Journey in Life: 08/16/14

Search This Blog

Saturday, August 16, 2014

Lễ hội Hanukkah là gì?

Little Chanukiah. Photo courtesy Robert Couse-Baker.
(bài từ tháng 11/2013)

Với người Do Thái trên toàn thế giới, một lễ hội quen thuộc hàng năm để kỉ niệm sự tái lập tôn giáo của họ trở về dạng thuần khiết nhất sau thời kì bị ngoại bang đàn áp đã sắp bắt đầu. Nhưng với người Do Thái ở Mỹ, lễ kỉ niệm năm nay có chút khác thường và cũng hơi khó xử: nó trùng với lễ Tạ ơn cũng rất lâu đời của toàn thể người dân Mỹ.

Lễ hội ánh sáng Hanukkah kỉ niệm sự tái lập Đền thờ Jerusalem, tâm điểm thờ phượng của người Do Thái, sau cuộc nổi dậy (uprising) chống lại sự cai trị của những người gốc Hy Lạp (Hellenised ruler) đến từ phía đông Địa Trung Hải. Những kẻ thống trị này đã cố gắng bắt người Do Thái phải theo tục lệ và văn hóa của người Hy Lạp với giáo phái đa thần (pagan). Sự khiêu khích lên đến đỉnh điểm năm 167 TCN khi hoàng đế Antiochus ra sắc lệnh (decree) lập bệ thờ (altar) thần Zeus trong Đền thờ. Hoàng đế cũng cấm lễ cắt bao quy đầu (circumcision) và yêu cầu phải hiến tế lợn (the ritual sacrifice of pig). Hai năm sau, cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình Hy Lạp thành công và những người Do Thái thắng trận tuyên bố Đền thờ Jerusalem phải được thanh tẩy khỏi những ảnh hưởng tà đạo và được thánh hóa trở lại (reconsecrate). Lễ hội ánh sáng Hanukkah tái hiện sự kiện này kéo dài 8 ngày đêm và trong đó có nghi thức thắp menorah – một chân đế đặc biệt gồm 8 nhánh để cắm 8 ngọn nến cộng thêm ngọn nến thứ 9 thắp sáng 8 ngọn kia cắm ở giữa. Các ngọn nến tượng trưng cho phép màu tương truyền đã ghi dấu cho sự hiến dâng lại: một chút dầu ô-liu đủ để thắp sáng ngọn menorah trong Đền thờ trong vòng 8 ngày.

Hanukkah là một lễ hội Do Thái tương đối nhỏ nhưng có vai trò quan trọng như một sự kiện gia đình ở các nước phương Tây để đối trọng với lễ Giáng sinh (the Nativity of Jesus Christ) của người Cơ đốc giáo. Lễ hội Hanukkah rơi vào khoảng cuối tháng Mười Một tới cuối tháng Mười Hai; năm nay lễ hội tới sớm và gần như trùng với thời điểm tất cả người Mỹ thuộc mọi tôn giáo nhớ về cách các Cha hành hương (the Pilgrim Fathers) - các tín đồ Thanh giáo Anh, những người tiên phong lập thuộc địa của châu Âu ở Tân Thế giới, đã hưởng hoa trái từ vụ mùa đầu tiên của họ với lòng biết ơn. Hanukkah bắt đầu vào đêm 27 tháng Mười Một trong khi lễ Tạ ơn năm nay rơi vào ngày 28.

Một số gia đình Mỹ sẽ phải chọn giữa món khoai lang truyền thống của lễ Tạ ơn và món bánh khoai tây latkes hay khoai tây chiên bằng dầu là đặc trưng của Hanukkah. Cả các Cha hành hương và cuộc nổi dậy chống triều đình Hy Lạp của người Do Thái đều vì quyền được thực hành tôn giáo với tất cả sự tinh khiết và chặt chẽ của nó. Có lẽ thế là đã đủ điểm chung để mang hai lễ kỉ niệm này gần với nhau.

Đăng Duy
The Economist

Vì sao trị liệu gen đã trở nên dễ dàng hơn?

Gene therapy. Photo courtesy 1Droid JamLos.

Một số bệnh như máu khó đông (haemophilia) và xơ nang (cystic fibrosis) do khuyết tật gen gây ra. Các bác sỹ từ lâu đã mơ tới việc chữa các bệnh này bằng cách thêm những phiên bản hoạt động bình thường của các gen này vào các mô liên quan (tủy xương [bone marrow] và biểu mô [epithelium] của phổi trong trường hợp hai bệnh này). Việc này rất khó. Cũng đã có một vài thành công được xác nhận từ vài năm qua, gần đây nhất là các nỗ lực phục hồi thị lực cho những người bị chứng mù liên quan đến gen. Nhưng trị liệu gen kiểu này nhiều khả năng vẫn chỉ dừng ở mức thử nghiệm và nhỏ lẻ trong thời gian dài bởi rất khó để đưa được đủ số gen vào số tế bào cần thiết trong mô để có tác dụng đáng kể.

Tuy nhiên gần đây, một số cách tiếp cận mới đã được đưa ra. Một số liên quan đến chỉnh sửa gen thay vì cố gắng thay thế chúng. Một số khác tạo ra và đưa những gen mới không tồn tại trong tự nhiên vào bệnh nhân. Cả hai kỹ thuật này đang được áp dụng với các tế bào hệ miễn dịch – thứ chỉ cần tiêm vào máu bệnh nhân để hoạt động. Vì thế có vẻ các kỹ thuật này sẽ được nhân rộng (scale up) theo cách mà đưa gen vào tế bào võng mạc (retina) không thể làm được.

Chỉnh sửa gen có thể được thực hiện theo ít nhất hai cách. Một là phương pháp chỉnh sửa CRISPR-Cas-9, sử dụng các phiên bản sửa đổi của một cơ chế kháng virus tìm thấy ở vi khuẩn hoạt động bằng cách nhận dạng và cắt những chuỗi cụ thể của DNA base (các “chữ cái” của mã di truyền). Cách còn lại, nuclease ngón tay kẽm, kết hợp một loại protein gọi là ngón tay kẽm cũng có khả năng nhận dạng các chuỗi base nhất định (nhiệm vụ tự nhiên của nó là gắn chặt vào các phần của DNA ‘bật, tắt’ gen), với một enzym gọi là nuclease để cắt DNA. Phương pháp nuclease ngón tay kẽm vừa mới được kiểm tra trong một thử nghiệm chống AIDS, được sử dụng để phá vỡ các gen của những protein giúp HIV xâm nhập các tế bào của hệ miễn dịch.

Tạo ra và chèn gen mới cũng được dùng để tác động lên hệ miễn dịch – trong trường hợp này để tăng cường khả năng tiêu diệt ung thư. Các tế bào với tên gọi thụ thể kháng nguyên khảm (chimeric antigene receptor) là tế bào của hệ miễn dịch được ghép thêm một gen có khả năng nhận dạng tế bào ung thư và kích hoạt tế bào miễn dịch chứa nó khi đã khóa mục tiêu. Tế bào với thụ thể kháng nguyên khảm phù hợp do đó trở thành những tên lửa hành trình chống ung thư. Các nhà nghiên cứu tập trung vào chỉnh sửa tế bào hệ miễn dịch bởi có thể dễ dàng tách chúng từ máu bệnh nhân. Chúng có thể được tinh chỉnh, nhân lên với số lượng lớn rồi đưa trở lại cơ thể bệnh nhân không mấy khó khăn. Và do chúng được lấy từ chính người bệnh nên sẽ không có nguy cơ kích động phản ứng miễn dịch. Vì vậy, tuy vẫn đang ở giai đoạn đầu, có vẻ như các phương pháp trị liệu gen này sẽ trở nên phổ biến trong tương lai.

Đăng Duy
The Economist

Màu vẽ cho họa sĩ được làm như nào?

Blue cockerel in Trafalgar Square, London. Photo courtesy Andy Hay.

Trong bộ bách khoa toàn thư cổ ‘Lịch sử tự nhiên’ xuất bản thế kỉ I sau công nguyên của mình, Pliny (Pliny the Elder) viết các họa sĩ Hy Lạp giỏi nhất chỉ cần bốn màu để làm nên những tác phẩm bất tử: đen, trắng, đỏ và vàng. Tuy nhiên, trên thực tế lại chẳng có tác phẩm nào của họ còn tồn tại đến nay nên hoặc là họ không theo lời khuyên này, hoặc là Pliny đã sai. Dù sao thì nhiều thế kỉ sau, số lượng màu vẽ (paint pigment) đã tăng lên nhanh chóng. Ngày nay, nhà cung cấp vật liệu mỹ thuật thành lập năm 1832 của Anh - Winsor & Newton có tới 119 màu dầu tiêu chuẩn. Bộ màu cho người nhập môn cũng có ít nhất 6 màu. Làm thế nào bảng màu (palette) của các họa sĩ có thể phong phú đến vậy?

Trộn màu khác với trộn ánh sáng. Khi bạn trộn tất cả các màu trong dải quang phổ (light spectrum) bạn sẽ được ánh sáng trắng như Newton đã chỉ ra (quá trình này được gọi là phối trộn/cộng màu – additive mixing) nhưng nếu làm như vậy với tất cả các màu trong bảng màu, hỗn hợp nhận được sẽ gần như là màu đen (loại trộn/trừ màu - subtractive mixing). Để được những màu tổng hợp đẹp như xanh và tím (purple), các màu dùng để trộn ban đầu phải nguyên chất hết mức có thể. Từ thời cổ đại (antiquity) tới thế kỷ 19, phần lớn màu được khai thác từ lòng đất như màu xanh dương ultramarine tới ép từ xác các loài không xương sống (invertebrate) như màu tím tyrian chế từ xác khô con rệp son (cochineal), hay điều chế từ các phản ứng hóa học đơn giản (màu gỉ đồng – verdigris). Không cái nào hoàn toàn nguyên chất. Một vấn đề khác là rất nhiều màu không ổn định. Một số không thể pha trộn mà không làm mất màu hoặc ăn mòn (eat away) vải vẽ (canvas) - như những người mua thời kì đầu của Turner, người nổi tiếng chọn màu cẩu thả, tức tối nhận ra.

Một số màu mới được tìm ra một cách tình cờ: năm 1856, chàng trai 18 tuổi William Perkin đang cố gắng tổng hợp (synthesise) kí ninh (quinine) trong căn chòi của bố mình thì vấp phải (stumble across) hỗn hợp mà sau này cậu quảng cáo với tên gọi thuốc nhuộm tím mauveine. Nhưng rất nhiều màu khác là kết quả của các nỗ lực đồng bộ trong thế kỉ 19 để mở rộng phạm vi và giảm chi phí cho màu dùng trong công nghiệp. Màu xanh dương ultramarine là một vấn đề như vậy. Màu xanh dương ổn định và sáng nhất này từng được chiết xuất cẩn thận từ đá lapis lazuli khai thác ở các mỏ vùng Sar-e-Sang phía bắc Afghanistan rồi vận chuyển theo Con đường Tơ lụa đến Venice. Do đó, nó có giá đắt cắt cổ (exorbitantly expensive). Năm 1824, Hiệp hội Khuyến khích Công nghiệp Quốc gia (Société d'Encouragement pour l'Industrie Nationale), một đoàn thể công nghiệp Pháp, trao thưởng 6.000 franc cho người làm ra được màu xanh ultramarine nhân tạo. Hai nhà hóa học, một người Anh và một người Đức, đồng thời công bố cùng một công thức. Màu xanh tổng hợp của nhà hóa học Pháp có cùng công thức hóa học với màu thật nhưng chi phí sản xuất rẻ hơn, các hạt bằng nhau và không pha tạp.

Pierre-Auguste Renoir được cho rằng đã nói ‘Không có sơn trong tuýp thì không thể có những người mà giới nhà báo gọi là nghệ sĩ trường phái Ấn tượng (Impressionists)’. Ống sơn kim loại đương nhiên quan trọng nhưng làn sóng màu tổng hợp cũng vậy, thể hiện rõ ràng qua triển lãm mang tên ‘Making Colour’ mở cửa tháng này ở Phòng trưng bày Quốc gia (National Gallery) London. Màu tổng hợp đem lại lựa chọn cho người mua và giải thoát nghệ sĩ khỏi việc phải vất vả tự pha màu vẽ. Nếu không có sự bùng nổ của các màu làm từ aniline, chrome và cadmium ấy, rất nhiều ngành công nghiệp non trẻ (fledgling industry) sẽ gặp bất lợi trầm trọng (severely handicapped) và các tác phẩm từ ‘The Skiff’ của Renoir đến bức tượng con gà trống xanh dương khổng lồ (giant blue cockerel sculpture) của Katarina Fritsch đặt tại Quảng trường Trafalgar sẽ không thể được thực hiện.

Đăng Duy
The Economist

Làm cách nào phi thuyền Rosetta lại có thể bay theo quỹ đạo hình tam giác?

Rosetta near Mars, Feb 2007. Photo courtesy Bruce Irving.

Bạn không cần phải là Galileo mới nhận ra có điều gì đó bất thường về quỹ đạo phi thuyền Rosetta của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (European Space Agency) bay vòng quanh sao chổi (comet) 67P/Churyumov-Gerasimenko mà nó đã bắt kịp ngày 6 tháng Tám sau hơn một thập kỉ: quỹ đạo này hình tam giác với các cạnh tròn (rounded edges). Làm thế nào và vì sao phi thuyền này lại di chuyển theo quỹ đạo (trajectory) hình tam giác (triangular) như vậy?

Người xưa tin rằng các thiên thể (heavenly bodies) hoàn hảo và di chuyển theo đường tròn. Trái Đất được coi là tâm của những đường tròn đó nhưng điều này lại không phù hợp với sự chuyển động quan sát được của các hành tinh (một số có vẻ đi lùi [retrograde] – ngược với hướng nguyên thủy của các ngôi sao). Để giải thích vấn đề này, các nhà thiên văn học (astronomer) Hy Lạp sáng tạo ra lý thuyết ‘ngoại luân’ (epicycle) đề xuất rằng các thiên thể quay xung quanh Trái đất theo những vòng tròn nhỏ mà chính chúng lại quay quanh những vòng tròn lớn. Sau đó, năm 1543, Copernicus cho thấy những chuyển động quan sát được của các hành tinh có thể dễ dàng giải thích được bằng giả định chúng quay theo những quỹ đạo tròn với tâm là Mặt Trời thay vì Trái Đất. Nhưng điều này cũng không hợp lý hoàn toàn và Johannes Kepler đã đi một bước xa hơn, chứng minh vào năm 1609 rằng quỹ đaọ của các hành tinh thực ra hình elip chứ không phải những đường tròn hoàn hảo. Cuối thể kỉ đó, Isaac Newton chứng minh rằng quỹ đạo hình elip là chính xác nếu định luật nghịch đảo bình phương (inverse-square law) của ông về trọng lực là đúng, hàm ý rằng đó là sự thật.

Vậy làm thế nào Rosetta lại có thể di chuyển theo hình tam giác? Gian lận mà thôi. Vài ngày một lần, phi thuyền lại sử dụng ống phóng (thrusters) để rẽ ở mỗi góc của hình tam giác. Rosetta sẽ giữ khoảng cách 100 km với sao chổi trong hai tuần trước khi rút ngắn xuống 70 km. Các cạnh dài của hình tam giác và lượng nhiên liệu cần đốt cháy để rẽ ở các góc sẽ cho phép người điều khiển tàu quan sát ảnh hưởng từ trọng lực của sao chổi và xác định khối lượng (mass) của nó. Vấn đề càng phức tạp khi sao chổi có hình dáng kỳ quái khiến trọng trường (gravitational field) của nó cũng bất thường. Tháng sau, khi đã xác định được khối lượng và hiểu được trọng trường của sao chổi, Rosetta sẽ đi vào một quỹ đạo tròn với khoảng cách 30 km. Sau khi quan sát thêm, phi thuyền sẽ chuyển qua một quỹ đạo elip với điểm gần nhất cách sao chổi 10 km.

Về kỹ thuật, đường bay của Rosetta không phải một quỹ đạo thực sự vì nó không di chuyển dưới một mình ảnh hưởng của trọng lực như cách Mặt Trăng quay quanh Trái Đất hay Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Nhưng khi bạn đã mất tới 10 năm bay quanh (loop) hệ Mặt Trời chỉ để đuổi kịp một sao chổi, bạn hẳn không muốn làm hỏng chuyện (muck up) vào phút chót. Vì thế, Rosetta đang thận trọng (gingerly) tiếp cận con mồi (quarry) với đường bay tam giác kỳ quái của mình.

Đăng Duy
The Economist

"Get it off one's chest" nghĩa là gì?

Gánh nặng người mẹ trẻ 20 tuổi có con gái 4 tuổi. Photo courtesy Diamond Farah.

'Get it off one's chest' (shared via VOA) có từ get off là lấy ra khỏi, và chest là cái ngực. Lấy một điều gì ra khỏi ngực mình, tức là nói ra một nỗi băn khoăn, hay một mối lo để mình cảm thấy nhẹ người, không còn phải lo nghĩ nữa.

Ví dụ
It would be a definite relief to get things off her chest, to know that she was no longer alone in all of her struggles.

The players were given extra training instead and we had a team meeting, at which we got a few things off our chest.

For anybody in a situation like I was in or he was in: Come forward as quickly as possible. Because once you get it off your chest, the healing starts. If you have to live with it, it drives you crazy.

I know something is bothering (đang làm em băn khoăn) you. Why don’t you just tell me. I’m sure you will feel better if you get it off your chest (thổ lộ ra).

You’ve been acting (cư xử) funny (có vẻ lạ lùng) all night. At first I thought you were going to break up with (chia tay) me and didn’t know how to get it off your chest. I couldn’t believe that you and our friends would throw me such a wonderful birthday party!

Popular Now