Journey in Life: 03/11/15

Wednesday, March 11, 2015

Tàu nhanh với Daruma - 118 Giảng Võ

Photo credit: muachung.vn.


Điện thoại: 04 3512 3913

Tự sướng ngày Xuân Ất Mùi - 2015
Quán The Moose & Roo Pub & Grill - 42 Mã Mây

Hàng ngàn phụ nữ xuống đường biểu tình ở Iceland


đòi quyền bình đẳng, 90% phụ nữ bỏ việc, ra khỏi nhà, làm tê liệt cả nước, đó là vào ngày 24/10/1975; ngày hôm sau, quốc hội thông qua luật lương bổng bình đẳng, 5 năm sau, Iceland có nữ tổng thống đầu tiên; ngày nay, Iceland là nước có bình đẳng nam nữ cao nhất thế giới.

Bài trước: Niên lịch các âm mưu lật đổ chính phủ nước ngoài của Mỹ

Notice your chains

Photo: hat tip to Võ Tiến Cường.
-----

Previous post: Nothing to do?

Nothing to do?

Carnival in Venice. Photo courtesy Stefan Insam.

Millions long for immortality who don't know what to do with themselves on a rainy Sunday afternoon.
~ Susan Ertz

Previous post: The world is hell

Hãy mỉm cười


Waking up this morning, I smile. Twenty four brand new hours are before me. I vow to live fully in each moment and to look at all beings with eyes of compassion.
~ Thich Nhat Hanh

Previous post: Listen to your spirit

'Nới lỏng định lượng' là gì?

Photo courtesy epSos .de.

Ngày hôm nay, Ngân hàng Trung ương châu Âu ra mắt chính sách nới lỏng định lượng (quantitative easing - QE) được chờ đợi từ lâu, đó là bổ sung thêm nhiều khoản nợ công vào trong danh sách mua sắm (từ trước đến nay đã mua nợ tư nhân). Số lượng mua vào hàng tháng sẽ tăng từ khoảng 13 tỷ euro (14 tỉ usd) đến 60 tỷ euro cho tới ít nhất là tháng 9 năm 2016. Ngân hàng Trung ương châu Âu chỉ là ngân hàng trung ương mới nhất gia nhập đội ngũ (jump on board the QE bandwagon) sử dụng biện pháp (nới lỏng định lượng) này. Hầu hết các ngân hàng trung ương ở các nước giàu bắt đầu in tiền để mua tài sản trong thời kỳ Tổng Suy trầm, và một số ít, như Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, vẫn còn đang áp dụng. Nhưng chính xác nới lỏng định lượng là gì, và nó được dự định sẽ hoạt động như nào?

Các ngân hàng trung ương có trách nhiệm giữ lạm phát trong tầm kiểm soát (keep inflation in check). Trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-09, họ quản lý điều đó bằng cách điều chỉnh lãi suất mà các ngân hàng vay qua đêm. Nếu các doanh nghiệp cảm thấy lo lắng về tương lai và thu hẹp quy mô đầu tư, các ngân hàng trung ương sẽ giảm lãi suất qua đêm. Điều đó sẽ làm giảm chi phí huy động của các ngân hàng và khuyến khích họ cho vay nhiều hơn, giữ cho nền kinh tế không rơi vào suy thoái. Ngược lại, nếu tín dụng và chi tiêu dần vượt khỏi tầm kiểm soát (out of hand) và lạm phát đang gia tăng, các ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất. Khi khủng hoảng xảy ra, các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Anh cắt giảm lãi suất qua đêm của họ để thúc đẩy nền kinh tế. Nhưng kể cả cắt giảm lãi suất xa tới mức, gần như bằng không, vẫn không châm ngòi (spark) phục hồi. Do đó các ngân hàng trung ương bắt đầu thử nghiệm những công cụ khác để khuyến khích các ngân hàng bơm tiền vào nền kinh tế. Một trong số đó là nới lỏng định lượng.

Để thực hiện nới lỏng định lượng, các ngân hàng trung ương tạo ra tiền bằng cách mua vào chứng khoán, chẳng hạn như trái phiếu chính phủ, từ các ngân hàng, bằng tiền mặt điện tử mà trước đây không có. Lượng tiền mới làm tăng (swell) quy mô của dự trữ ngân hàng trong nền kinh tế bằng số lượng tài sản được mua - vì thế có tên nới lỏng "định lượng". Giống như giảm lãi suất, nới lỏng định lượng nhằm kích thích nền kinh tế bằng cách khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn. Ý tưởng là các ngân hàng có tiền mới và mua tài sản để thay thế cho những tài khoản mà họ đã bán cho các ngân hàng trung ương. Điều này sẽ làm tăng giá chứng khoán và giảm lãi suất, từ đó làm tăng đầu tư. Hôm nay, lãi suất trên tất cả mọi giấy tờ từ trái phiếu chính phủ đến các khoản thế chấp cho tới nợ công ty đều có lẽ thấp hơn so với nếu không có nới lỏng định lượng. Nếu nới lỏng định lượng thuyết phục các thị trường rằng ngân hàng trung ương nghiêm túc về cuộc chiến chống giảm phát hay tỷ lệ thất nghiệp cao, thì nó cũng có thể thúc đẩy hoạt động kinh tế thông qua việc tăng niềm tin (của nhà đầu tư/người tiêu dùng...). Nhiều vòng nới lỏng định lượng ở nước Mỹ đã tăng quy mô bảng cân đối của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - giá trị các tài sản nó nắm giữ - từ ít hơn 1 ngàn tỷ usd năm 2007 lên tới hơn 4 ngàn tỷ usd ở thời điểm hiện tại.

Tuy nhiên, vẫn có những hoài nghi (the jury is still out on) về nới lỏng định lượng. Các nghiên cứu cho thấy nó thực sự có tăng các hoạt động kinh tế một chút. Nhưng một số người lo ngại rằng "cơn thác lũ" tiền mặt đã khuyến khích những hành vi tài chính thiếu thận trọng và hướng "vòi rồng" phun số tiền này sang các nền kinh tế đang nổi mà không thể quản lý số tiền đó. Những người khác lo sợ rằng khi ngân hàng trung ương bán tài sản mà họ đã tích lũy, lãi suất sẽ tăng lên và vì thế bóp nghẹt (chock off) sự phục hồi (kinh tế). Mùa xuân năm ngoái, khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ lần đầu tiên đưa ra bàn (moot) ý tưởng "vuốt nhọn" (tapering: giảm dần số lượng (tài sản mua vào)), lãi suất trên toàn thế giới đã tăng và các thị trường loạng choạng. Và, những người khác cũng nghi ngờ rằng các ngân hàng trung ương có khả năng giữ lạm phát trong tầm kiểm soát nếu số tiền họ đã tạo ra bắt đầu lưu hành nhanh chóng hơn. Các ngân hàng trung ương đã thận trọng trong việc sử dụng nới lỏng định lượng hơn so với việc cắt giảm lãi suất, do đó phần nào giải thích sự phục hồi chậm chạp ở một số nước. Ít nhất một số ngân hàng trung ương đang thử nghiệm với các giải pháp kích thích (kinh tế) thay thế, chẳng hạn như cam kết giữ lãi suất qua đêm ở mức thấp trong một thời gian rất dài, cách tốt hơn để giảm (scale back) sự phụ thuộc vào nới lỏng định lượng.

Sơn Phạm
The Economist

'Đình trệ kéo dài' là gì?

Các cô gái trẻ đi kích cầu nền kinh tế. Photo courtesy anurag agnihotri.

Các sách giáo khoa kinh tế nói nhiều về "chu kỳ kinh doanh". Sau một cuộc suy thoái, họ nói, các nền kinh tế được cho là sẽ hồi phục trở lại (bounce back). Vậy điều gì đã sai lầm trong thế giới các nước giàu? Sau cuộc "Tổng Suy trầm" năm 2008-09, các nước giàu phải vật lộn để lấy lại những gì đã mất. GDP thực tế trong khu vực đồng euro vẫn thấp hơn so với mức năm 2009. Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland chỉ đến mùa hè năm ngoái mới vượt qua mức đỉnh trước khủng hoảng. Hiệu suất đình trệ (sluggish) dù lãi suất ở các nước giàu đã ở mức thấp nhất (rock-bottom) trong nhiều năm. Để giải thích sự tăng trưởng yếu kém của các nước giàu, một số nhà kinh tế (đặc biệt là Larry Summers, cựu Bộ trưởng Ngân khố Mỹ), cho rằng họ đang bị mắc kẹt trong 'đình trệ kéo dài' (secular stagnation). Điều đó có nghĩa là gì?

Lý thuyết đình trệ kéo dài xuất phát từ Alvin Hansen, một nhà kinh tế học theo trường phái Keynes, trong những năm 1930. Những nước bị đình trệ là do tiết kiệm quá nhiều và đầu tư quá ít. Hansen dự đoán rằng các nền kinh tế sụt giảm (slumping) trong những năm 1930 bị đình trệ do triển vọng tăng trưởng kém vì lý do chậm đổi mới sáng tạo và dân số già. Phân tích của Summers không hề khác lý thuyết của Hansen. Ngày nay, tiết kiệm cao do một số lý do. Trong những năm gần đây, nhiều thị trường mới nổi đã bắt đầu tiết kiệm quá mức (savings binge), tích lũy những nguồn dự trữ ngoại hối khổng lồ. Của Trung Quốc hiện trị giá hơn 3 ngàn tỷ USD. Nhưng nhân khẩu học cũng quan trọng. Các nước giàu đang già đi nhanh chóng, do tuổi thọ tăng và tỷ lệ sinh giảm. Ở Mỹ vào năm 1970, tích trữ tiết kiệm cần có để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ suốt đời tương đương -228% GDP. Nói cách khác, các hộ gia đình có lẽ là những người đi vay nhiều hơn là gửi tiết kiệm do dân số nói chung là trẻ, tuổi thọ thấp hơn so với hiện tại, và thu nhập tương lai dự kiến tăng nhanh chóng. Trả nợ và tiết kiệm cho nghỉ hưu không đòi hỏi chi li đong đếm từng xu (penny-pinching). Ngược lại, dân số ngày nay già hơn và dự kiến sống (lây lất) lâu hơn khi về hưu. Mức tiết kiệm cần có ước tính do đó tăng lên tới 52% GDP trong năm 2010.

Nhân khẩu học cũng phần nào giải thích vì sao đầu tư lại thấp như vậy. Tăng trưởng chậm hơn trong lực lượng lao động đồng nghĩa với việc tốc độ tăng trưởng tổng thể chậm hơn. Và khi có ít công nhân hơn để thuê, các doanh nghiệp cũng sẽ cần ít vốn hơn. Cấu trúc của các nền kinh tế giàu ngày nay cũng không giúp ích gì nhiều. Các công ty Internet như Google và Facebook có thể tăng trưởng đến kích thước khổng lồ với rất ít vốn. Đầu tư thuần (tổng đầu tư trừ khấu hao), theo tỷ lệ so với tổng tích trữ vốn, gần đến mức thấp nhất kể từ Thế chiến II. Với đầu tư thấp và tiết kiệm cao, tăng trưởng kinh tế chậm lại. Và, lạm phát đang giảm (tumbling) cũng làm phức tạp thêm vấn đề. Lạm phát thấp (hay giảm phát) khiến các ngân hàng trung ương khó khăn hơn trong việc giảm lãi suất thực tế (và kích thích nền kinh tế) do các ngân hàng trung ương không thể dễ dàng để lãi suất chính sách của họ ở mức âm; một số đã thử liều (take the plunge) và đã gánh chịu những hậu quả đáng tiếc . Các nước khác, bao gồm các ngân hàng trung ương Mỹ, Anh, Nhật Bản và khu vực đồng euro đã thử các chính sách tiền tệ phi truyền thống như "nới lỏng định lượng" - tạo ra tiền để mua các tài sản tài chính - và có các kết quả khác nhau.

Không phải ai cũng bị thuyết phục bởi lý thuyết này. Các nước giàu đã lão hóa trong nhiều thập kỷ. Đã có những công ty Internet ít vốn đầu tư từ những năm 1990. Nhưng những điều này không phải lúc nào cũng thành vấn đề. Ví dụ, trong những năm 2000, các nước giàu có mức tăng trưởng khá mạnh. Những nhà kinh tế học đình trệ cho rằng tăng trưởng nhanh chóng này là một ảo ảnh. Họ lập luận rằng, nhu cầu thấp trong một nền kinh tế có thể được khắc phục một cách tạm thời bằng lạm phát của bong bóng tài chính. Sự mở rộng của nền kinh tế Mỹ trong những năm 2000 (khi thị trường nhà đất sôi sục) hoặc trong những năm 1990 (với các công ty công nghệ) là những ví dụ điển hình. Họ cho rằng, nếu không có những điên cuồng đó, tăng trưởng sẽ chậm lại. Một số các nhà kinh tế khác phản bác rằng thời điểm bong bóng đã qua; ví dụ, sự điên cuồng công nghệ của những năm cuối thập niên 1990 xảy ra sau khi thất nghiệp vốn đã giảm xuống dưới 5%. Nhưng nếu các nước giàu càng "mở rộng đáng thất vọng" với những biến cố (blow-up) tài chính ngắt quãng ở giữa, những lập luận của các nhà kinh tế học đình trệ càng khó bị bác bỏ.

Sơn Phạm
The Economist

Điều 5 của Minh ước NATO hoạt động như nào?

Wolverine on patrol. Photo courtesy U.S. Army Europe Images.

Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương - NATO là liên minh quân sự quan trọng nhất trên thế giới. Minh ước này được xây dựng như một bức tường thành (bulwark) để ngăn chặn sự xâm lược của Liên Xô đầu thời kỳ hậu chiến nhưng giờ vẫn hoạt động, và rất tích cực, trong nhiều thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ. Những can thiệp của nó gần đây là chiến tranh do lựa chọn; Minh ước NATO dẫn đầu can thiệp ở Afghanistan và góp phần thủ tiêu chế độ Slobodan Milosevic ở Nam Tư. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc sáng lập của Minh ước NATO là tự vệ tập thể, được thể hiện trong điều năm tối quan trọng của Hiệp ước Washington năm 1949. Điều này ghi "một cuộc tấn công vũ trang vào một hoặc nhiều [thành viên] sẽ bị coi là một cuộc tấn công vào tất cả các thành viên" và các thành viên sẽ hỗ trợ (các) nạn nhân của cuộc tấn công đó "ngay lập tức" (forthwith). Điều 5 này dường như là một sự lỗi thời (anachronism) sau khi Liên Xô sụp đổ. Giờ đây, khi Nga tăng chi tiêu quốc phòng, thực hiện những cuộc tấn công hạt nhân giả vào các nước láng giềng và triệu tập huấn luyện quân sự đột xuất (snap) trên biên giới với các nước Baltic, nó trở nên có liên quan trở lại. Nhưng Điều 5 thực sự đòi hỏi các đồng minh trong Minh ước NATO những gì, và liệu họ sẽ theo đuổi đến cùng trong trường hợp cần thiết?

Điều 5 nói rằng một ứng phó có thể bao gồm lực lượng vũ trang, nhưng không uỷ nhiệm nó. Tất cả những gì Minh ước NATO thực sự hứa hẹn đó là có "hành động thích hợp nếu xét thấy cần thiết" để khôi phục và duy trì an ninh. Đó có thể là bất kỳ điều gì từ chiến tranh hạt nhân cho đến một phản đối ngoại giao gay gắt. Ba cân nhắc nan giải sẽ xác định bản chất chính xác của bất kỳ ứng phó nào của Minh ước NATO trước ngoại xâm. Đầu tiên là vị trí địa lý: ở những nơi mà một kẻ xâm lược có thể nhanh chóng hoàn thành và củng cố một cuộc xâm lược, các lựa chọn của NATO là rất hạn chế. Ví dụ, vùng Baltic ở trên một dải đất phẳng, hẹp là không thể bảo vệ. Một cuộc tấn công bất ngờ của Nga có thể đến bờ biển trong vòng vài giờ, và đảo ngược một cuộc xâm lược thành công của Nga sẽ rất khó khăn, thậm chí là vô ích (futile). Tuy nhiên, điều này cũng đúng với Tây Berlin. Vùng Baltic cho rằng một cuộc tấn công đối với các nước của họ sẽ có nghĩa như một sự đối đầu tổng lực giữa Đông-Tây theo Điều 5. Nếu Nga tin vậy, sự chế ngự đang có hiệu quả. Nhưng vấn đề là Điều 5 không ghi rõ một ứng phó như vậy.

Vấn đề thứ hai liên quan là đối phó với sự leo thang. Nhiều nước trong Minh ước NATO sẽ sẵn lòng tăng viện cho các quốc gia vùng Baltic trong một cuộc khủng hoảng, và thậm chí sử dụng vũ lực chống lại "những người lính xanh" (little green men). Nhưng nếu Nga phản ứng lại với sự chuẩn bị của NATO bằng cách tuyên bố một vùng cấm bay, được hỗ trợ bởi hệ thống phòng không ghê gớm của nước này và kho vũ khí tua tủa (bristling) vũ khí hạt nhân chiến thuật, rủi ro sẽ nhanh chóng trở nên cao một cách nguy hiểm. Quyết định hành động, hay không hành động, sẽ được thực hiện không phải ở trụ sở chính của Minh ước NATO tại Brussels, mà là ở Washington, DC. Và, rất nhiều thành viên phía đông của Minh ước NATO lo ngại, khó có thể tưởng tượng một tổng thống Mỹ mạo hiểm chiến tranh hạt nhân để bảo vệ một đất nước nhỏ bé cách nửa vòng trái đất.

Tuy nhiên, trong thực tế, thách thức lớn nhất đối với Minh ước NATO là việc xác định thế nào là một cuộc tấn công. Nga tiến hành "chiến tranh hỗn hợp" (hybrid war) - kết hợp tuyên truyền, tham nhũng, phá hoại, gián điệp, khai thác sự phụ thuộc kinh tế và năng lượng, ngoại giao và việc sử dụng các lực lượng quân sự bất thường (những "little green men" xuất hiện ở Crimea năm ngoái). Trong vùng Baltic, chiến tranh hỗn hợp có thể bao gồm những nỗ lực kích động căng thẳng sắc tộc, ngôn ngữ và khu vực, hoặc dựng lên những tình trạng khẩn cấp, chẳng hạn như một vấn đề với giao thông đường sắt của Nga qua Lithuania đến Kaliningrad. Theo khu vực, một cuộc tấn công có thể coi là không thể chấp nhận được đối với chủ quyền các nước Baltic, nhưng lại có thể không được Brussels coi là một "cuộc tấn công vũ trang" theo Điều 5. Nhiều nỗ lực hiện nay của Minh ước NATO sẽ đi sâu vào việc đảm bảo rằng nó có thể đáp ứng một cách thực tế, quân sự và chính trị, đối với những lời kêu gọi giúp đỡ. Tất cả sức mạnh của liên minh quân sự hùng mạnh nhất trên thế giới sẽ không ý nghĩa gì nhiều nếu các thành viên của nó không thể đồng ý khi nào thì một kẻ xâm lược đã thực sự bước qua lằn ranh (giới hạn).

Sơn Phạm
The Economist

"In a pinch" nghĩa là gì?

Penny pinching. Photo courtesy jenny downing.

'In a pinch' có từ pinch là lúc gay go, lúc bức thiết; vì thế cụm từ này có nghĩa là trong trường hợp cần thiết, nếu cần thiết (in a critical situation; if absolutely necessary, if need be, just possibly).

Ví dụ
There's room for four adults, five in a pinch.

The FIU students are provided laptops or tablets by the university, but in a pinch they can also use whatever mobile device they have at hand.

Experienced Adam ready to go in a pinch: Gerry Adam threw the brakes on his curling (môn đánh bi đá trên băng) career a half-decade ago. But suddenly, he's one flu bug or sprained ankle away from throwing rocks at this year's Tim Hortons Brier in Calgary - and he says he's ready to put those knees and fingertips back into the fray.

How To Give Yourself A Facial In A Motel: All you need, my friends, is some sort of facial oil (regular moisturizer would work in a pinch, but use that motel body lotion as a very last resort) and the accouterments (trang phục/đồ trang bị cho người lính) found in any cheap motel room: sheets, washclothes, the sink, and an ice bucket.

Phạm Hạnh

"Feel the pinch" nghĩa là gì?

Kinh tế khó khăn quá, lấy nhau cũng khó. Photo courtesy Denis Bogomolov.

'Feel the pinch' nghĩa là túng quẫn, túng tiền (be affected by hardship, especially straitened finances).

Ví dụ
Get ready to feel the pinch: Budget 2015 has brought costlier days for common man?

With phone lines cut, businesses feel the pinch at Whitefield.

Small towns and businesses could feel the pinch from alcohol sales decision: Some small towns and businesses in metro Birmingham are worried about lost revenue after the Alabama Supreme Court ruling overturned a 2009 law allowing smaller cities in dry counties to vote on alcohol sales.

Russians Feel the Pinch of Rising Food Prices as Inflation Bites: Most Russians say they have noticed an increase in the cost of basic foods (hàng hóa cơ bản) in the last two months, according to a poll released Thursday, as the ruble's meltdown and a wide-ranging ban on many Western food imports pushed overall inflation past 16 percent in January.

Phạm Hạnh

"Follow through" nghĩa là gì?

Theo đuổi đam mê chụp ảnh đến cùng. Photo courtesy faungg's photo.

'Follow through' nghĩa là hoàn tất một việc làm nào đó, theo đuổi đến cùng (the continuing of an action or task to its conclusion).

Ví dụ
City failed to follow through on promises with bosque (vùng lau sậy gần sông) trail.

(i) Honor your commitments (cam kết): When you say you’re going to do something, follow through. (ii) Play tough. Make things look easy when they’re not. It’s good acting (giả vờ/diễn xuất cũng tốt). (iii) Play to win (chơi để thắng). “The guy who may be thinking about losing won’t take that shot,”. He’ll lose anyway. Take the shot.

Unfortunately, in my youth, I did not realize all the hard work I had done only gave me the opportunity to move forward to a newer challenge. I still had to follow through and work for it, but in my brash, youthful invincibility (bất khả chiến bại), I figured meeting the requirements and expectations would be a piece of cake (việc ngon ơ, dễ làm).

Bold higher education ideas are only bold if there is sufficient follow through to ensure (đảm bảo) all students who do their part to make it to college, achieve the economic advantages of a college degree.

Phạm Hạnh