Journey in Life: 08/07/13

Wednesday, August 7, 2013

Chủ nghĩa ái quốc và bảo hộ nổi lên ở Vương quốc Anh

Bưu phí 'Người Anh dùng hàng Anh', năm 1932. Nguồn: Three Centuries Postal History.

Tháng 4/2012, giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc 'Một người Anh yêu nước ngày nay sẽ không mua bất cứ thứ gì từ nước ngoài, nếu có thể,' như tờ New York Times đưa tin vào cuối tháng Tư năm 1932.

Những phụ nữ thượng lưu khi mua một chiếc ví da cá sấu cũng phải được trấn an rằng cho dù da được nhập khẩu, thì tất cả nhân công, tay nghề là trong nước.

'Kể cả các bà vợ tầng lớp dân cư lao động, những người với ngân sách gia đình, ví dụ, $10/ một tuần, cũng nhất quyết rằng những chiếc nồi và chảo mà họ mua tại các cửa hàng 10 xu phải thật sự là hàng Anh.'

Những nỗ lực này là một phần trong chiến dịch 'Người Anh dùng hàng Anh' (Buy British), nhằm khuyến khích người Anh mua hàng hóa trong nước để thể hiện lòng yêu nước và hỗ trợ nền kinh tế - và đã được thúc đẩy (bolster) bởi một đợt chủ nghĩa bảo hộ Anh bất thường, báo hiệu những thay đổi kinh tế xã hội rộng lớn sắp tới.

Trước khi xảy ra làn sóng kiểm soát tiền tệ và rời bỏ (defection) bản vị vàng bắt đầu từ mùa thu năm 1931, hầu hết các nước đã cố gắng thúc đẩy công nghiệp nội địa và giảm dòng tiền chảy ra ngoài nước bằng cách tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.

Nhưng nước Anh không nằm trong số này; vì thương mại tự do là cẩm nang (gospel) ở đây.

Kết quả là, Vương quốc Anh đã trở thành 'nơi trút' (dumping ground) hàng hoá, mà nếu vận chuyển đến nơi khác - như Mỹ, chẳng hạn - có thể sẽ phải chịu (slap with) mức thuế 40 % đến 50%.

Vì vậy, nhiều hàng nhập khẩu ở Anh rẻ hơn so với bất cứ nơi nào khác, nhưng khi mua chúng sẽ phải gửi đồng bảng Anh ra nước ngoài. Điều này làm xấu can cán thương mại của Vương quốc Anh, khi hàng hóa do người Anh sản xuất bị đánh thuế ở tất cả các nước nhập khẩu.

Cuối năm 1931, Quốc hội Bảo thủ mới trúng cử đã đối phó bằng cách cho phép các cơ quan có thẩm quyền áp đặt thuế cao hơn đối với một số hàng hóa được lựa chọn. Tháng Hai năm 1932, Quốc hội đã ban hành thuế 10% đối với tất cả (across-the-board) hàng nhập khẩu, sẽ có hiệu lực ngày 1 tháng Ba.

Chính sách mới này đã khiến các nhà xuất khẩu 'chạy đua' để xuất hàng hóa vào các cảng của Anh trước khi thuế có hiệu lực. Vào ngày 29 tháng Hai năm 1932, 127 tàu chở đầy hàng cập cảng London; chưa kể đến một cơn bão đã ngăn khoảng hơn 50 tàu khác vào bến (dock) đúng thời hạn.

Trong vòng một tháng, nước Anh đã trả cho các ngân hàng Mỹ 150 triệu USD trong số 200 triệu USD đến hạn vào tháng Tám, và số người thất nghiệp đã giảm 146.000 như là kết quả của nhu cầu sản xuất hồi sinh, tờ New York Times đưa tin.

Mức thuế này, tuy không cao so với các nước khác, nhưng cũng đã khuyến khích 70 công ty Anh sản xuất các mặt hàng mà trước đây phải nhập khẩu, tờ New York Times đưa tin.

Chiến dịch 'Người Anh dùng hàng Anh' là sự mở rộng hợp lý chủ nghĩa dân tộc mới mẻ mà những phương cách (shift?) này khuyến khích. Nhưng nếu căn cứ vào việc, trong hơn 80 năm trước đó, Vương quốc Anh đã theo đuổi chủ nghĩa thương mại tự do cả trên lý thuyết cũng như thực tế, thì sự bùng nổ chủ nghĩa bảo hộ yêu nước này đã khiến nhiều người bất ngờ.

Như tờ New York Times giải thích: 'Cảm giác được tham gia vào một trận chiến kinh tế tài chính lớn - trọng yếu như chiến tranh, nếu không hoàn toàn cay đắng như vậy - đã thấm nhuần ý thức người Anh và tạo ra tinh thần đoàn kết quốc gia ấn tượng đến mức gây ngạc nhiên và làm 'xấu hổ' (embarrass) cả Thủ tướng Chính phủ.'

Tuy nhiên, có những lo lắng dai dẳng về sự đoàn kết mới này.

'Đoàn kết quốc gia là một điều đáng ngưỡng mộ', tờ Times viết.

'Nhưng nó chỉ luôn đạt được khi (mỗi người) phải chấp nhận hi sinh.' (But it is invariably achieved at the expense of tolerance?).

Những lời nói khôn ngoan - mà sẽ ngày càng đúng khi Đại Khủng hoảng tiếp diễn.

Sơn Phạm
Bloomberg

Tiền tư nhân ở Mombasa

Cộng đồng dân cư sinh sống tại khu ổ chuột (slum) tên là Bangladesh ở Mombasa (thành phố lớn thứ hai Kenya, với hơn 1 triệu dân) đã tạo ra đồng tiền chứng từ (voucher currency) dùng để trao đổi lẫn nhau. Đồng tiền được gọi là Bangla-Pesa (pesa nghĩa là tiền trong tiếng Swahili) và các chứng từ thật sự rất đẹp. Ví dụ như dưới đây:

Các mệnh giá khác, bạn đọc xem thêm ở đây.

Ý tưởng đằng sau đồng tiền chứng từ này để giúp cư dân, những người thường xuyên phải đối mặt với nhiều biến động thu nhập, điều hòa tiêu dùng (consumption smoothing). Cách thức hoạt động như sau:

"Các doanh nghiệp là thành viên của Mạng lưới Kinh doanh Bangla đăng ký tham gia chương trình, trong đó phân phối một số lượng bằng nhau các chứng từ cho từng thành viên và tất cả các thành viên đồng ý coi các chứng từ như là phương tiện trao đổi. Khi tất cả hoặc một số thương nhân gặp phải tình hình kinh doanh sa sút, họ có thể thực hiện các giao dịch với nhau bằng Bangla-Pesa. Giả sử người cho thuê xe đạp cần phải mua một số đồ từ cửa hàng tạp hóa, anh ta sẽ thanh toán bằng bangla-pesa, tiệm tạp hóa chấp nhận các chứng từ bangla-pesa này. Khi chủ tiệm tạp hóa cần đến một nơi nào đó bằng xe đạp, cô ta quay lại gặp người cho thuê xe (cũng là một thành viên của Mạng lưới Kinh doanh Bangla) và trả tiền thuê xe bằng số bangla-pesa của mình. Các giao dịch này không nhất thiết phải diễn ra đồng thời và đây cũng không phải là một hệ thống thương mại hàng đổi hàng vì các chứng từ được sử dụng để thực hiện giao dịch cho nhiều hàng hóa và dịch vụ giữa các thành viên của Mạng lưới Kinh doanh. Kết quả là, các thương nhân trong các khu ổ chuột này có thể tham gia vào một loạt các giao dịch sử dụng Bangla-Pesa.

Kết quả ban đầu cho thấy Bangla-Pesa thực sự cải thiện cuộc sống của các thành viên. Một cuộc khảo sát cho thấy 83% số thành viên đạt được gia tăng doanh số bán hàng nhờ các chứng từ, trong khi chỉ có 0,05% cho rằng doanh số bán hàng bị giảm. Và chứng từ chiếm số lượng tương đối các giao dịch mà những người tham gia thực hiện, khoảng 22% doanh thu hàng ngày.

Các chương trình như này có thể tăng sự tham gia của cộng đồng và tinh thần, nhưng cũng có một số câu hỏi thú vị cần xem xét trước khi khuyến cáo áp dụng rộng rãi các chứng từ, ví dụ: Việc sử dụng một loại tiền tệ địa phương như này có làm suy yếu mối liên kết với các cộng đồng khác và nền kinh tế lớn hơn không? Tác động lên nền kinh tế như nào nếu nhiều khu ổ chuột khác trong cả nước, thành phố cũng áp dụng tiền tệ bổ sung của riêng mình? Chương trình như này có nên bị giới hạn hoặc điều tiết? Đây có phải là trường hợp "tiền xấu" đẩy "tiền tốt" ra (khỏi thị trường)?

Sơn Phạm
cherokeegothic


Tâm trạng lão niên

Thơ: Minh Lương - Trương Minh Sương. Chép từ blog bác Đinh Văn Khải (blog bác tắt chế độ comment nên gửi lời cám ơn bác ở đây).
End Of The Road, Old Route 66, Arizona. Photo courtesy Don Graham.

Ta như xe cũ chạy không xa
Mòn bánh, máy hư mãi ở nhà
Lúc mới tuyệt vời nhiều kẻ thích
Người thân, bạn quý đến thăm ta.
Photo courtesy Vincent Lock.

Ta như tàu nhỏ, lắm phong ba
Chuyên chở lâu năm khắp nước nhà
Mòn mỏi, đau lòng nhìn quốc biến
Cuối đời - bỏ xác ở nơi xa!
Photo courtesy rachfog.

Ta như cây cổ thụ sân nhà
Bóng mát cháu con - chắn bão qua
Cằn cỗi, gãy cành, khan nhựa sống
Trông chờ tin nhạn - các con xa!

Ta như trâu yếu lúc chiều tà
Ra sức kéo cày giúp thế gia
Trả nghiệp xong rồi - nằm tưởng nhớ...
Sức tàn, lực kiệt chẳng còn xa!

Ta như ngựa chiến mãi xông pha
Mỏi mệt, đau chân lúc tuổi già
Luyến tiếc thời xuân bao mộng đẹp!
Qua rồi số phận phải bôn ba.

Ta như đò nhỏ giúp sang sông
Đưa khách bốn phương lúc rạng đông
Thời gian mục nát - nằm tàn tạ!
Tự hỏi mọi người có nhớ không?
In Monmouth Battlefield State Park just after Hurricane Sandy passed. Photo courtesy joiseyshowaa.

Ta như ngôi biệt thự tan hoang
Hư hoại nhiều năm, không chỉnh trang
Thưở mới khánh thành lộng lẫy lắm!
Không gì tồn tại với thời gian.
Photo courtesy Newtown grafitti.

Ta như trái chín ở trên cây
Gió bão đong đưa sắp rụng đầy
Muốn thấy cháu con vui hưởng quả
Những ngày còn lại thế gian này!

Ta như những cánh chim xa quê
Mong đợi có ngày bay trở về
Khi đất nước thanh bình tự chủ
Nhưng tàn đời vẫn sống trong mê!

Ta như sương khói lúc chiều đông
Tươi tỉnh phút giây cũng động lòng
Hơi thở ra rồi, không trở lại
Cuộc đời huyễn mộng - Có thành Không!

Bài trước: Edison - Thơ châm ngôn

"Caught in the middle" nghĩa là gì?

Never get caught in the middle... Photo courtesy Antonio D'Emanuele.

'Caught in the middle' có từ middle nghĩa là ở giữa. Thành ngữ này có nghĩa là bị mắc kẹt giữa hai ý kiến hay hai nhóm đối nghịch nhau.

Ví dụ
“Ever since my mother came to live with us, life has been difficult. She and my wife don’t get along (không hòa thuận). If one wants one thing, the other is complaining about it. It’s a constant battle (cãi nhau liên miên). And I don’t like being caught in the middle (đứng giữa chịu trận). They should settle (giải quyết) their differences (bất đồng) without expecting me to get involved.”

“My boss isn’t making my job very easy. He assumes that I’ll always be supportive (ủng hộ) of his decisions. The problem is that I think some of his ideas aren’t good for the company. As a result, I find myself torn (giằng xé) between wanting to be loyal and wanting to be honest. How can I overcome (vượt qua) feeling caught in the middle (mắc kẹt ở giữa)?”

Huyền Trang
VOA