Journey in Life: 09/17/16

Saturday, September 17, 2016

Cuộc sống về đêm ở Nhật Bản: Tiệc tùng thôi

Nhậu thanh tao. Photo courtesy Kevin Utting.

Không có gì lạ khi biết rằng Nhật Bản ngày nay vẫn là nơi bạn không thể đường hoàng lắc lư theo nhạc trong một quán bar vào lúc nửa đêm. Điều này vẫn diễn ra dù giới trẻ Nhật Bản đã đấu tranh trong nhiều năm. Tuy nhiên, những gì họ làm đã không thể thay đổi những quy định có hiệu lực kể từ thời điểm Mỹ đóng quân tại Nhật Bản sau Thế chiến thứ II: cấm nhảy múa lúc đêm khuya. Mục đích khi đó là để ngăn chặn tệ nạn mại dâm liên quan đến thứ được gọi là vũ trường. Thỉnh thoảng, người ta cũng lách luật rất khéo. Một cơ sở ở Tokyo đã cho khách bôi bột làm mì udon vào chân. Họ nói điều này khiến khách hàng trông như một công nhân chứ không phải một người thích nhảy nhót tiệc tùng.

Chắc chắn không ai nghĩ rằng Thủ tướng Shinzo Abe, vị chủ tịch bảo thủ của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) với tư tưởng truyền thống, sẽ thay đổi điều này. Tuy nhiên, chính phủ sắp cho phép việc tiệc tùng lúc đêm khuya bằng một dự luật mới, dự kiến sẽ được thông qua trong năm nay. Miễn là đèn đủ sáng để cảnh sát dễ dàng quan sát được những góc khuất, khách hàng sẽ được phép hát hò nhảy múa đến rạng sáng.

Mặc dù những thay đổi này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế, nhưng nó mang tính biểu tượng. Những năm gần đây, cảnh sát đã bắt đầu đột kích các quán bar thường xuyên hơn. Họ khẳng định những người vui chơi trong đó đều sử dụng ma túy. Những cuộc đột kích này không hề đúng lúc khi ông Abe là người đang quảng bá cho khẩu hiệu "Cool Japan" (Nhật Bản thú vị) trong một lễ kỷ niệm văn hóa cho thanh thiếu niên. Sự thay đổi các quy định này cũng sẽ có thể khơi dậy tinh thần hội hè cho các du khách nước ngoài trước thềm Thế vận hội Tokyo năm 2020.

Một kế hoạch khác của chính phủ có thể thúc đẩy nền kinh tế hơn nữa là lần đầu tiên cho phép xây dựng các sòng bạc lớn, sang trọng tại những thành phố lớn. Một số người Nhật, đặc biệt là phụ nữ, lo sợ rằng việc này sẽ khiến tình trạng nghiện cờ bạc lan rộng và làm sa sút kinh tế hộ gia đình. Komeito, một đảng ủng hộ Phật giáo và là liên minh của đảng cầm quyền LDP, phản đối sự thay đổi này. Tuy nhiên, họ nhắm mắt làm ngơ khi pachinko, một kiểu chơi cờ bạc giống như trò pinball nhưng hợp pháp, đã giúp chính phủ thu về mỗi năm hơn 150 tỷ USD từ khách hàng của mình.

Gần đây có thông tin rằng chính phủ sẽ ngăn chặn vấn đề này bằng cách cấm người Nhật Bản vào chơi tại các sòng bạc kiểu mới. Sự cấm đoán này mang tính biểu tượng mạnh mẽ. Nếu quy định này được thông qua, sẽ không có lợi lộc gì khi đặt cược tiền vốn vào thị trường Nhật Bản, Sheldon Adelson--ông trùm casino người Mỹ nói. Tuy nhiên, đề xuất mở sòng bạc cho người nước ngoài có lẽ chỉ là để xoa dịu việc thông qua dự luật đầu tiên. Những động thái gần đây của ông Abe về các quy định tiệc tùng đêm khuya dường như báo hiệu rằng Nhật Bản đã sẵn sàng thả lỏng một chút.

Minh Thu
The Economist

Nhập cư vào Nhật Bản: Khe cửa hẹp

Photo credit: The Economist.

Dù cay đắng nhưng Nhật Bản đang bắt đầu chấp nhận sự thật rằng nước này cần nhiều người nhập cư hơn.

Trong khu phố Shin-Okubo của Tokyo, bầu không khí phảng phất mùi thức ăn Hàn Quốc và loáng thoáng những câu tiếng Hàn tiếng được tiếng mất. Một siêu thị bán kimchi nằm bên cạnh một cửa hàng bán kebab Ấn Độ -- nơi có dán những tờ rơi ca ngợi đạo Hồi, tôn giáo của người chủ quán sinh ra ở Calcutta. Đại diện một văn phòng nhà đất địa phương giới thiệu các nhân viên biết nói tiếng Trung, tiếng Việt và tiếng Thái cùng với bản vẽ mặt bằng của những căn hộ tí hon tại Tokyo.

Shin-Okubo là một trường hợp hiếm thấy ở Nhật Bản. Đất nước này vẫn tương đối khép kín với người nước ngoài, nhóm người chỉ chiếm 2% trong tổng số dân 127 triệu người, so với mức trung bình 12% của các nước thuộc tổ chức OECD, nhóm các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, Nhật Bản rất thiếu người lao động. Không dưới 83% các doanh nghiệp Nhật gặp khó khăn trong việc thuê nhân công, theo Manpower, một công ty chuyên về tuyển dụng. Đây là mức cao nhất trong các quốc gia mà công ty này khảo sát. Và những khó khăn này có thể ngày càng nghiêm trọng. Dân số được dự kiến sẽ giảm xuống còn 87 triệu người vào năm 2060, và số dân trong độ tuổi lao động (15-64) giảm từ 78 triệu người xuống còn 44 triệu người, do lão hóa. Liên đoàn doanh nghiệp Nhật Bản (The Keidanren), và các doanh nhân nổi bật như Takeshi Niinami, người đứng đầu của công ty nước giả khát Suntory, từ lâu đã ủng hộ vấn đề nhập cư.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết ông muốn nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia thị trường lao động và tăng tuổi về hưu, trước khi chấp nhận những người lao động nước ngoài. Nhưng dù sao chính phủ của ông cũng đã thực hiện một số biện pháp để thúc đẩy nhập cư. Lệnh cấm cấp thị thực cho người lao động có tay nghề thấp đã được nới lỏng, cùng với các phê duyệt cho phép người giúp việc nước ngoài làm việc tại các đặc khu kinh tế. Vấn đề đang được bàn luận hiện nay là những quy định về chế độ cho những người Philippines đang làm giúp việc gia đình . Việc cấp thị thực cho sinh viên và thực tập sinh dễ dàng hơn. Và chính quyền thường làm ngơ trước những cá nhân lợi dụng việc này để thuê nhân công cho các công việc lao động tay chân, ít đòi hỏi học vấn tại các cửa hàng tạp hóa, (thường thuê người Trung Quốc) hoặc trong các ngành lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng và chế biến thực phẩm. Visa của tập sinh có thể gia hạn từ ba đến năm năm. Ông Abe cũng tuyên bố rằng ông sẽ giảm thời gian tạm trú -- điều kiện để được cấp thẻ thường trú -- xuống mức "thấp nhất trên thế giới", có lẽ xuống dưới ba năm (còn kém mức “thấp nhất” rất nhiều) từ mức hiện tại là năm năm.

Tất cả những điều này đã bắt đầu tạo ra sự thay đổi. Năm ngoái, số người nước ngoài được cấp thẻ thường trú đã đạt kỷ lục 2,23 triệu người, tăng 72% so với hai thập kỷ trước đây, và số lượng người có thị thực không thường trú cũng đang tăng lên. Nhưng có vẻ mục tiêu (của chính phủ Nhật) là tăng số lao động tạm thời và một hệ thống ưu đãi hơn cho công nhân lành nghề, chứ không phải việc định cư cho người nước ngoài trên quy mô lớn. Chỉ một số rất ít người nước ngoài trở thành công dân Nhật Bản và số người được tị nạn thậm chí còn ít hơn: 27 người trong năm 2015, tức chỉ khoảng 0,4% số đơn xin được chấp nhận.

Một số người đã lên tiếng ủng hộ mở rộng cánh cửa nhập cư hơn. Hidenori Sakanaka, nguyên lãnh đạo một cơ quan phụ trách việc nhập cư, hiện đang đứng đầu Viện Chính sách nhập cư của Nhật Bản, ước tính Nhật Bản cần 10 triệu người nhập cư trong 50 năm tới. Ít nhất, đất nước này cần có một chính sách rõ ràng về việc tiếp nhận nhân công lao động nước ngoài, thay vì phớt lờ việc lạm dụng sinh viên và thực tập sinh, theo Shigeru Ishiba, một nghị sĩ nổi bật trong Đảng Dân chủ Tự do, người được kỳ vọng sẽ thách thức ông Abe ở vị trí lãnh đạo đảng vào năm 2018. Chính phủ cần phải có kế hoạch chi tiết về số người chính phủ muốn kêu gọi nhập cư và khung thời gian cần để thực hiện, ông nói.

Dư luận cũng đang dần thay đổi. Cuộc thăm dò gần đây của WinGallup cho kết quả đáng ngạc nhiên khi nhiều người Nhật ủng hộ vấn đề nhập cư hơn là phản đối nó -- 22% và 15% -- mặc dù có tới 63% cho biết họ không chắc chắn. Tuy nhiên, chào đón một số lượng lớn người nước ngoài nhập cư với sự nồng ấm là điều khó xảy ra. Những người dân tộc chủ nghĩa ở Nhật Bản không có sức mạnh của phong trào chống nhập cư trên diện rộng ở châu Âu. Nhưng đất nước này tự hào về tính thuần nhất của mình, và mặc dù các phương tiện truyền thông đã thôi không còn đổ lỗi tất cả các tệ nạn xã hội lên người nước ngoài như một phản xạ, sự phân biệt đối xử vẫn còn rất gay gắt. Nhiều chủ nhà trọ sẽ công khai từ chối người thuê trọ nước ngoài, Li Hong Kun, một nhân viên nhà đất người Trung Hoa, làm việc ở Shin-Okubo cho biết, bởi vì họ không tuân thủ các nguyên tắc như là giữ yên tĩnh sau mười giờ đêm và phân loại rác đúng cách (một nhiệm vụ khá phức tạp). Những người khác lại cho rằng các cuộc tấn công khủng bố ở châu Âu là một lý do để giữ Nhật Bản cho riêng người Nhật. Theo Tatsuya Mizuno, tác giả của một cuốn sách về cộng đồng người Brazil gốc Nhật, những người được khuyến khích nhập cư vào Nhật trong những năm 1980, họ chưa bao giờ thực sự được chấp nhận là người Nhật dù có dòng máu Nhật Bản trong người.

Ngay cả ông Sakanaka và ông Ishiba cũng nghĩ rằng tất cả những người nhập cư phải học ngôn ngữ và phong tục nước bản địa, chẳng hạn như thể hiện sự tôn kính đối với gia đình hoàng gia. Nhưng về mặt kinh tế, việc cần một làn sóng nhập cư lớn hơn là điều không thể phủ nhận. Đối với những người luôn nói về sự hồi sinh của quốc gia như ông Abe, những lựa chọn khác rất ít ỏi.

Minh Thu
The Economist

"Heap coals of fire on his head" nghĩa là gì?

Photo courtesy Stilgherrian.

'Heap coals of fire on sb's head' (đổ than nóng lên đầu) nghĩa là làm cho ai phải hối hận vì sự vô tình của họ.

Ví dụ
"Repay no one evil for evil. Have regard for good things in the sight of all men. If it is possible, as much as depends on you, live peaceably with all men. Beloved, do not avenge yourselves, but rather give place to wrath; for it is written, 'Vengeance is Mine, I will repay,' says the Lord. Therefore 'If your enemy is hungry, feed him; If he is thirsty, give him a drink; For in so doing you will heap coals of fire on his head.' Do not be overcome by evil, but overcome evil with good."

Banks spoke for about 20 minutes, quoting Scripture throughout, including one from the 12th chapter of Romans, which the admonishment that being kind to an enemy was like “heaping coals of fire on his head.”

Phạm Hạnh

Tệ quan liêu và trẻ mồ côi

Photo courtesy Ashley Van Haeften.


Một đạo luật mới sẽ giúp việc nhận nuôi trẻ em mồ côi tại Nhật Bản dễ dàng hơn.

Nằm khuất trong một con phố giữa các đại sứ quán và các gia đình giàu có, Hiroo Friends là một trong những cô nhi viện tốt nhất của Tokyo. Trung tâm này chăm sóc cho 42 đứa trẻ với số nhân viên cũng tầm khoảng đó. Trẻ có phòng ngủ riêng và học ở những trường công lập tốt nhất của thành phố. Điều mà ít đứa trẻ nào ở đây có được là cơ hội được sống trong một gia đình bình thường.

Trong số gần 39.000 trẻ em trong trại trẻ mồ côi trên khắp Nhật Bản, chỉ 12% có thể tìm được cha mẹ nhận nuôi, tỷ lệ thấp nhất trong các nước giàu. Hầu hết trẻ em được đưa vào các trung tâm nuôi dưỡng sẽ ở đó cho đến khi trưởng thành. Các gia đình Nhật Bản nhận nuôi hơn 80.000 trường hợp mỗi năm, nhưng chủ yếu là khi trẻ đã trưởng thành, thường để họ có thể gánh vác vấn đề tài chính của gia đình. Trong năm 2014 chỉ có 513 trẻ em được nhận nuôi; tháng 3 năm 2015, có 4.731 trẻ được nhận nuôi.

Theo ông Yoshiko Takahashi, người quản lý tại trung tâm Hiroo, văn hóa là một nguyên nhân. Hầu hết người Nhật rất ngại ngần khi nhận nuôi trẻ không có liên quan huyết thống với mình. Nhưng các thủ tục pháp lý và sự quan liêu cũng tạo ra rào cản. Cha mẹ ruột vẫn sẽ là người giám hộ hợp pháp của trẻ dù trẻ đã ở trong trung tâm chăm sóc trong nhiều năm, thường hứa hẹn sẽ đưa trẻ ra khỏi trung tâm nuôi dưỡng nhưng không bao giờ làm như vậy, khiến việc nhận nuôi khó khăn hơn. Toà án bất đắc dĩ phải mạnh tay hơn với những cặp cha mẹ ruột không thể hoặc không muốn chăm sóc con cái của họ.

Vấn đề này chưa từng nhận được nhiều sự quan tâm từ chính phủ, cho đến gần đây. Yasuhisa Shiozaki, Bộ trưởng Bộ sức khỏe, lao động và phúc lợi, quyết định hành động một phần bởi thực tế khiến người ta giật mình: mặc dù dân số Nhật Bản suy giảm, và số lượng các cặp vợ chồng không có con ngày càng nhiều, số lượng trẻ em trong các trung tâm nuôi dưỡng đang tăng.

Nhiều trẻ bị bố mẹ bỏ bê hoặc bạo hành. Những trẻ trải qua thời thơ ấu trong các trung tâm nuôi dưỡng của nhà nước thường trở thành người thất nghiệp hoặc vô gia cư khi trưởng thành. Theo Kanae Doi của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), một tổ chức phi chính phủ, hơn một nửa số trẻ em trong các trung tâm chăm sóc cũng đang bị lạm dụng. Ký túc xá đông đúc khiến các em không có không gian riêng tư, mỗi trẻ chỉ có chưa đầy năm mét vuông. Ngay cả những trẻ sống trong các trung tâm tốt hơn cũng có vấn đề của mình. Bà Takahashi ước tính rằng 10% số trẻ tại trung tâm Hiroo phải dùng thuốc để điều chỉnh hành vi.

Đạo luật phúc lợi trẻ em được sửa đổi của ông Shiozaki, sẽ có hiệu lực vào tháng tư tới, nhằm giúp khoảng một phần ba số trẻ em trong các trung tâm chăm sóc trên khắp Nhật Bản có gia đình nhận nuôi vào năm 2029. Hướng lâu dài là trại trẻ mồ côi không chỉ là nơi nuôi dưỡng mà còn giúp các em tìm được gia đình muốn nuôi dưỡng chúng. Toà án sẽ có nhiều quyền lực hơn trong vai trò đại diện cho cha mẹ nuôi.

Những thay đổi này đề cao sự chăm sóc của gia đình đối với trẻ. Trẻ được chào đón nhưng sẽ phải hỗ trợ nhiều hơn cho gia đình nếu đã đến tuổi lao động, Kazuhiro Kamikado--chuyên gia về phúc lợi cho trẻ em tại Đại học Nagano--nói. Thay đổi luật pháp là một điều; thay đổi cách suy nghĩ lại là điều hoàn toàn khác.

Minh Thu
The Economist

Trở thành công dân Nhật Bản: Các thanh tra đang gõ cửa

Photo courtesy Tommaso Meli.

Không dễ để có một tấm hộ chiếu

Để trở thành một công dân Nhật Bản, ngoài các điều kiện khác, người nước ngoài còn phải thể hiện "hành vi tốt". Các quy định không nói rõ điều đó có nghĩa là gì, và cũng không đề cập đến phong cách sống kiểu Nhật (wafu). Nhưng đối với một người nộp đơn, ít nhất thì điều này có nghĩa là các thanh tra sẽ đến nhà họ, kiểm tra tủ lạnh và đồ chơi của con cái để xem người đó có đủ Nhật Bản hay không.

Thủ tục hành chính tùy tiện là lý do vì sao việc nhập quốc tịch Nhật Bản rất khó khăn. Bộ Tư pháp, cơ quan xử lý quá trình này, cho biết các thanh tra có thể đến nhà người xin nhập tịch và nói chuyện với hàng xóm của họ. Điều này không giúp ích được gì vì những người muốn mang những họ như Watanabes sẽ phải từ bỏ mọi hộ chiếu khác: Nhật Bản không cho phép song tịch. Và người xin nhập tịch phải đã sống ở Nhật Bản tối thiểu mười năm. Những yêu cầu khác như nói tiếng Nhật, sở hữu đủ tài sản thì tương tự như ở nhiều nước, nhưng vẫn còn khá phiền phức.

Chẳng ngạc nhiên khi có quá ít người được nhập tịch. Năm ngoái, chính phủ nhận được 12.442 đơn, mất 18 tháng hoặc lâu hơn để xử lý thủ tục; và đã cấp quốc tịch cho 9.469 người, so với gần 730.000 người tại Mỹ. Nhưng ít nhất điều này cho thấy hầu hết các đơn xin nhập tịch đều được chấp nhận. Phần lớn trong số họ là người Hàn Quốc và Trung Hoa. Công dân mới không còn phải dùng một cái tên nghe-giống-Nhật nữa. Và nộp đơn xin nhập tịch không hề mất phí, trái ngược với khoản phí 595 USD tại Mỹ và 1.236 bảng (tương đương 1.613 USD) ở Anh.

Minh Thu
The Economist

Lịch sử thời chiến: Các vùng đất tranh chấp

Đổ nát, nhưng chưa phải là dĩ vãng. Photo courtesy NARUMI.

Một cuộc tranh cãi mới về lịch sử Nhật Bản trong thời chiến đã nổ ra tại Liên Hiệp Quốc.

Quang cảnh hoang tàn của vùng Hashima, ngoài khơi bờ biển Nagasaki, được chọn là nơi quay cảnh trận chiến cuối cùng trong bộ phim mới nhất về James Bond: Skyfall. Giờ đây, hòn đảo hình chiến hạm này là nguyên nhân của một cuộc xung đột ngoài đời thực. Than từ những mỏ ngầm dưới đáy đảo đã góp phần vào sự phát triển của Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị 1868-1912. Thừa nhận vai trò đó, Chính phủ Nhật Bản đã đưa hòn đảo này, và 22 địa điểm khác, vào danh sách đăng ký công nhận Di sản thế giới của UNESCO.

Nhưng những oán giận âm ỉ của các nước láng giềng về chế độ thuộc địa của Nhật Bản và những nỗi kinh hoàng mà nước này gây ra trong Thế chiến II đã khiến đề nghị trên gặp nhiều phản đối. Hàng ngàn quân nhân Hàn Quốc đã bị ép lao động cưỡng bức ở Hashima và các đảo khác trong suốt thời gian chiến tranh. Tại cuộc họp ngày 20 tháng Năm với Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye cho rằng đề nghị của Nhật Bản đã tạo ra "sự hiềm khích không cần thiết". Trung Hoa, nước hiếm khi chậm trễ trong việc chỉ trích Nhật Bản cố tình “quên” tội ác thời chiến, tất nhiên cũng phản đối dữ dội. Phát ngôn viên của bộ ngoại giao nước này nói rằng Nhật Bản đang cố gắng tôn vinh lịch sử chiếm đóng các nước khác.

Tuy nhiên, các nhà ngoại giao Nhật Bản nhấn mạnh rằng đề nghị đó chỉ liên quan đến thời kỳ Minh Trị chứ không phải các sự kiện trong chiến tranh. Và trên một số địa điểm khác có trong danh sách, bao gồm cả mỏ than Miike, có các bia khắc thừa nhận việc sử dụng lao động cưỡng bức. Theo nhà xã hội học nước Mỹ William Wetherall, lịch sử lao động cưỡng bức không chỉ như những gì phía Hàn Quốc nói, nhiều người Nhật cũng bị gọi nhập ngũ. "Tất cả các bên đang bẻ cong lịch sử để thuận với câu chuyện mình là nạn nhân."

Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO sẽ bỏ phiếu về đề nghị của Nhật Bản vào ngày 28 tháng 6. Nhưng các cuộc đàm phán gần đây giữa các quan chức Nhật Bản và Hàn Quốc ở Tokyo chẳng đưa hai bên đến gần nhau hơn được. Người Nhật tham dự chỉ vì áp lực từ các nước khác, một trong những nhân viên ngoại giao có mặt ở đó cho biết. Tất cả dường như còn lâu mới đạt tới sứ mệnh mà UNESCO tuyên bố "dựng xây hòa bình từ trong tâm trí mọi người".

Minh Thu
The Economist