Journey in Life: 05/04/15

Search This Blog

Monday, May 4, 2015

Các nước tính GDP như thế nào?

Taktsang Palphug Monastery*. Photo courtesy Arian Zwegers.

Ngày 19 tháng Ba, khi công bố ngân sách hàng năm của Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Bộ trưởng Tài chính George Osborne vui mừng thông báo rằng nền kinh tế Anh được dự báo sẽ tăng trưởng với tỷ lệ hàng năm 2,7% trong quý đầu tiên của năm 2014, mức tăng trưởng nhanh nhất trong số các nước giàu. Tuy nhiên, các nhà phê bình đáp lại rằng trong khi sản lượng của Mỹ và Đức đã đạt đỉnh trước khủng hoảng thì Vương quốc Anh vẫn sẽ chưa đạt được điều này cho đến nửa cuối năm nay. Chỉ số dễ nhận thấy (data-point) trong bộ dữ liệu đang được bàn đến trong cả hai trường hợp này là tổng sản phẩm quốc nội, hay GDP, tức là tổng giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một nền kinh tế trong một năm. GDP có vai trò kinh tế rất quan trọng; hàng ngàn nhà kinh tế sử dụng ước tính tổng số tiền chi tiêu hoặc thu được (tương ứng) mỗi năm trong nghiên cứu của họ. Các chính phủ cũng dựa rất nhiều vào con số này để hình thành chính sách hoặc xác định mức chi tiêu công có thể chi trả. Tuy nhiên, GDP dường như rất khó để đo lường trong một nền kinh tế hiện đại. Các nước tính GDP như thế nào?

Các nhà kinh tế Anh và Pháp bắt đầu ước tính tổng thu nhập trong hai nền kinh tế này từ cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17, với muc tiêu chủ yếu là để giúp giới cầm quyền tìm ra cách thức tăng thu thuế. Tuy nhiên, phải đến tận đầu thế kỷ 20 khi mà các kỹ thuậ thống kê cũng như nhu cầu của chiến tranh khiến chính phủ phải quan tâm hơn đến kế toán quốc gia thì người ta mới thường xuyên đưa ra được những ước tính chính xác. Ở hầu hết các nền kinh tế lớn, ước tính GDP hàng năm xuất hiện từ những năm 1930, do những khó khăn trong cuộc Đại Khủng hoảng. Simon Kuznets, một di dân Nga vào nước Mỹ, được coi là người ước tính GDP đúng đầu tiên, để trình lên Quốc hội Mỹ vào năm 1934. Các chính phủ thời kỳ này quyết tâm quản lý tăng trưởng và suy thoái kinh tế và do đó đòi hỏi phải có số liệu được cập nhật thường xuyên. Thế chiến II bùng nổ và những nhu cầu kinh tế kéo theo đã buộc chính phủ phải nắm chắc nhiệm vụ đo lường kinh tế trong tay. Kể từ đó, các cơ quan thống kê của chính phủ chịu trách nhiệm ước tính và công bố GDP.

Sản lượng có thể được đo bằng ba cách (về mặt lý thuyết là tương đương nhau): bằng cách cộng tất cả số chi tiêu mỗi năm, tổng số thu nhập mỗi năm hoặc , hoặc bằng cách cộng tất cả giá trị gia tăng mỗi năm. Một số nền kinh tế, trong đó có Vương quốc Anh, kết hợp cả ba phương pháp trên để đưa ra một con số GDP duy nhất, trong khi những quốc gia khác, như Mỹ, đưa ra các số liệu thống kê khác nhau với mỗi phương pháp kể trên. (GDP Mỹ được ước tính thông qua cách tiếp cận chi tiêu; GDI, hay tổng thu nhập nội địa, theo cách tiếp cận thu nhập) Dữ liệu được thu thập từ nhiều điều tra nhỏ. Văn phòng Phân tích Kinh tế Mỹ lấy dữ liệu từ các cuộc khảo sát từ các nhà sản xuất, xây dựng và các hãng bán lẻ, cũng như từ các luồng tài chính và thương mại, và nhiều nguồn khác. Những dữ liệu này được sử dụng để ước tính các thành phần của GDP, như tổng mức đầu tư và xuất khẩu ròng. Do cần có nhu cầu dữ liệu kịp thời, ước tính sơ bộ được công bố và sau đó là sửa đổi khi có thêm thông tin. Theo khoảng thời gian dài hơn các dữ liệu thống kê GDP đượcchỉnh sửa lớn hơn, cả hai nhằm xem xét lại dữ liệu và hiệu chuẩn lại (recalibrate) các mô hình thống kê cơ bản.

Với tất cả ưứng dụng của nó, GDP là một thước đo không hoàn hảo. Mức độ hữu ích của số liệu thống kê cho những mục đích khác nhau là khác nhau. GDP thực tế hay GDP đã được điều chỉnh lạm phát, được dùng để so sánh các số liệu ở các thời điểm khác nhau, trong khi GDP bình quân đầu người là số liệu hữu ích nhất để thấy được mức tăng trưởng thu nhập cá nhân. Một số người cho rằng GDP có thể gây nhầm lẫn. Số tiền chi cho các hoạt động gây ô nhiễm, hoặc điều trị y tế không hiệu quả, được tính vào GDP nhưng không phản ánh bất kỳ cải thiện nào trong phúc lợi quốc gia. Trên thực tế, một số ít những nhà tư tưởng sáng tạo (outside-the-box) còn cho rằng chỉ số này nên được loại bỏ hoàn toàn. Năm 1972, vua Bhutan công bố kế hoạch tập trung vào "tổng hạnh phúc quốc gia". Trong những năm gần đây, một số nhà lãnh đạo tại các nước giàu trên thế giới đã nỗ lực nghiên cứu xem liệu thống kê hạnh phúc có hữu ích hay không. Trong khi đó, tiền chi cho các dự án này cũng sẽ được tính vào GDP như từ trước đến nay.

Phương Thùy
The Economist


* A prominent Himalayan Buddhist sacred site and temple complex, located in the cliffside of the upper Paro valley, in Bhutan.

A temple complex was first built in 1692 at a cave where Guru Padmasambhava (Guru Rinpoche) meditated in the 8th century A.D.
Legend states that Guru Rinpoche flew to the site atop the back of a tigress and meditated in the cave for three years, three months, three days and three hours in order to subdue evil demons residing within it. The cave has been considered a sacred site ever since and many famous saints have travelled to meditate in it.

Padmasambhava is credited with introducing Buddhism to Bhutan and is the tutelary deity of the country. Today, Paro Taktsang is the best known of the thirteen taktsang or "tiger lair" caves in which he meditated.

Vì sao Trung Hoa đang thành lập một "Ngân hàng Thế giới" cho châu Á?

Photo credit: The Moscow Times.

Ngoài các ngân hàng phát triển quốc tế hiện có (ADB, AfDB, CAF, EBRD, IADB), giờ đây sẽ thêm một chữ viết tắt nữa: AIIB, hay tên đầy đủ là: Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á. Ngày 24 tháng Mười, đại diện 21 nước châu Á đã ký thỏa thuận thành lập AIIB, ngân hàng mà tên gọi cho thấy, sẽ cấp các khoản vay để xây dựng đường giao thông, tháp điện thoại di động và các loại hình cơ sở hạ tầng khác cho những khu vực nghèo ở châu Á. Trung Hoa dẫn đầu nỗ lực (spearhead) thành lập ngân hàng này và hy vọng sẽ chính thức đưa nó đi vào hoạt động vào cuối năm tới. Rõ ràng việc có thêm tiền cho các dự án quan trọng là dự định tốt, nhưng AIIB đã làm dấy lên tranh cãi bởi vì châu Á đã có tổ chức cho vay đa phương, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Vì sao Trung Hoa đang thành lập một ngân hàng phát triển mới cho châu Á?

Câu trả lời chính thức của Trung Hoa là châu Á có một khoản tiếu hụt tài trợ lớn cho cơ sở hạ tầng. ADB đã công bố bù đắp thiếu hụt ở mức khoảng 8 nghìn tỷ USD từ năm 2010 đến năm 2020. Những tổ chức hiện tại không có khả năng bù đắp thiếu hụt này: ADB có cơ sở vốn (khoản tiền đã được nộp và khoản cam kết nộp của các quốc gia thành viên) chỉ hơn 160 tỷ USD và Ngân hàng Thế giới là 223 tỷ USD. AIIB sẽ bắt đầu hoạt động với số vốn là 50 tỷ USD – chẳng thấm gì so với nhu cầu nhưng là một bước thúc đẩy hữu ích. Hơn nữa, trong lúc các khoản vay ADB và Ngân hàng Thế giới hỗ trợ tất cả mọi thứ từ bảo vệ môi trường đến bình đẳng giới, thì AIIB sẽ tập trung toàn bộ sức lực của mình vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Chí ít thì các quan chức ADB và Ngân hàng Thế giới đã chính thức chào đón ngân hàng mới này do Trung Hoa khởi xướng, và cho hay họ đã thấy cơ hội hợp tác.

Tuy nhiên, đằng sau hậu trường thì sáng kiến này của Trung Hoa đã gây ra một cuộc chiến ngoại giao gây cấn. Mỹ đã vận động các đồng minh không tham gia AIIB, trong khi Jin Liqun, một quan chức Trung Hoa sẽ là tổng giám đốc ngân hàng này, đã đi lại như con thoi giữa nhiều quốc gia để thuyết phục họ gia nhập nỗ lực trên. Tại buổi lễ khánh thành ngân hàng, Australia, Indonesia và Hàn Quốc đã vắng mặt, điều khiến nhiều người để ý. Trước công chúng, nước Mỹ và một số đồng minh phản đối (hold-out) sáng kiến này nêu quan ngại về vấn đề thiếu rõ ràng trong cách quản lý AIIB. Những người chỉ trích cảnh báo rằng ngân hàng do Trung Hoa khởi xướng này có thể không đạt được những tiêu chuẩn môi trường, lao động và đấu thầu cần có đối với sứ mệnh của người cho vay phát triển. Tuy nhiên, Trung Hoa đã nhất quyết rằng AIIB sẽ áp dụng nghiêm ngặt các thông lệ tốt nhất của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới. Căn cứ vào việc ngân hang sẽ được giám sát chặt chẽ như vậy, có lý do chính đáng để tin tưởng lời cam đoan của Trung Hoa.

Nhưng những căng thẳng thực tế không được nói ra bắt nguồn từ một sự thay đổi sâu sắc hơn: Trung Hoa sẽ sử dụng ngân hàng mới này để gia tăng ảnh hưởng, làm phương hại đến Mỹ và Nhật Bản, những cường quốc lâu năm ở châu Á. Quyết định tài trợ một ngân hàng đa phương mới của Trung Hoa thay vì đầu tư thêm vào các ngân hàng hiện tại phản ánh sự nóng lòng của quốc gia này khi chứng kiến tốc độ chậm chạp trong cải cách quản trị kinh tế toàn cầu. Đây cũng chính là lý do Ngân hàng Phát triển mới được thành lập bởi khối BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Hoa và Nam Phi). Mặc dù Trung Hoa là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á, nhưng ADB do Nhật Bản thống trị; cổ phần có quyền biểu quyết của Nhật Bản gấp hai lần số cổ phiếu của Trung Hoa và chủ tịch ngân hàng này luôn là người Nhật Bản. Những cải cách nhằm trao thêm quyền cho Trung Hoa tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã bị trì hoãn trong nhiều năm, và thậm chí nếu có được thông qua thì Mỹ vẫn sẽ nắm giữ quyền lực lớn hơn rất nhiều. Điều dễ hiểu là Trung Hoa không thể mãi chờ đợi sự thay đổi. Do đó quốc gia này đã tự mình giải quyết vấn đề.

Phương Thùy
The Economist


Vì sao tỷ lệ sinh ở Nhật Bản lại thấp đến vậy?

Photo courtesy Mikael Leppä.

Tháng trước, một giới chức địa phương ở quận Aichi, Nhật Bản đã đưa ra một đề nghị táo bạo. Ông Tomonaga Osada gợi ý rằng các nhà chức trách có thể cung cấp bao cao su đã được bí mật chọc thủng cho các cặp vợ chồng trẻ, như vậy họ có thể thúc đẩy tỷ lệ sinh. Đề xuất của ông không được mấy người ủng hộ, nhưng nó phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng về tình hình nhân khẩu học của Nhật Bản. Năm ngoái tại Nhật chỉ có hơn 1 triệu trẻ em được sinh ra, ít hơn rất nhiều so với số lượng cần thiết để duy trì dân số nước này, được dự kiến sẽ giảm từ 127 triệu người xuống còn khoảng 87 triệu người vào năm 2060. Vì sao người Nhật lại miễn cưỡng khi nghĩ tới việc sinh con đến vậy?

Chu kỳ suy giảm nhân khẩu học đang quay nhanh hơn khi số lượng phụ nữ ở độ tuổi mang thai giảm. Trong tháng Năm, một báo cáo dự đoán rằng khoảng hơn 500 thị trấn trên khắp cả nước sẽ biến mất vào khoảng năm 2040 vì lý do phụ nữ trẻ di cư đến các thành phố lớn. Lực lượng lao động đã bị thu hẹp, gây ảnh hưởng xấu (imperil) đến tăng trưởng trong tương lai. Trong những năm gần đây chính quyền các địa phương đã bắt tay khởi động vào một loạt (plethora of) các chương trình khuyến khích sinh nở, bao gồm cuốn "Sổ tay phụ nữ" để hướng dẫn phụ nữ trẻ về thời điểm dễ và khó sinh nở, và các sự kiện mai mối do nhà nước tài trợ.

Lý do chính khiến cho tỷ lệ sinh thấp là do giảm tỷ lệ kết hôn. Ngày càng ít người lựa chọn kết hôn, và tuổi kết hôn ngày càng cao. Ít nhất một phần ba phụ nữ trẻ mong muốn chỉ ở nhà làm nội trợ nhưng họ cố gắng tìm những người đàn ông có đủ khả năng tài chính để nuôi dưỡng một gia đình truyền thống. Trong thời kỳ kinh tế phát triển những người có khả năng kết hôn phải có công việc ổn định trong hệ thống "việc làm trọn đời". Hiện nay nhiều người làm việc tạm thời hoặc bán thời gian. Những phụ nữ khác tránh xa hôn nhân và sinh nở bởi vì văn hóa doanh nghiệp xưa cũ của Nhật Bản, cùng với việc thiếu hụt nghiêm trọng dịch vụ chăm sóc trẻ, sẽ buộc họ phải từ bỏ sự nghiệp của mình. Cuối cùng, những người trẻ tuổi đang bị ràng buộc bởi những chuẩn mực xã hội hà khắc. Chỉ có khoảng 2% trẻ được sinh ra ngoài giá thú (so với 30-50% ở hầu hết các nước giàu), có nghĩa là nếu tỷ lệ hôn nhân giảm thì tỷ lệ sinh cũng như vậy. Ngay cả đối với những người thực sự bước chân vào cuộc sống gia đình, chi phí nuôi dưỡng con cái tăng cao thường khiến họ, trên thực tế, như đang phải áp dụng chính sách một con.

Chính phủ chẳng thể làm gì nhiều để có thể trực tiếp tăng hiệu suất phòng the. Tuy nhiên, cải cách thị trường lao động có thể dẫn đến thay đổi tỷ lệ sinh trong dài hạn. Nếu các công ty hy sinh quyền lợi của nhóm nhân viên này để ưu tiên hơn những nhân viên mới, trẻ thì các cặp đôi trẻ sẽ có cơ sở ổn định hơn để kết hôn và chăm lo cho gia đình. Cho đến nay chính phủ của ông Shinzo Abe đã bàn về các biện pháp tương tự nhưng vẫn còn chần chừ (shy away) trong việc tiến hành. Thay vào đó, ông Abe tiến hành các biện pháp giúp đỡ phụ nữ cân bằng giữ nghề nghiệp với việc chăm con. Nhiều nhà nhân khẩu học cho rằng đã là quá muộn để tiến hành nâng cao tỷ lệ sinh của Nhật Bản, hiện ở mức 1,43 con trên một phụ nữ. Họ cho rằng câu trả lời cuối cùng sẽ gây nhiều choáng váng hơn cả biện pháp bao cao su thủng (spiked prophylactic) nói ở trên: đó là nhập cư hàng loạt.

Phương Thùy
The Economist

Popular Now