thế hệ nối tiếp, trong đó có con trai ông là John Quincy Adams sau này cũng làm Tổng thống Hoa Kỳ, được quyền tự do học hỏi về kiến trúc hải thuyền (naval architecture). Đấy là một bộ môn kết hợp cả chiến tranh cho hải quân, lẫn khoa đóng tầu và thương mại hàng hải. Mục tiêu là để tới đời thứ ba, các con cháu mới được quyền nghiên cứu về kiến trúc, một ngành học rất gần với nghệ thuật. Họ kiến trúc cho kiến trúc, đó là sáng tạo....

Điều "có" trong lời phát biểu này là trình tự thăng tiến của quyền tự do.

Thế hệ đầu tiên đi vào đấu tranh là để giành được quyền học hỏi cho thế hệ nối tiếp. Việc học hỏi ấy mở từ quân sự để bảo vệ an ninh qua hàng hải để phục vụ đời sống, hầu thế hệ thứ ba có thể tự do nghiên cứu về kiến trúc hay thi ca, hội họa hay thêu thùa... Quyền sáng tạo khởi đi từ tự do, và xứ sở chỉ có tự do khi giải quyết được bài toán ban đầu.

Then chốt nhất là bài toán chính trị...

Mẹ là người tuyệt vời nhất

Photo courtesy Harsha K R.

Officer at the driving license counter asked the lady: "What is your occupation?"

The woman, seeking a renewal of her license seemed to be puzzled.
so the officer said "Ma'am, are you employed, have your own business or..."

"Oh yes!' The woman replied, "I do have a full time occupation. I am a mother!"

The officer rolled his eyes: "We don't have 'mother' as an option for occupation. I'll write it down as 'housewife'. That takes care of all questions."

This had happened long ago, and was forgotten. Years later, when I (the woman in the story, if you hadn't guessed) went to get my license,the public relations officer was a somewhat pompous woman.

"Your occupation?" she asked in a rather authoritative tone.

I just had a moment pf inspiration and replied "I am a researcher in the field of child development, nutrition and inter-personal relationships."

The lady officer stared at me in amazement.

I calmly repeated my statement and she wrote it down verbatim. Then, unableto conceal her curiosity, she politely asked "What exactly do you do in your profession, ma'am?"

I was feeling good about having described my occupation so calmly and confidently. so I replied "My research projects have been going on for a number of years (mothers NEVER retire).

My research is conducted in the laboratory as well as in the field.
I have two bosses (one is god and the other is my entire family).
I have received two honors in this field. (a son and a daughter)
My topic is considered to be the most difficult part of sociology.
(all moms will agree).

I have to work more than 14 hours every day. Sometimes even 24 hours are not enough and the challenges are tougher than many other professions. My compensation is in terms of mental satisfaction rather than money."

I could see that the officer was thoroughly impressed. After completing the licensing formalities, she came to the door to see me off.

This new viewpoint about my occupation made me feel much better on my way back home.

I was welcomed by my 5 year old research assistant at the door. My new project (my 6 month old baby) was energetically practicing her 'music'.

I had earned a small victory over the governmental red tape today. I was no longer merely 'a mother ', instead i was now a highly placed functionary in a service vital for mankind - motherhood!

'Mother ' - isn't it a great title? Fit to be added to the nameplate on the door?

By this standard, grandmothers deserve to be called senior research officers, and great grandmothers qualify as 'research directors '. Aunts and other ladies of that age group can be called 'research facilitators'!