Journey in Life: 12/21/16

Wednesday, December 21, 2016

Từ bỏ thói quen: Tương lai của dầu mỏ

James' Corner*, Katoomba 1930. Photo courtesy Blue Mountains Local Studies.

Lượng dầu thế giới sử dụng đang đến đỉnh điểm, theo Henry Tricks. Nhưng đừng mong đợi nó sớm kết thúc.

Tại thời điểm bước sang thế kỷ 20, vấn đề môi trường bốc mùi nhất đối với các thành phố lớn trên thế giới không phải là những khu nhà ổ chuột, nước thải hoặc muội than; mà đó là phân ngựa. Tại London vào năm 1900, ước tính có khoảng 300.000 con ngựa để kéo xe thường và xe tầng, cả xe đẩy lẫn xe thồ và xe chở hàng, để lại một đám bùn lầy toàn phân phía sau. Các công dân của New York, nơi có khoảng 100.000 con ngựa, cũng phải chịu tai họa tương tự; họ đã phải xoay sở trong con sông bùn khi trời mưa, và những đống phân lớn đầy ruồi khi trời nắng. Tại hội nghị quy hoạch đô thị quốc tế đầu tiên được tổ chức tại New York vào năm 1898, phân ngựa đứng đầu trong chương trình nghị sự. Không tìm được giải pháp nào, các đại biểu thất vọng bỏ về sớm một tuần.

Tuy nhiên, một thập kỷ sau đó vấn đề phân bị cuốn trôi đi bởi bàn tay vô hình của thị trường. Henry Ford sản xuất mẫu xe T (Model T) đầu tiên, vừa có giá rẻ, vừa nhanh chóng lại sạch sẽ. Đến năm 1912 xe hơi ở New York đã nhiều hơn ngựa, và vào năm 1917, xe công cộng ngựa kéo cuối cùng đã về hưu ở Manhattan. Thời điểm đó đánh dấu thời đại của dầu đã đến.

Thời đại ấy là một quá trình tiến bộ nhanh chóng liên tục tăng tốc. Nếu than đem đến cuộc cách mạng công nghiệp, dầu đã thắp nhiên liệu cho động cơ đốt trong, hàng không và cả ý thức hệ của thế kỷ 20 rằng khả năng của con người là vô hạn; nó đã đưa con người bay lên Mặt trăng và xa hơn nữa. Các sản phẩm làm thay đổi cuộc sống — từ son môi đến máy nghe đĩa CD, từ mũ bảo hiểm xe máy đến aspirin — đều chứa hóa dầu. Máy kéo và phân bón mang lại lương thực rẻ hơn cho thế giới, và các sản phẩm nhựa dùng để đóng gói, là kết quả từ các sản phẩm dầu mỏ.

Dầu mỏ đã thay đổi lịch sử. Suốt một trăm năm qua, bao cuộc chiến tranh dầu mỏ, cú sốc dầu lửa và sự cố tràn dầu đã liên tiếp xảy ra. Và ngay cả trong thế kỷ 21 sự thống trị của dầu vẫn còn vững chắc. Mọi thứ khác có thể đều đã tăng tốc, nhưng quy luật của thị trường năng lượng là việc thay đổi hỗn hợp nhiên liệu vẫn là một quá trình chậm chạp (xem biểu đồ). Gần cao điểm dầu tại thời điểm lệnh cấm vận dầu mỏ Ả Rập năm 1973, dầu chiếm 46% nguồn cung cấp năng lượng toàn cầu. Năm 2014, nó vẫn chiếm thị phần 31%, so với 29% đối với than và 21% đối với khí thiên nhiên. Các đối thủ của nhiên liệu hóa thạch đang phát triển nhanh chóng, như năng lượng gió, năng lượng mặt trời và địa nhiệt, tổng cộng chiếm ít hơn 1%.

Chọn đúng người đúng việc
Tuy thế, quá trình chuyển đổi từ sức ngựa sang mã lực, một thuật ngữ tạo ra bởi Eric Morris của Đại học Clemson, Nam Carolina, là một thí dụ hữu ích cho thời đại chúng ta. Một trăm năm trước đây dầu được xem như vị cứu tinh của môi trường. Giờ đây, các sản phẩm của dầu đang ngày càng cho thấy vấn đề như phân ngựa ngày trước: mối đe dọa với sức khỏe cộng đồng và môi trường.

Với tất cả sức mạnh bao năm qua, dầu mỏ có thể phải đối mặt với thời điểm xuất hiện Model T của nó. Mối nguy hiểm không phải là sự sụp đổ tức thì trong nhu cầu mà là sự khởi đầu của một thay đổi trong chiến lược đầu tư đi từ việc tìm kiếm nguồn dầu mới sang tìm kiếm giải pháp thay thế cho dầu. Chất xúc tác trước mắt chính là phản ứng toàn cầu đối với biến đổi khí hậu. Thỏa thuận ở Paris năm ngoái đem đến cơ hội 50/50 cho việc giữ mức ấm lên toàn cầu ít hơn 2ºC trên mức nhiệt độ tại thời kỳ trước cách mạng công nghiệp (thời kỳ tiền công nghiệp), và có thể hạn chế ở mức 1.5ºC, được một số người coi như lời tuyên chiến đối với các loại nhiên liệu hóa thạch.

Thỏa thuận đó đã bị nghi ngờ với việc bầu Donald Trump, người bác bỏ biến đổi khí hậu, coi đó là một "trò lừa bịp", là tổng thống tiếp theo của nước Mỹ. Nhưng nếu những thị trường tiêu dùng năng lượng lớn như Liên minh châu Âu, Trung Quốc và Ấn Độ vẫn cam kết kiềm chế sự nóng lên toàn cầu, tất cả các loại nhiên liệu hóa thạch sẽ bị ảnh hưởng. Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho biết rằng để đến gần với mục tiêu 2ºC, nhu cầu dầu mỏ sẽ phải lên đỉnh cao cân bằng sản lượng (peak oil) vào năm 2020 ở mức 93 triệu thùng mỗi ngày, chỉ trên mức hiện nay một chút. Việc sử dụng dầu trong vận tải hành khách và hàng hóa sẽ giảm trong vòng 25 năm tới, sẽ được thay thế bằng điện, khí đốt tự nhiên và nhiên liệu sinh học. Không nước nào trong số các bên ký hiệp định Paris cam kết hành động mạnh bạo như vậy, nhưng chi phí của năng lượng tái tạo và pin đã giảm xuống, một quá trình chuyển đổi như vậy dường như là điều không thể tránh khỏi. "Có tin vào biến đổi khí hậu hay không, thì sự chuyển dịch không thể ngăn cản từ than đá và dầu mỏ sang nhiên liệu có mức carbon thấp hơn đang diễn ra, rồi cuối cùng sẽ chấm dứt thời đại dầu mỏ", công ty đầu tư nghiên cứu Bernstein cho biết.

Không mấy ai nghi ngờ rằng nhiên liệu hóa thạch sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất từ quá trình chuyển đổi này là than đá. Năm 2014, than đá thải ra 46% lượng khí thải CO2 do đốt nhiên liệu trên toàn thế giới, so với 34% đối với dầu và 20% đối với khí thiên nhiên. Khí thiên nhiên có khả năng là nhiên liệu hóa thạch cuối cùng vẫn đứng vững, vì độ sạch tương đối của nó. Nhiều người coi điện chạy bằng khí và năng lượng tái tạo là bước đầu tiên trong một cuộc đại tu hệ thống năng lượng toàn cầu.

Báo cáo đặc biệt này sẽ tập trung vào dầu mỏ bởi vì nó là thành phần lớn nhất của ngành công nghiệp năng lượng và là hàng hóa được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, với khoảng 1,5 nghìn tỷ USD giá trị xuất khẩu hàng năm. Một nửa trong số mười công ty đứng đầu được liệt kê trong Global Fortune 500 sản xuất dầu mỏ, và tất cả các công ty này vẫn chỉ là chú lùn nếu so với tập đoàn dầu mỏ Saudi Aramco chưa được niêm yết trên thị trường. Dầu mỏ cung cấp tài chính cho các quốc gia mang lại ổn định cho địa chính trị toàn cầu cũng như những quốc gia đang trong sự kìm kẹp của độc tài và khủng bố. Và các sản phẩm dầu cung cấp nhiên liệu cho 93% vận tải trên toàn thế giới, do đó, giá dầu ảnh hưởng đến hầu như tất cả mọi người.

Kể từ khi giá dầu thô bắt đầu sụt giảm mạnh trong năm 2014, thế giới đã có một cái nhìn thoáng qua về sự tàn phá có thể xảy ra khi ngành công nghiệp dầu suy thoái. Khi giá dầu giảm xuống dưới 30 USD một thùng trong tháng 1 năm nay, thị trường chứng khoán dự đoán giảm mạnh, các nhà sản xuất dầu mỏ như Venezuela và Nigeria bị vỡ ngân sách và bất ổn xã hội, đồng thời một số công ty đá phiến Mỹ đã suýt rơi vào phá sản. Nhưng cũng vẫn có những tác động tích cực. Ả Rập Saudi đã bắt đầu lên kế hoạch cho một nền kinh tế ít phụ thuộc hơn vào dầu mỏ, và công bố sẽ tư nhân hóa một phần Aramco. Các nhà sản xuất Trung Đông khác đã nhiệt tình đón nhận năng lượng mặt trời. Một số quốc gia tiêu thụ dầu mỏ đã lợi dụng giá dầu thấp để cắt giảm trợ cấp nhiên liệu.

Các công ty dầu mỏ phương Tây đã phải vật lộn suốt cuộc khủng hoảng cùng với gánh nặng mới khi những lo ngại về sự nóng lên toàn cầu trở thành xu thế chung. Ở Mỹ, Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái và văn phòng công tố New York đang điều tra Exxon Mobil, tập đoàn dầu khí tư nhân lớn nhất thế giới, về vấn đề liệu tập đoàn này đã tiết lộ đầy đủ những rủi ro mà các biện pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu có thể gây ra cho những mỏ dầu dự trữ rộng lớn của công ty. Cổ đông ở cả Mỹ và châu Âu đang gây sức ép rất lớn lên các tập đoàn dầu khí để làm rõ cách thức họ sẽ quản lý các doanh nghiệp của mình nếu quy định biến đổi khí hậu buộc thế giới phải tự cai nghiện dầu. Mark Carney, thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh, đã đưa ra cảnh báo rằng quá trình chuyển đổi năng lượng có thể gây căng thẳng nghiêm trọng cho sự ổn định tài chính, và có đến 80% trữ lượng nhiên liệu hóa thạch có thể bị bỏ phí. Khẩu hiệu của ngành công nghiệp dầu, "Khoan, khoan nữa, khoan mãi!" bây giờ gặp một phản ứng chói tai: "Hãy để nó yên trong lòng đất!"

Đỉnh cao nào?
Điều này đánh dấu một sự thay đổi rất lớn. Trong suốt thời đại dầu mỏ, mối quan tâm lớn nhất là về an ninh các nguồn cung năng lượng. Các quốc gia thực dân hùng mạnh gây chiến tranh để tiếp cận dầu mỏ. Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) thành lập liên minh (cartel) gồm các nhà sản xuất dầu để bảo vệ các mỏ dầu và đẩy giá lên cao. Trong thế kỷ 20, nỗi sợ hãi canh cánh là "cao điểm dầu", khi nguồn cung sẽ bắt đầu giảm dần. Nhưng giờ đây, theo ông Daniel Yergin, một sử gia về dầu mỏ từng đạt giải Pulitzer, cho biết: "Có sự thay đổi đi từ câu hỏi ‘khi nào chúng ta sẽ hết dầu? ' sang 'chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng dầu trong bao lâu nữa?' Đối với "cao điểm dầu", giờ đây được hiểu là "cao điểm nhu cầu."

Dầu nhiên liệu cho phương tiện chuyên chở hàng hóa hạng nặng, máy bay và tàu thuyền, và để sản xuất nhựa, sẽ còn cần thiết trong nhiều năm nữa. Nhưng từ Mỹ sang Trung Quốc, tiêu chuẩn khí thải đối với phương tiện giao thông đã trở nên nghiêm ngặt hơn, đòi hỏi đi quãng đường dài hơn với ít nhiên liệu hơn. Ô nhiễm không khí và ùn tắc tại các thành phố lớn đang khiến các nước như Trung Quốc và Ấn Độ thúc đẩy tìm kiếm giải pháp thay thế cho nhiên liệu và dầu diesel để làm nhiên liệu vận chuyển. Hãng xe Tesla, Chevrolet và Nissan đã công bố kế hoạch kinh doanh xe điện đường trường, cùng với các khoản trợ cấp, với giá khoảng 30.000 USD, để xe điện có giá phải chăng hơn. Và trên toàn thế giới vai trò của năng lượng trong tăng trưởng GDP đang giảm dần.

Các nhà phân tích tin vào hiệp định Paris sẽ đánh dấu một bước ngoặt trong nỗ lực toàn cầu để giảm lượng khí thải CO2 cho rằng tiêu thụ dầu toàn cầu có thể bắt đầu giảm dần vào đầu những năm 2020. Điều đó có nghĩa là các công ty sẽ phải tập trung hoàn toàn vào những mỏ dầu dễ tiếp cận như ở Trung Đông và vùng dầu đá phiến ở Mỹ, chứ không phải các dự án phức tạp đắt tiền cần thời gian hoàn vốn dài, chẳng hạn như ở Bắc Cực, cát dầu ở Canada hay sâu dưới lòng đại dương.

Tuy nhiên, nhiều người trong ngành công nghiệp bác bỏ ý kiến về cao điểm nhu cầu. Họ không tin rằng các chính phủ có quyết tâm chính trị để thực hiện các mục tiêu khí hậu của theo tốc độ Hiệp định Paris dự kiến. Ở Mỹ họ chế giễu ý tưởng rằng một nước được xây dựng xung quanh văn hóa ôtô có thể nhanh chóng từ bỏ xăng dầu. Và Khalid Al-Falih, bộ trưởng năng lượng của Ả Rập Saudi, ước tính thế giới vẫn sẽ cần phải đầu tư vào dầu theo nhịp điệu gần 1 nghìn tỷ USD một năm cho 25 năm tiếp theo. Các chuyên gia kỳ cựu ngành dầu mỏ chỉ ra rằng ngay cả khi lượng tiêu thụ dầu toàn cầu lên đến đỉnh điểm, thế giới vẫn sẽ cần phải thay thế các giếng hiện có, hiện đang cạn dần hàng năm với tỷ lệ lên đến 5 triệu thùng dẫu mỗi ngày — khoảng gần bằng lượng sản xuất từ cách mạng đá phiến tại Mỹ trong bốn năm . Nhu cầu sẽ không giảm đột ngột

Một số công ty dầu mỏ lớn chấp nhận rằng trong tương lai họ có thể sẽ đầu tư ít hơn vào dầu và nhiều hơn vào khí tự nhiên, cũng như năng lượng tái tạo và pin. Rabah Arezki, người đứng đầu về thương phẩm tại IMF, cho biết thế giới có thể "ở thời điểm bắt đầu sự đổ vỡ lớn nhất với thị trường dầu mỏ từ trước đến nay."

Báo cáo này lập luận rằng thế giới cần phải đối mặt với viễn cảnh kết thúc kỷ nguyên dầu mỏ, ngay cả khi tại lúc này thời điểm ấy vẫn có vẻ khá xa, và đặt ra ba câu hỏi trọng tâm. Liệu cả ngành công nghiệp nói chung có đối mặt với biến đổi khí hậu bằng cách nghiên cứu và đầu tư vào các giải pháp thay thế cho nhiên liệu hóa thạch, hay sẽ nghiến răng chiến đấu cho một tương lai dựa vào dầu mỏ? Liệu phần lớn các nhà đầu tư trong ngành công nghiệp dầu mỏ có chuẩn bị nhìn nhận biến đổi khí hậu? Và liệu người tiêu dùng tại các quốc gia cả giàu lẫn nghèo có sẵn sàng từ bỏ tiếng rú của động cơ xăng cho tiếng kêu o o của động cơ pin?

Quỳnh Anh
The Economist


* James’ Corner built 1925. Inter-war free classical, see the curved building facade on the right.

George James (1855-1938) was a prominent citizen, butcher, businessman, man of property, alderman and twice mayor of Katoomba Council (1909-1910, 1914-16). As a member of the Council Parks and Reserves Committee he was active in establishing many of the lookouts and walking tracks we have today. Among the many buildings he owned and erected in Katoomba, he considered the James’ Building his proudest achievement for the town, his home McClintock in Abbotsford Rd is now a B&B. Four of his five sons also became butchers and operated James Bros quality butchers at Circular Quay in the 1920s.

The King's Theatre can be seen on the left of Katoomba St. with the words Casino de luxe & roof garden cafe on the facade. By 1931 the casino was no longer operating and the building was demolished in 1937, this suggests a date of 1926-1930 for the photo, James' building was opened in 1925 and looks fairly well used, so 1930s will do.

The motor car, centre foreground, is an Austin 7, produced 1922-39.

Cuộc chạy đua công nghệ để vượt qua pin lithium-ion

Argonne National Laboratory* (DuPage County, IL). Photo courtesy DiscoverDuPage.

Cuộc tấn công đối với ngành sản xuất pin: Thế hệ pin tiếp theo cần phải rẻ bằng một phần ba hiện nay.

Ông Don Hillebrand, từng làm trong ngành công nghiệp động cơ ở Mỹ, có một công việc rất hấp dẫn. Trong một nhà kho tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne kiên cố, vốn được trường Đại học Chicago xây dựng cho Dự án Manhattan, ông thực hiện công việc kiểm tra kỹ lưỡng xe hơi, xe tải và pin lithium-ion do nước ngoài sản xuất để khám phá bí mật công nghệ và chia sẻ kiến thức tìm được với Bộ Năng lượng – cơ quan thuê ông, và đối tác bạn bè của Bộ trong Ba công ty xe hơi lớn hàng đầu.

Các kỹ sư của ông đã tháo rời động cơ của một mẫu xe Honda mới nhằm khám phá công nghệ tiết kiệm năng lượng và sau đó áp dụng "kỹ nghệ đảo ngược" để chắc chắn rằng đã nắm được toàn bộ công nghệ. Họ cũng thực hiện công việc tương tự với pin lithium-ion, mặc dù hiếm khi họ tháo dỡ hoàn toàn cục pin ra. Khi làm như vậy, họ sẽ phải thực hiện trong căn phòng chống cháy nổ, ông Hillebrand vui vẻ nói.

Phần lớn công nghệ khoa học đằng sau những chiếc pin xuất phát từ Mỹ (trớ trêu thay, đến từ các phòng thí nghiệm của Exxon Mobil, tập đoàn dầu khí lớn nhất của Mỹ), nhưng lại được Sony của Nhật Bản thương mại hóa lần đầu tiên vào năm 1991. Mỹ hiện đang chạy đua để bắt kịp với Nhật Bản và Hàn Quốc, hai đối thủ phía trước, mặc dù Trung Quốc cũng là một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ. "Những người châu Á đi trước chúng ta mười năm," ông Hillebrand cho biết.

Trong cuốn sách "The Powerhouse", tác giả Steve LeVine đã miêu tả cuộc chạy đua này là "cuộc chiến pin vĩ đại". Chiến thắng trong cuộc chiến này có thể không chỉ cách mạng hóa giao thông, mà còn có thể gây ra một cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn nhất mọi thời đại. Mỹ đã nổi lên từ chiến thắng trong một vài lĩnh vực; chẳng hạn, các nhà khoa học tại Argonne đã phát triển cực âm niken-coban-mangan được sử dụng trong các xe điện lai sạc điện (plug-in hybrid) của Chevy Volt. Nhưng mối quan tâm của Bộ Năng lượng lại bị chia rẽ, bởi vì Bộ vừa muốn phát triển loại pin có thể chấm dứt ngành công nghiệp dầu mỏ, nhưng đồng thời vẫn phải chăm lo cho các ngành công nghiệp năng lượng khác, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt tự nhiên.

Ông Hillebrand tin rằng phải nhiều thập kỷ nữa cho đến khi pin đánh bật dầu mỏ ra khỏi nhóm các nguồn năng lượng, đặc biệt là nếu giá dầu vẫn ở mức thấp. (Một trong những nhà khoa học cao cấp của ông, Amgad Elgowainy, lái một chiếc Volt, và cho biết rằng với giá xăng 2 USD một gallon, ông vẫn thích đổ đầy nhiên liệu hơn là sạc pin cho xe.)

Tuy nhiên, trong một bộ phận khác tại Argonne, được gọi là JCESR (Trung tâm hợp tác nghiên cứu dự trữ năng lượng), các nhà khoa học đang cố gắng tiến xa hơn pin lithium-ion để làm cho mức năng lượng của pin đặc hơn gấp năm lần (có nghĩa là pin nhỏ hơn và nhẹ hơn) với chi phí chỉ còn một phần năm. Các nhà khoa học thử nghiệm nhiều loại vật liệu khác nhau cho cực dương, cực âm và điện giải rồi chạy thử những phát hiện đó qua nhiều chu kỳ xả và nạp điện nhằm nỗ lực sản xuất pin an toàn hơn và hiệu quả hơn.

George Crabtree, giám đốc JCESR, cho biết một trong những phát hiện được ưa chuộng hiện nay là pin lithium-lưu huỳnh, mặc dù còn nhiều việc phải làm về vấn đề số chu kỳ sạc mà pin có thể chịu được. Mục đích là cho ra được pin xe chạy điện, chẳng cần biết dựa trên lithium hay không, với chi phí dưới 100 USD một kilowatt giờ, nhằm cung cấp năng lượng cho một chiếc xe được bán ra với giá 20.000 USD. Bất chấp những nỗ lực của Tesla, ông không tin rằng lithium-ion có thể đạt được yêu cầu đó. "Với giá dầu thấp như hiện tại thì giá pin thậm chí phải thấp hơn nữa để đem đến thay đổi," ông nói. Một số người cũng lo ngại rằng sản xuất lithium ở Nam Mỹ và những nơi khác có thể không đủ cung cấp cho một cuộc cách mạng giao thông. Nhưng nỗi sợ hãi cao điểm lithium có thể quá sớm như cao điểm dầu.

Quỳnh Anh
The Economist


* Site of the Advanced Photon Source X-ray project and one of the country's premier facilities for energy-related research and development. Visitors must be at least 16 years old. Tours by appointment.

Chính trị gia kiêm ngôi sao nhạc rock của Ukraine: Cánh chim đầu đàn

Một ngôi sao nhạc trẻ đang cố gắng vực dậy đất nước trong thời chiến.

Nhà lập pháp không được thừa nhận*. Photo courtesy U.S. Embassy Kyiv Ukraine.

Đám đông này đã bắt đầu xếp hàng từ 6 giờ sáng ở Mariupol, một thị trấn công nghiệp nằm gần biên giới phía đông Ukraine. Bấy giờ là cuối mùa xuân, và nhóm nhạc rock Okean Elzy sắp có buổi biểu diễn tại đây. "Có thể chúng ta chỉ được thấy họ một lần trong đời", một thanh niên đang xếp hàng chia sẻ. Khoảng 30.000 người đã kéo đến đây để nghe nhạc và gặp thủ lĩnh của họ, Svyatoslav Vakarchuk (ảnh). "Cậu ấy là tiếng nói của thế hệ trẻ hiện nay, tiếng nói của các tác nhân thay đổi," sử gia Yaroslav Hrytsak người Ukraine nói.

Vakarchuk là con trai của một nhà vật lý tại thành phố Lviv ở miền tây Ukraine, và lần xuất hiện nổi bật nhất gần đây của anh không phải ở một buổi hòa nhạc mà là một bài phát biểu đánh dấu sự trở lại với đấu trường chính trị. (Anh làm việc tại Nghị viện từ năm 2007 đến năm 2008.)

Giữ lập trường chống lại đường lối chính trị đặc trưng mà các nhà lãnh đạo Ukraine thường dùng để đánh lạc hướng dân chúng khi cải cách thất bại, Vakarchuk cho thấy tầm nhìn rõ ràng về thân phận người Ukraine trong thế kỷ 21. "Chúng ta cần chấm dứt việc xây dựng nhà nước dựa trên lòng yêu nước công dân (blood patriotism = chủ nghĩa dân tộc?), và bắt tay xây dựng một nhà nước dựa trên lòng yêu nước lập hiến", anh tuyên bố. "Chúng ta không sát cánh vì có chung quá khứ, di sản, huyết thống hoặc ngoại hình, mà bên nhau vì các giá trị chung, lối sống, quy tắc và một hiến pháp."

Trong suốt lịch sử Ukraine "Những người tạo nên bản sắc dân tộc hầu hết là các nhà văn và nhà thơ," ông Hrytsak giải thích. "Nhiều người nghiêng theo chủ nghĩa dân tộc rất mãnh liệt." Taras Shevchenko, nhà thơ từng giúp hệ thống hóa tiếng Ukraine hiện đại vào giữa những năm 1800, đã đề xuất một chủ nghĩa dân tộc tách khỏi nước Nga mẫu quốc. "Hỡi những cô gái lông mày đen đậm, yêu ai thì yêu, đừng yêu đám Nga Moskali," ông cảnh báo trong "Kateryna", mượn một lời giễu cợt người Nga của dân Ukraine. "Với những người Moskali xa lạ/Họ sẽ không đối xử tốt với các cô đâu."

Đối với một nước Ukraine hậu Maidan (phong trào biểu tình ủng hộ dân chủ trên các quảng trường ở Ukraine từ năm 2013), ông Vakarchuk muốn thay thế chủ nghĩa dân tộc dựa trên sắc tộc này bằng một hình thức vì công dân hơn, để vượt qua những chia rẽ vùng miền đang kìm hãm đất nước. "Vấn đề là những người nói tiếng Ukraine và những người nói tiếng Nga đều chỉ lén lút hoạt động", ông Vakarchuk nói. "Chúng ta nên đồng lòng vì mong muốn xây dựng một xã hội công bằng." Tuy nhiên, các cuộc cải cách của Ukraine càng dè dặt bao nhiêu, thì các chính trị gia càng tận dụng yếu tố lịch sử và ngôn ngữ để chia rẽ dân tộc bấy nhiêu. "Hiện thực cuộc sống càng tồi tệ, chúng ta càng nói nhiều về những chuyện đã qua" Mykhailo Minakov, một nhà triết học chính trị nói.

Rất nhiều người hâm mộ Vakarchuk đang khao khát về một nhà lãnh đạo biết truyền cảm hứng như vậy, mong mỏi anh này sẽ quay lại chính trường. Trang Ukrainskaya Pravda đưa tin, chính quyền Tổng thống Petro Poroshenko đã chấm cho anh một lượng phiếu lớn, khoác cho anh diện mạo của một đối thủ tiềm năng. Tuy nhiên, Vakarchuk khẳng định anh có thể làm được nhiều hơn với âm nhạc của mình. Trong ca khúc thành công mới được phát hành năm ngoái "Cuộc chiến này không của riêng anh", có câu: "Một trận chiến lúc bình minh, khi mặt trời còn trong màn sương / Mấy ai biết sẽ ra sao / Những thanh niên tương lai mơ mộng gì / Người mang hy vọng, người nặng âu lo."

Phương Anh
The Economist


* Senator McCain in Kyiv, Dec. 14, 2013. Svyatoslav Vakarchuk & Volodymyr Klichko

"Let the cobbler stick to his last" nghĩa là gì?

Photo courtesy Hans Splinter.

'Let the cobbler stick to his last' = hãy để yên cho người thợ làm việc với khuôn giày của mình (let the shoemaker not go beyond his shoe, the gunman to his linstock) -> không nên khuyên ai những gì thuộc về chuyên môn của họ (do not advise someone in matters outside your area of expertise); đừng 'múa rìu qua mắt thợ', hoặc nghĩa gần tương tự là: ai ở lĩnh vực nào thì chỉ biết việc đấy thôi, không 'xía' vào việc khác -> giống (đàn bà) 'biết gì mà nói', (đàn bà) 'đ.. không qua ngọn cỏ' ('don't let the cobbler make pronouncements on anything above the sole').

Ví dụ
We believe in: “Let the cobbler stick to his last.” Which means people should only concern themselves with things they know something about.

The once well-known sixteenth-century proverb "Let the cobbler stick to his last" is basically dead today since the profession of the cobbler is disappearing.

There’s an old proverb that says, “Let the cobbler stick to his last.” That’s good advice for politicians who want to get involved in fisheries matters. Let legislators stick to drafting laws, so that they can give us good bills such as the Magnuson-Stevens Fishery Conservation and Management Act (Magnuson-Stevens). And let scientists stick to doing science and managing fisheries in the way that the authors of Magnuson-Stevens had always intended.

The cobbler stick to his last: Although in the digital age, photography has become popular and democratized to infinity; photographic available to all who has a smartphone cameras being, the quality of your photographs will inform your potential customers the quality of their work, products or services.

Phạm Hạnh