Journey in Life: December 2016

Saturday, December 31, 2016

"Sticks and stones may break my bones" nghĩa là gì?

Cape Cod, Massachusetts, United States. Photo courtesy Matt Batchelor.

'Sticks and stones may break my bones (but words will never hurt me)', (gậy gộc và gạch đá có thể làm gẫy xương tôi, chứ lời nói thì chẳng bao giờ), khi bạn nói vậy nghĩa là người khác có nói hay viết điều xấu gì về bạn thì cũng không làm bạn tổn thương hay buồn phiền (something that you say which means that people cannot hurt you with bad things they say or write about you); chẳng bị "đứt cọng lông chân" nào cả.

Ví dụ
I am sick and tired of world's leaders, politicians and the United Nations coming out and condemning terrorist attacks over and over again and not taking some actions. I wonder if these so-called leaders and the terrorists have ever heard this saying by children in America: "Sticks and stones may break my bones, but words will never hurt me." But I am old school. These leaders need to get some big sticks and large stones and break many bones of these terrorists — until they stop the killings.

Is it just me, or does Cherish Waters already sound like the name of a star? Well, she must know a thing or two about the business of show since she's from Los Angeles, California, according to her show bio. Cherish, 25, reveals in the preview clip showing the first moments of the new season that she was bullied in school for being the only redhead. "Sticks and stones may break my bones, but b*tch, you don't even faze me," she says in response to her haters. Sounds like someone already has a catchphrase!

Phạm Hạnh

Yakiniku Gensan - Ẩm Thực Nhật Bản

Tất niên, 31/12/2016,
ngày mai là em được 50 tuần tuổi...

Địa chỉ: 149 Bùi Thị Xuân, Phố Huế, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 04 3974 0493

Friday, December 30, 2016

"Stick to my ribs" nghĩa là gì?

Photo courtesy Alpha.

'Stick to one's ribs' nghĩa là (món ăn) thịnh soạn, hậu hĩ và bổ dưỡng (be filling and nourishing); ngoài ra còn có nghĩa là (điều gì) khiến bạn nhớ mãi (last long).

Ví dụ
The meal was an opportunity to distill dining to its essence: something to stick to my ribs, and something to go to my head.

I was excited to hear that the restaurant would be serving "cowboy fare" and looked forward to dishes that would stick to my ribs.

I find myself craving something warm in late fall, hearty carbs that will stick to my ribs and (unfortunately) bulk me up for winter — call it a hibernation instinct.

I can't believe how far I've come, and I know this trip will stick to my ribs forever.

Phạm Hạnh

Làn sóng toàn cầu hóa thứ ba có lẽ là làn sóng dữ dội nhất

Sailing from Dublin Port. Photo courtesy William Murphy.

Kinh tế toàn cầu trong quá khứ và tương lai: Trước tiên là tự do trao đổi hàng hóa, sau đó sẽ đến tự do trao đổi thông tin. Nhưng đà này có thể sẽ dừng lại ở việc tự do trao đổi con người.

Bill Clinton từng gọi toàn cầu hóa là "lực đẩy kinh tế tương đương với lực
tự nhiên, giống như gió và nước". Nó thúc đẩy các quốc gia chuyên môn hóa và trao đổi, khiến các quốc gia giàu có hơn, và thế giới nhỏ hơn. Trong cuốn "The Great Convergence" ("Cuộc hội tụ vĩ đại"), Richard Baldwin, nhà kinh tế học tại Geneva, cho biết thêm một chi tiết quan trọng: như gió và nước, toàn cầu hóa rất mạnh mẽ, nhưng có thể có tính chất hay thay đổi hoặc thậm chí là phá hoại. Trừ khi những khái niệm được yêu thích bắt kịp với thực tế, nếu không các chính trị gia sẽ bị thúc đẩy thực hiện nhiều sai lầm nghiêm trọng.

Trong thế giới mơ ước của một nhà kinh tế học, hàng hóa, thông tin và con người sẽ tự do di chuyển qua mọi biên giới. Thực tế khó khăn phức tạp hơn nhiều, và mọi thứ đều ít tính di động hơn—đến mức tổ tiên loài người bị mắc kẹt trong các nền kinh tế làng xã. Các hạn chế về thương mại đã từng bó buộc cả tiêu thụ và sản xuất, hạn chế cả hai phát triển.

Lý thuyết tổng quát của tác giả Baldwin về toàn cầu hoá là một loạt hành

Thursday, December 29, 2016

Amsers 94 - 97_Year End Party_2016


Bài trước: Người về từ Texas

Super Mario trở thành biểu tượng văn hóa toàn cầu như thế nào?


Một thợ sửa ống béo lùn người Ý sống ở Mỹ, được tạo ra ở Nhật Bản và được yêu thích trên toàn thế giới.

Quán izakaya [loại quán rượu có phục vụ đồ nhậu, thường có không gian thân mật ở Nhật-ND] có tên riêng, nhưng không được phép công bố. Vị trí của quán là một bí mật được giữ kín. Khách của quán chỉ giới hạn cho các thành viên—người nổi tiếng, giới truyền thông và otaku [từ chỉ những người quá say mê truyện tranh, phim hoạt hình, hoặc trò chơi điện tử ở Nhật-ND], quán này đặc biệt dành cho người đam mê văn hoá đại chúng. Khách không đến đây vì đồ ăn, mặc dù đồ ăn ở đây rất tuyệt vời, và cũng không đến vì các loại đồ uống được pha rất khéo. Họ đến để gặp Toru "Chokan" Hashimoto, từng làm việc cho Nintendo và hiện là chủ quán, và gặp bạn bè của ông để nghe những câu chuyện của họ. Trên tường treo hình Pikachu, nhân vật nổi tiếng trong trò chơi Pokémon, được vẽ bởi chính những người sáng tạo ra trò chơi khi họ ghé qua quán. Trên bức tường khác là bản nhạc gốc từ một trò chơi Nintendo cổ điển, món quà từ chính nhà soạn nhạc. Ngoài mặt tiền và trung tâm quán là hình vẽ Mario có chữ ký của Shigeru Miyamoto.

Mario là một thợ sửa ống nước với hàm ria đặc biệt người Ý lai Mỹ đến từ Brooklyn, là sáng tạo nổi tiếng nhất của ông Miyamoto. Ông cũng là nền tảng cho cơ đồ của Nintendo; David Gibson, nhà phân tích tại Macquarie Securities đồng thời là người môi giới, ước tính những trò chơi hài hước của ông chiếm đến một phần ba doanh thu phần mềm công ty bán ra trong mười năm qua. Những trò chơi ông tham gia đã bán được hơn 500 triệu bản trên toàn thế giới. Hình ảnh của ông xuất hiện trên tất cả mọi thứ: áo phông, cốc uống nước, và thậm chí trên mặt dây chuyền bằng vàng.

Tại lễ bế mạc Thế vận hội mùa hè Rio, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã xuất hiện hoành tráng ăn mặc giống như anh thợ sửa ống nước mũm mĩm Mario. Nhiều khán giả trên toàn thế giới đã không khỏi ngạc nhiên tột độ. Nhưng chắc chắn phần lớn khán giả đã mỉm cười theo cách người ta sẽ cười khi gặp một điều bất ngờ nhưng hoàn toàn phù hợp. Liệu Nhật Bản có thể dùng trang phục nào khác để chào đón thế giới đến Tokyo, địa điểm tổ chức Thế vận hội mùa hè lần tới, tốt hơn hình ảnh anh chàng quen thuộc được cả thế giới nhận ra? Khi dùng bữa tối tại nhà hàng Singapore ngay sau đó, ông Abe cũng được các thực khách khác nhận ra. Nhìn kìa, họ thì thầm với nhau, đó là Mario.

"Donkey Kong", trò chơi trong đó Mario xuất hiện lần đầu tiên, được sinh ra từ thất bại. Năm 1980, công ty đồ chơi Nintendo đang cố gắng xâm nhập vào thị trường trò chơi giả lập của Mỹ khi đó đáng giá 8 tỷ USD. Nhưng trò "Radar Scope", bắt chước trò "Space Invaders" được công ty đặt nhiều hy vọng là một thất bại. Hiroshi Yamauchi, người đứng đầu Nintendo, đã giao cho ông Miyamoto công việc cải tiến trò chơi.

Yamauchi đã thuê ông Miyamoto làm nhân viên thiết kế đầu tiên của công ty từ ba năm trước. Trước đó, ông Miyamoto không hoàn toàn thích thú với công việc đi làm ở một công ty. Nintendo cũng không có nhu cầu đối với nhân viên thiết kế. Tuy nhiên, cha của ông Miyamoto sắp xếp một cuộc gặp giữa hai người, và Yamauchi tỏ ra thích thú anh chàng trẻ tuổi tóc xù có sở thích với phim hoạt hình và nhạc bluegrass.

Ý tưởng đầu tiên để làm lại "Radar Scope" nhằm thu hút người chơi là mua bản quyền anh chàng thủy thủ Popeye làm nhân vật chính của trò chơi. Nhưng các thỏa thuận về bản quyền không thành công, và ông Miyamoto tạo ra một nhân vật mới từ đầu. Được làm như vậy ông có cảm giác khá tự do. Cốt truyện của trò chơi—anh hùng giải cứu cô gái khỏi con khỉ đột—không đòi hỏi cốt truyện hay động lực từ nhân vật chính. Chủ yếu anh ta chỉ việc nhảy.

Ông Miyamoto muốn nhân vật của mình là một người bình thường với công việc bình thường, nên ông đã tạo ra nhân vật là một anh công nhân trung niên mũm mĩm—ban đầu là một thợ mộc. Một số quyết định thiết kế được thực hiện do những hạn chế kỹ thuật của màn hình có độ phân giải thấp: người hùng cần có một bộ ria mép rậm rạp để phân chia ngăn cách giữa mũi và cằm; cần đội mũ vì tóc gây ra vấn đề khi nhân vật chỉ nằm trong khoảng 16 điểm ảnh một mặt; nhân vật cần mặc quần áo màu tươi sáng để nổi bật trên nền đen.

Tên của nhân vật thì cần suy nghĩ thêm. Đặc điểm quảng cáo nổi bật của trò chơi luôn dẫn đến con khỉ đột. (Từ "Kong", trong ngữ cảnh, gần như đã được quyết định; từ "Donkey" được tìm ra khi tham khảo từ điển Nhật-Anh cho một từ có nghĩa là ngớ ngẩn hay ngu ngốc.) Nhân vật chính chỉ đơn giản được gọi là "Người nhảy" vì đó là điều anh ta rất giỏi. Nhưng Minoru Arakawa, ông chủ của Nintendo tại Mỹ, muốn có một cái tên dễ tiếp cận thị trường hơn. Khoảng thời gian đó, David Sheff kể lại trong "Game Over" -- cuốn sách về sự trỗi dậy của Nintendo -- rằng ông Arakawa đã bị chủ nhà giận dữ tới gặp tại kho của Nintendo ngoài Seattle để yêu cầu thanh toán gấp tiền thuê. Chủ nhà có tên là Mario Segale, và ông ta có một bộ ria mép. Số phận đã run rủi như thế.

"Donkey Kong" là một thành công lớn. Trước đó, Nintendo mới chỉ bán được 1.000 bản "Radar Scope" ở Mỹ; nhưng "Donkey Kong" đã bán được hơn 60.000 bản trong hai năm đầu tiên. Các phần tiếp theo tiếp tục ra đời, bao gồm trò "Mario Bros" vào năm 1983 chuyển hướng đến các đường cống ngầm ở New York. Mario đã bỏ chiếc búa biểu tượng của mình sang hình ảnh chiếc mỏ lết và trở thành thợ sửa ống nước; nhân vật cũng có thêm một người em, Luigi.

Chúng ta hãy-bắt đầu!
Trong cùng năm đó Nintendo phát hành máy tính gia đình, Famicom, tại Nhật Bản. Chiếc máy chơi game hai màu đen trắng cho phép game thủ chơi các tựa game giả lập trong nhà riêng là một thành công cực lớn. Ông Hashimoto, gia nhập công ty vào năm 1984 (và hiện giờ đang kinh doanh quán rượu bí mật ở Tokyo) cho biết nhu cầu mạnh đến nỗi các kỹ sư từ trụ sở Kyoto của Nintendo được cử đến các cửa hàng để giúp bán hàng. Đến năm 1985 hai trong mỗi năm hộ gia đình ở Nhật Bản có một chiếc máy Famicom.

"Nhân vật này chẳng sửa ống nước cũng không kể về bản thân"

Năm 1985 Famicom được phát hành tại Mỹ dưới tên Nintendo Entertainment System, cùng với trò "Super Mario Bros." bao gồm trong giá bán. Trò chơi mới xoay quanh nhiệm vụ của Mario đi giải cứu công chúa Peach khỏi Bowser, con rùa khổng lồ hung ác. Dù câu chuyện thiếu nữ mắc nạn bởi những con quái vật khổng lồ dường như quen thuộc nhưng rất ít người đã thực hiện. Trò chơi có khung cảnh bầu trời trong xanh tại thời điểm hầu hết các trò chơi có nền là không gian tối màu. Mario ăn nấm ma thuật để lớn hơn, còn gọi là "Super", và di chuyển từ nơi này đến nơi thông qua các đường ống màu xanh lá cây. "Super Mario Bros." đem đến cả một thế giới để khám phá, tràn đầy những kẻ nấm lùn phản bội ("Goombas"), binh lính rùa ("Koopa Troopas") và thực vật ăn thịt người ("Piranha Plants"). Trò chơi chứa đầy những mẹo chơi và màn chơi bí mật. Không giống bất kỳ thứ gì người ta từng thấy.

Ông Miyamoto gọi nó là "đỉnh cao vĩ đại", lấy những điểm tốt nhất trong cách chơi từ những tựa game khác của Nintendo để sản xuất một trò chơi mới có thể chơi hàng giờ và khiến người ta chơi đi chơi lại. Trẻ em—và cả phụ huynh—dành nhiều thời gian cuộc đời trong vương quốc của ông Miyamoto. "Super Mario Bros." bán ra 40 triệu bản và thương hiệu game Mario không bao giờ dừng lại; tựa game này tiếp tục sản xuất ra hơn 200 trò chơi, một số chương trình truyền hình và một bộ phim dở tệ đáng nhớ. Đến năm 1990 trẻ em Mỹ đã quen thuộc với Mario hơn là chuột Mickey.

Trong những năm 1990 và 2000 Nintendo tiếp tục là nhà sản xuất đầy lợi nhuận các trò chơi, máy giả lập tại nhà và hệ thống chơi game cầm tay. Kể ra thì, công ty đã được đánh giá cao như vậy. Năm 1991, khi được hỏi công ty máy tính nào ông thấy đáng sợ nhất, chủ tịch của hãng máy tính Apple đã trả lời là: "Nintendo".

Hai công ty có một số điểm tương đồng. Cũng như hệ điều hành của Apple được làm ra cho điện thoại cùng máy tính xách tay do chính công ty thiết kế và bán, Mario và đại gia đình chỉ có thể chạy trên phần cứng của Nintendo. Chiến lược đó, kết hợp với chính sách của công ty nhằm hấp dẫn thị trường đại chúng, các hộ gia đình và game thủ bình thường—chứ không phải phân khúc nhỏ hơn của các game thủ "cứng" vốn là mục tiêu của các công ty đối thủ—đã đưa Nintendo đến thành công lớn hồi những năm 2000. Nhưng khi Apple liên tục đổi mới, tạo ra những loại sản phẩm hoàn toàn mới, Nintendo chỉ đưa ra được một sự đổi mới lớn; hệ máy giả lập Wii, phát hành năm 2006, giải phóng người chơi game ngồi phòng khách khỏi chiếc ghế và cho phép họ sử dụng nhiều phần cơ thể hơn là chỉ ngón tay cái.

Wii ban đầu là một thành công. Nhưng ngay sau đó một trong các hạng mục sản phẩm mới của Apple đã loại bỏ công ty Nhật Bản ra khỏi chính thế giới của mình. iPhone và các dòng sản phẩm sau đó đã khiến game thủ bình thường từ bỏ các thiết bị chuyên dụng và quay sang điện thoại di động. Đến năm 2012—năm năm sau ngày ra mắt iPhone, và không phải tình cờ, năm đầu tiên trong lịch sử với tư cách là công ty cổ phần đại chúng Nintendo đã công bố thua lỗ—thị trường trò chơi trên điện thoại di động có trị giá 13,3 tỷ USD, khoảng một nửa so với thị trường máy giả lập gia đình và các hệ thống chơi game cầm tay. Ông Gibson của Macquarie ước tính đến năm 2018, nó có thể có giá trị bằng một nửa thị trường máy chơi game chuyên dụng.

Nintendo chỉ phát hành có một hệ máy giả lập mới trong kỷ nguyên iPhone, Wii U. Nó đã thất bại. Công ty cũng đã có một số trò chơi mới tuyệt vời, chẳng hạn như "Splatoon", một thành công thương mại quan trọng ra đời vào năm 2015. Nhưng với doanh số bán máy chơi game chậm chạp, rất ít game thủ mới thấy được những trò chơi này. "Switch", đầu máy chơi trò chơi Nintendo sẽ phát hành vào mùa xuân năm 2017, kiêm hai nhiệm vụ là máy giả tập tại nhà và thiết bị cầm tay, cho phép người chơi đem trò chơi theo mình bất kỳ đâu. Nhưng chỉ thoáng nhìn xung quanh tàu điện ngầm Tokyo khẳng định rằng Switch đang giải quyết một vấn đề không tồn tại: các toa xe chen chúc đầy những đàn ông và phụ nữ nhìn chằm chằm vào điện thoại chơi "Candy Crush" hoặc "Puzzles and Dragons".

Vì vậy, Nintendo đang thay đổi chiến lược. Dưới sự điều hành của Satoru Iwata, thay thế cho ông Yamauchi vào năm 2002, công ty tránh mảng trò chơi di động với lý do rằng những trò chơi này có chất lượng thấp và có mô hình trả tiền để chơi nhằm lợi dụng trẻ em. Nhưng vào mùa hè năm 2016 thành công bất ngờ của "Pokémon Go", trò chơi trên điện thoại di động được phát triển bởi Niantic, công ty của Mỹ tách khỏi Google, xác nhận quyết định ngập ngừng trước kia của Nintendo về việc cần thay đổi chiến thuật. Trong một hành động nhằm quảng bá truyền thông, Nintendo đã cử ông Miyamoto tới sự kiện báo chí hàng năm vào mùa thu của Apple công bố "Super Mario Run", trò chơi mới cho iPhone.

Đây không phải là cách duy nhất Nintendo khai thác giá trị tài sản trí tuệ đang sở hữu khi cho phép các tựa game chơi được trên các hệ máy không phải của công ty. Universal sẽ đầu tư 350 triệu USD vào các điểm tham quan chủ đề Nintendo trong công viên giải trí của Universal tại Nhật Bản. Nintendo lại một lần nữa xem xét sản xuất phim Mario.

Lẽ ra phải sớm hơn. Nhân vật được nhiều người nhận ra là một trong những tài nguyên được tìm kiếm nhiều nhất trong ngành công nghiệp giải trí: từ thương hiệu các siêu anh hùng của Hollywood đến công viên chủ đề đến các trò chơi điện tử, một cái tên công chúng đã biết được coi là cách tốt nhất giảm nguy cơ thất bại thua lỗ. Điều này đặc biệt đúng với trò chơi trên điện thoại thông minh. Ban đầu có vài trò mới lạ, chẳng hạn như "Angry Birds", một thành công đến sớm. Nhưng cạnh tranh dần trở nên rất mãnh liệt. Năm 2008, một năm trước khi Angry Birds ra đời, khoảng 250 trò chơi được đưa lên cửa hàng ứng dụng của Apple mỗi tháng. Bây giờ hơn 700 trò chơi được đưa lên mỗi ngày.

Hiện nay các doanh nghiệp cho rằng thành công dựa vào sự quen thuộc. "Pokémon Go" là một trò chơi khá thành công, vốn có tên "Ingress", trước khi tác giả của nó đổi tên thành Pokémon, những con quái vật dễ thương do Nintendo sở hữu một phần. Nó đã được tải về trên nửa tỷ thiết bị. “Stardom: Hollywood" là trò chơi tầm thường về việc đi từ kẻ vô danh đến nổi tiếng cho đến khi nó được Kim Kardashian ký tên và biến thành "Kim Kardashian: Hollywood", ngay lập tức nó trở thành bom tấn.

Được rồi!
Trong không khí đó, sự thành công của "Super Mario Run" không phải bàn cãi. Nhưng liệu nó có đem đến thế hệ mới cho thương hiệu Mario, hay chỉ đơn giản là làm hài lòng những người đã quen thuộc với nó? Những dấu hiệu ban đầu cho thấy điều thứ hai. Được phát hành ngày 15 tháng 12, trò chơi này là sự tái tạo thú vị bản chất của Mario—chính là nhảy—được chỉnh cho phù hợp với màn hình nhỏ. Nhưng với giá 10 USD, trờ chơi này tương đối đắt (dù không có tính năng bổ sung theo hình thức mua hàng trong trò chơi). Và hiện cũng chỉ mới có trên iPhone. Cả hai quyết định đã loại trừ các thị trường mới nổi lớn.

Trong những năm 1990, sự hiện diện không đáng kể của Nintendo ở ngoài các nước phát triển không phải trở ngại đối với sự quyến rũ toàn cầu của Mario. Hàng nhái giá rẻ máy chơi game của Nintendo sản xuất tại Hồng Kông và Đài Loan tràn ngập các nước nghèo, và Mario đi kèm trong đó—thường đúng là trò chơi duy nhất trong vùng. Giờ đây không ai có điện thoại muốn chơi game mà thiếu trò để chơi; và những người mới chơi trên điện thoại không cảm thấy mạnh mẽ cần phải có Mario. Ở Trung Quốc, thị trường game lớn nhất thế giới, Mario rõ ràng không được biết đến nhiều, ông Serkan Toto, nhà tư vấn trò chơi tại Tokyo cho biết.

Khi các trò chơi trên điện thoại tiếp theo "Super Mario Run" chưa thể thành công; sự hấp dẫn của Mario chưa thể bị coi thường. Nhưng đây là một kiểu đặc biệt. "Ở một mức độ nào đó nhân vật này rất cụ thể: một thợ sửa ống nước người Mỹ gốc Ý đến từ Brooklyn, Mỹ", ông Jeff Ryan, tác giả của "Super Mario"-cuốn sách về lịch sử nhân vật này kể lại. "Mặt khác, nhân vật này chẳng sửa ống nước cũng không kể về bản thân. Anh ta chỉ là một hình ảnh đại diện." Điều đó không có nghĩa là bạn có thể thay thế bằng bất kỳ nhân vật đại diện nào khác. Mario đặc biệt, và khác biệt. Chỉ là không có gì Mario hơn là chính Mario.

Ray Hatoyama, người dẫn dắt sự mở rộng toàn cầu của Hello Kitty, nhân vật cô mèo dễ thương không nói được có hình ảnh thu được vài tỷ yên mỗi năm, đã ví sự thành công toàn cầu của các nhân vật như Mario và Hello Kitty với việc xuất khẩu gạo. Bán một nguyên liệu ra nước ngoài dễ hơn; có thể thêm các loại gia vị và thảo mộc để hợp khẩu vị người mua, ông nói. Ngược lại những câu chuyện hoàn chỉnh trong một bối cảnh cụ thể, chẳng hạn như "Doraemon", diễn ra trong trường học Nhật Bản, lại khó bán ra nước ngoài hơn. Bối cảnh quá khác nhau. Nếu hệ thống ống nước và lý lịch của Mario có tính quan trọng, thì đã không thành công đến vậy.

Dù vậy, có một khía cạnh trong bối cảnh của Mario rất quan trọng: sự vui vẻ. Ông Abe xuất hiện tại Rio ăn mặc như Mario không chỉ vì Mario ngay lập tức được nhận diện trên toàn thế giới. Mario là hiện thân của niềm vui khi chơi. Trao đổi với tờ New York Times năm 2008, ông Miyamoto lâu nay sống lánh đời giải thích rằng mọi người thích Mario và các nhân vật của ông "không phải vì chính các nhân vật, mà bởi vì các trò chơi có chúng xuất hiện đều rất vui vẻ. Và bởi vì mọi người thích chơi những trò chơi trước, nên sau đó họ cũng trở nên yêu thích nhân vật." Khi "Super Mario Bros." xuất hiện, nó là trò chơi mà trẻ em và người lớn đều yêu thích. Khuôn mặt vui vẻ của Mario trên vỏ hộp các phần tiếp theo và các trò chơi liên quan đảm bảo có thêm nhiều niềm vui chất lượng cao. Thành công của Mario trở thành tự củng cố. Nếu "Super Mario Run" thành công được với những người chơi trên điện thoại vốn chỉ nhận ra Mario là một biểu tượng văn hoá đại chúng mơ hồ, đó là do trò chơi thực sự hay.

Theo ông Hashimoto, người từng làm việc với ông Miyamoto, các nhân vật của Nintendo luôn phục vụ cho trò chơi, chứ không phải ngược lại: "Bất kỳ điều gì phù hợp thì tốt hơn." Splatoon là một ví dụ: nó có một dàn nhân vật hoàn toàn mới gồm người máy và lũ mực. "Chúng tôi đã không đầu tư vào việc tạo ra nhân vật mới. Chúng tôi chỉ chủ định tạo ra một trò chơi với cấu trúc mới," Hisashi Nogami, nhà sản xuất Splatoon cho biết trong một cuộc trò chuyện tại công ty. Trước khi họ quyết định là con mực, những người sáng tạo Splatoon đã xem xét nhân vật là thỏ hoặc các khối đậu hũ. Nhưng họ quyết định rằng mực là tốt nhất.

Chơi giỏi là chưa đủ. Dù thế giới rất kỳ lạ, khó mà tưởng tượng khách du lịch tại Tokyo ăn mặc như đậu phụ lái xe xung quanh trong những chiếc xe trần bốn bánh, như những người yêu thích trò chơi lái xe "Mario Kart" làm. Những người đàn ông trung niên mặc quần áo bằng vải thô màu xanh và ria mép giả để xem Ấn Độ đấu với Anh tại giải bóng gậy có lẽ sẽ không ăn mặc như con mực với mục đích tương tự, dù tuổi trẻ họ chơi trò gì. Star Club, quầy bar theo chủ đề Mario trong khu vực sống về đêm Shinjuku của Tokyo (và quán café game cũ theo chủ đề 8-bit gần đó), sẽ kinh doanh kém đi đối với cả người hâm mộ nước ngoài và otaku Nhật Bản nếu không có sự hiện diện vui vẻ của bộ ria mép. Tính chất Mario của Mario mới là điều có ý nghĩa.

Nhưng ở quán của ông Hashimoto, giữa những người thực sự rành về trò chơi này, với tất cả những tình cảm mà các nhân vật và người sáng tạo nhận được, trò chơi mới là điểm chính.

Quỳnh Anh
The Economist

Wednesday, December 28, 2016

"Stick his nose in where it’s not wanted" nghĩa là gì?

Muốn lắm chứ. Photo courtesy GollyGforce.

'Stick one's nose in where it’s not wanted' nghĩa là chõ mũi vào việc của người khác (không ai hoan nghênh cả).

Ví dụ
The trouble is these days there are too many town people that don't know any thing about the countryside that stick their nose in where it's not wanted, sorry but it's true.

The happy couple seemed to be angry their baby news was leaked over the weekend, with Deakin, 30, tweeting on Friday: ‘Why do newspapers have to stick their nose in where it’s not wanted?’

Most Mannix episodes boil down to that simple paradigm: Mannix sticks his nose in where it's not wanted, and gets beaten up for his troubles, before he eventually puts the pieces together of the surprisingly dense puzzle...while getting in his own licks before the fade-out.

Phạm Hạnh

Tuesday, December 27, 2016

Ở Nhật Bản, một loại hình trường học mới về kinh doanh đang thực hiện đào tạo lại những công chức làm công ăn lương mệt mỏi chán nản

More businessmen in Tokyo sleep on the street than homeless people. Photo courtesy Jorge Gonzalez.

Nỗi buồn của nhân viên văn phòng: Tuổi thọ tăng lên đồng nghĩa với việc nhiều người không chịu được việc làm suốt đời.

Viện Tài nguyên nhân lực xã hội ở Tokyo là một kiểu trường đào tạo kinh doanh khác thường. Những người tham gia (hai phần ba là nam giới) chủ yếu đã bỏ việc hoặc nhận gói tiền bồi thường thôi việc từ các công ty lớn của Nhật Bản, và đang cố gắng để bắt đầu lại. Xóa bỏ những thói quen cả đời bắt đầu bằng cách xóa bỏ các rào cản: những người từng là nhân viên văn phòng cười lo lắng khi họ chia sẻ về một bữa ăn trưa bento cùng người lạ và bị bịt mắt (ý tưởng là họ phải sử dụng bốn giác quan còn lại để giao tiếp).

Cách thức chuẩn bị cho sự nghiệp mới tiếp theo là khiến họ tương tác với tư cách cá nhân, chứ không phải với tư cách nhân viên của công ty hoặc đối tác kinh doanh, ông Matsuhiko Ozawa -- giám đốc của Viện và là chuyên gia về khóa học kể trên -- cho hay. Ở một đất nước có yêu cầu rất cao với nghi thức giới thiệu, các học viên thậm chí đã không trao đổi danh thiếp. Tên, chức danh và thông tin cá nhân bị cấm (các học viên đều dùng tên giả) để tránh tạo ra hệ thống phân cấp văn phòng kiểu cũ vẫn tồn tại bên ngoài lớp học. "Chúng tôi bắt đầu từ đầu và giúp đỡ mọi người tìm lại chính mình một lần nữa," ông Ozawa nói.

Trong nhiều năm, các nhân viên văn phòng leo lên bậc thang sự nghiệp vốn ít coi trọng kỹ năng hơn so với lòng trung thành và tinh thần làm việc kiên trì chăm chỉ. Mặc dù điều đó thường được coi là truyền thống về trách nhiệm có từ hàng thế kỷ trước ở Nhật Bản, nhưng hệ thống nhân viên văn phòng làm công ăn lương được tạo ra sau thời kỳ 1945, ông Naohiro Yashiro, cựu cố vấn về chính sách kinh tế cho thủ tướng Shinzo Abe, cho hay. Trong những năm bùng nổ sau chiến tranh, các công ty đã tuyển dụng lực lượng lao động là nhân viên chính thức được thuê suốt đời. Tất cả những gì cần làm để được trả lương nhiều hơn là tuổi đời tăng lên.

Đổi lại, đòi hỏi cực cao của các nhà tuyển dụng phải được đáp ứng. Nhân viên không thể từ chối khi bị điều chuyển – thường chỉ thông báo trước một vài ngày – tới công ty con cách xa nhà hàng trăm dặm. Nhiều trẻ em lớn lên vắng bóng người cha. Công việc, chứ không phải gia đình, mới là nguồn lực tinh thần chủ yếu. Nhân viên toàn thời gian người Nhật vẫn làm việc nhiều hơn 400 giờ mỗi năm so với đồng nghiệp ở Đức hay Pháp, ông Kazuya Ogura, chuyên gia về lao động tại Đại học Waseda ở Tokyo, cho hay.

Nhân viên văn phòng vẫn ngoan cường làm việc trong hầu hết các ngành công nghiệp. Ông Abe đã hứa trong một phần cải cách thúc đẩy tăng trưởng là sẽ đem lại nhiều quyền lợi hơn cho những người ở dưới cùng của hệ thống phân cấp – nhân viên bán thời gian và lao động tạm thời với mức lương thấp hơn nhiều – nhưng mới chỉ dừng lại ở bước căn bản, chẳng hạn như quy định buộc các công ty trả mức lương ngang nhau cho công việc như nhau. Mặc dù vậy, đối với nhiều người, việc làm suốt đời đang kết thúc sớm hơn so với trước đây, bởi vì rất nhiều công ty không đủ khả năng trả tiền cho những lao động như vậy đến khi nghỉ hưu. Nhiều người đang là dư thừa so với yêu cầu trong các ngành công nghiệp suy thoái như điện tử tiêu dùng, và khó mà đào tạo lại. Hệ thống này hoạt động tốt tới khi nhân viên khoảng 70 tuổi, ông Ozawa cho biết, nhưng nhiều công ty đang đề nghị đưa ra gói bồi thường nghỉ việc hậu hĩnh cho những lao động chính thức trong biên chế để họ nghỉ việc sớm.

Ngày càng nhiều người tự nguyện nghỉ việc. Hiroyuki Ito, hiện là học viên tại Viện, bước ra khỏi nấc thang sự nghiệp nhân viên văn phòng ở tuổi 45, sau 23 năm làm việc tại công ty. Ông nghỉ việc vì công việc thật quá nhàm chán. "Anh không được mạo hiểm hoặc phiêu lưu," ông nói. Giờ đây ông tham gia vào khóa học ở trường tại Tokyo -- có vài trường tương tự như vậy ở Nhật Bản -- và hy vọng sự nghiệp thứ hai của ông sẽ là giáo viên. Việc đào tạo lại cần thời gian. Các cựu nhân viên văn phòng đến trường hai lần một tuần trong năm tháng để từ bỏ lối suy nghĩ cũ của mình. Sau nhiều thập kỷ làm việc quá sức và nhàm chán đơn điệu, thời gian đó chỉ như một cái nháy mắt.

Quỳnh Anh
The Economist

Tâm An_tuần 5/12


Bài trước: Tâm An_tuần 4/12

"Stick his nose up in the air" nghĩa là gì?

Mũi hếch như bò ngắm sao. Photo courtesy Jeroen Bennink.

'Stick one's nose up in the air' (hếch mũi lên giời) nghĩa là cư xử rất kiêu căng, ngạo mạn (to behave in a haughty manner); dương dương tự đắc.

Ví dụ
We're not some indie coffee shop that sticks our nose up in the air. We're not pretentious about coffee at all, but we have some really good coffee.

If village leadership honestly believes a fence in Barker Common is the start of something big, especially when it arrogantly sticks its nose up in the air to more obvious regional solutions, our economic troubles will only continue to mount.

It’s all about customer experience, golfers could play brilliant golf with no one there, so if they’re playing brilliant golf half of the job is done. From there you need to make sure it’s affordable, markeatble and then you have to create an arena that is conducive to people finding it entertaining. Sport has to be entertainment, we can’t stick our nose up in the air and say ‘my dear boy this is golf’.

Phạm Hạnh

Đi vào vùng hoàng hôn: Khi nhu cầu dầu không còn

Photo courtesy troy_williams.

Thoáng nhìn về kỷ nguyên hậu dầu mỏ.

Stewart Spence từng là một quản lý khách sạn trẻ tuổi ở Aberdeen năm 1971 khi ông lần đầu tiên hiểu được ý nghĩa của cơn sốt dầu. Khách sạn Commodore của ông là nơi duy nhất trong thành phố Scotland có phòng tắm riêng khép kín. Một ngày kia, có một nhà điều hành dầu khí người Mỹ bước vào, mặc quần jean, giày cao bồi và đội mũ phớt. Khi chắc chắn rằng phòng ngủ có nhà tắm riêng khép kín, ông đặt 20 phòng trong vòng sáu tháng và thanh toán trước bằng hối phiếu ngân hàng. Người Mỹ ấy là ông chủ của một công ty dịch vụ dầu mỏ tên là Global Marine, đang vận chuyển ba giàn khoan dầu từ Vịnh Mexico đến Aberdeen. Từ đó bắt đầu bùng nổ dầu mỏ Biển Bắc ở Scotland. Nhà hàng bít tết, xì gà và các từ như công nhân giàn khoan hay thợ giàn khoan bắt đầu trở nên thông dụng. Người Texas nổi tiếng uống champagne Dom Perignon bằng vại. Họ sống cuộc sống giàu sang cho đến khi giá dầu sụt giảm vào năm 1986. Sau đó, họ biến đi nhanh như khi họ đến, ông Spence kể lại.

Kể từ những ngày ấy, dầu mỏ đã mang đến chu kỳ kinh tế lên xuống cho Aberdeen, nhưng chưa bao giờ cảm giác chán nản bao trùm thành phố như hiện nay. Năm 2012, thành phố có nhiều triệu phú trên 100.000 người hơn cả London và có sân bay trực thăng bận rộn nhất thế giới, đưa người lao động ra vào các giàn khoan. Nhưng giá dầu sụp giảm năm 2014 đã nhấn mạnh thực tế là sau gần nửa thế kỷ khai thác, nhiều mỏ dầu ngoài khơi của Aberdeen đã trở nên quá đắt đỏ do đó không bền vững. Số lượng việc làm đã giảm mạnh, và một số nhà sản xuất dầu đang trên bờ vực phá sản.

Khi thế giới bước vào hoàng hôn của thời đại dầu mỏ, một số người băn khoăn liệu khó khăn của Aberdeen có phải là dấu hiệu cho những điều đang đến với ngành sản xuất dầu mỏ trên thế giới. Ông Spence cho là như vậy. Ông vẫn điều hành khách sạn lịch sự nhất ở Aberdeen và sắp cho lắp đặt một trạm sạc cho xe chạy điện.

Không phải vội, nhiều cựu binh ngành công nghiệp dầu mỏ tuyên bố như vậy. Họ đồng ý rằng các khu vực dầu mỏ có chi phí cao như Biển Bắc của Scotland, cát dầu của Canada và vùng Bắc Cực của Nga có thể sẽ gặp rắc rối, nhưng vẫn trông đợi ít nhất một hoặc nhiều cuộc bùng nổ dầu mỏ sinh ra từ đống tro tàn của khủng hoảng ngày hôm nay, bởi vì trong hai năm qua có rất ít đầu tư vào việc tìm kiếm mở ra nguồn cung mới. Trong vài năm tới, họ cho rằng thị trường sẽ lại một lần nữa chuyển từ dư thừa sang thiếu thốn. Những người hưởng lợi lớn nhất là các nhà sản xuất ở những khu vực có chi phí thấp và trữ lượng dầu phong phú như Trung Đông, lưu vực Permian của Mỹ, khu vực tiền-muối (pre-salt) ở Brazil và các khu vực ở Tây Phi. Cho dù những vùng này có thể chứng kiến bùng nổ trong đầu tư, nhưng đó sẽ chỉ là ngắn hạn, bởi vì nhu cầu dài hạn đang giảm và thị trường có thể nhanh chóng trở nên dư cung.

Sau màn đêm
Khi thời điểm suy giảm cuối cùng của nhu cầu dầu mỏ tới thì ngành công nghiệp dầu mỏ, các chính phủ và thế giới nói chung sẽ thế nào? Tác động lớn nhất sẽ là ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào dầu. Theo Jason Bordoff, thuộc Trung tâm về chính sách năng lượng toàn cầu của Đại học Columbia, thì những căng thẳng xã hội hiện nay thể hiện rõ ràng ở các quốc gia có ngân sách phụ thuộc dầu mỏ như Venezuela và Nigeria là lời cảnh báo về tương lai. Các nước vùng Vịnh đang thúc đẩy nỗ lực nhằm đa dạng hóa nền kinh tế tránh phụ thuộc vào dầu, như điều Ả Rập Saudi đã và đang làm. Mỹ có thể phải tính lại đối sách địa chính trị "đổi dầu lấy an ninh" của mình với nước này. Doanh thu từ dầu thấp đi có thể làm tăng bất ổn tại những khu vực như Iraq.

Về phần mình, các công ty dầu mỏ sẽ phải tìm kiếm lĩnh vực kinh doanh mới. Biển Bắc cho thấy một thoáng nhìn về những cơ hội phía trước. Gần khu vực Aberdeen, các công ty như Royal Dutch Shell đang cho ngừng hoạt động các bộ phận trong mạng lưới lớn các giàn khoan và đường ống được lắp đặt từ những năm 1970. Andrew McCallum, cố vấn pháp luật cho Cơ quan dầu và khí đốt của Anh, cho biết các công ty dầu mỏ có thể triển khai kỹ năng rút khỏi dịch vụ ở tất cả các dự án trên toàn thế giới.

Trông đợi ở Na Uy
Statoil, công ty dầu mỏ nhà nước Na Uy, là ví dụ về những việc các công ty dầu mỏ có thể làm trong tương lai. Đầu năm nay công ty này đã giành được hợp đồng cho thuê để xây dựng trang trại gió nổi lớn nhất thế giới 15 dặm ngoài khơi bờ biển Peterhead, phía bắc Aberdeen. Mỗi tuabin trong năm chiếc tuabin 6mW sẽ được gắn vào đáy biển trên một nền thép nổi, cho phép nó hoạt động ở vùng nước sâu hơn so với tuabin thông thường nhúng vào đáy biển. Do đó sẽ có thể tiếp cận với gió mạnh ngoài khơi xa, làm giảm giá thành sản xuất điện.

Quay trở lại Na Uy, Statoil cũng đang triển khai hai dự án để tích trữ CO2 dưới nước, là một trong những ví dụ công nghệ tiên tiến nhất được coi là chìa khóa loại bỏ các chất khí nhà kính trong khí quyển: thu nạp và lưu trữ carbon (CCS). Công nghệ này vẫn tốn kém và còn trong giai đoạn trứng nước, và các chính phủ chỉ hỗ trợ một cách không thường xuyên. Năm 2015, khoảng 28 triệu tấn CO2 được lưu trữ theo cách đó. Để giúp đáp ứng giới hạn 2ºC, Cơ quan Năng lượng quốc tế cho rằng thế giới cần lưu trữ một con số khổng lồ khoảng 4 tỷ tấn mỗi năm vào năm 2040.

Nhiên liệu sinh học là một cách khác nhằm đa dạng hóa. Tại cảng biển Bắc của Rotterdam, Neste, một nhà máy lọc dầu của Phần Lan, nhập chất béo thải ra từ các lò giết mổ trên thế giới và chuyển đổi thành dầu diesel sinh học cho ngành công nghiệp vận tải và hàng không. Nó đắt hơn dầu diesel thông thường, nhưng theo luật của Liên minh châu Âu thì trong hỗn hợp các loại nhiên liệu của các nước thành viên phải bao gồm 10% nhiên liệu sinh học vào năm 2020. Ông chủ của Neste, Matti Lievonen, nhớ lại rằng trong năm 2012 chín phần mười lợi nhuận hoạt động của công ty đến từ tinh luyện nhiên liệu hóa thạch, còn giờ đây năng lượng tái tạo chiếm 40%.

Không phải tất cả các công ty dầu mỏ đều muốn làm nhà sáng tạo. Nhiều công ty lên kế hoạch phát triển thêm khí đốt, nhưng cũng nhấn mạnh rằng nhu cầu của thế giới đối với dầu làm nguyên liệu cho hóa dầu sẽ giúp giữ ngành kinh doanh dầu mỏ tồn tại ngay cả khi nhu cầu từ xe hơi suy yếu. Cơ quan Năng lượng quốc tế dự đoán hóa dầu sẽ tăng nhu cầu dầu mỏ lên gần 6 triệu thùng một ngày trong 25 năm tới. Các công ty dầu mỏ đang tạo áp lực lên các chính phủ nhằm áp thuế carbon, vì tin rằng đó là cách tốt nhất để loại trừ than và thúc đẩy khí đốt tự nhiên, ít nhất là cho đến thời của năng lượng tái tạo và pin. Cho đến hiện nay, các chính phủ thể hiện rất ít sự quan tâm đối với các loại thuế như vậy. Cơ quan Năng lượng quốc tế tính toán rằng thị trường carbon chỉ chiếm khoảng 11% lượng khí thải liên quan đến năng lượng toàn cầu trong năm 2014. Ngược lại, 13% lượng khí thải có liên quan đến việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch được hỗ trợ bởi các khoản trợ cấp tiêu dùng.

Nhiên liệu dùng trong giao thông vận tải bị đánh thuế rộng rãi hơn, nhưng ở mức rất khác nhau, dao động từ cao ở châu Âu đến thấp ở Mỹ và Trung Quốc. Các chuyên gia cho rằng ở Mỹ dễ điều chỉnh mức tiêu thụ nhiên liệu hơn nơi khác thông qua các tiêu chuẩn hiệu quả nhiên liệu, và người tiêu dùng cũng ít để ý tới các tiêu chuẩn này hơn nhiều so với các loại thuế nhiên liệu.

Nhân tố rất quan trọng thường bị đánh giá thấp trong tương lai của dầu mỏ chính là người tiêu dùng. Sự lựa chọn của người tiêu dùng, cùng với lựa chọn của các nhà sản xuất và các chính phủ, sẽ quyết định số phận cuối cùng của dầu mỏ, bởi vì dầu cung cấp năng lượng cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa cho người tiêu dùng, cho những chiếc xe tải vận chuyển hàng hóa, cho xe ôtô đang đi lại và tạo ra biết bao đồ dùng bằng nhựa chất đầy trong nhà.

Báo cáo đặc biệt này bắt đầu bằng cách nhớ lại xe ôtô đã thay thế xe ngựa như thế nào. Các nhà quy hoạch đô thị đã không tìm được cách xử lý các vấn đề liên quan đến phân ngựa. Chính phủ đã mở đường, đặt biển hiệu giao thông và đặt ra luật pháp cho phép chiếc xe có động cơ tự hình thành. Tuy nhiên chính là sự quyến rũ của mẫu xe Model T đối với hàng triệu người tiêu dùng cuối cùng đã loại bỏ xe ngựa khỏi mặt đường.

Tương tự như vậy, các công ty dầu mỏ có thể chuyển sự chú ý sang nhiên liệu thay thế, chính phủ có thể xoay xở với các loại thuế nhiên liệu và phí tắc nghẽn, chi phí sản xuất pin có thể đột ngột giảm xuống và lưới điện có thể được chuyển đổi sang năng lượng mặt trời và gió. Nhưng không một sự phát triển nào trong đó có thể một mình kết thúc kỷ nguyên dầu mỏ. Chỉ khi nào doanh nghiệp có thể nắm bắt được trí tưởng tượng của người dân bằng loại xe mới làm thay đổi hoàn toàn việc đi lại, chứ không phải chỉ là thay đổi nhiên liệu, thì động cơ xăng sẽ bị loại bỏ khỏi mặt đường.

Điều này có thể thành hiện thực với xe ôtô tự lái chạy điện, thậm chí có thể không còn chỉ là những cái hộp bốn bánh di động, mà còn có thể là những văn phòng, khách sạn và trung tâm giải trí di động, chạy êm ru trên đường phố suốt ngày đêm. Hoặc có thể là một đổi mới khác trong tương lai. Một vở kịch mới ở London, "Dầu", dự đoán rằng thời đại hydrocarbon sẽ kết thúc với việc Trung Quốc khai thác Heli-3 trên Mặt trăng làm nhiên liệu cho xe hơi năng lượng hạt nhân và nhà cửa trên Trái đất. Dù hình dung cụ thể trong đầu bạn như thế nào, sẽ vẫn còn có nhiều cuộc chiến tranh và các cú sốc dầu mỏ. Nhưng khi các động cơ đốt trong cuối cùng đánh mất vị thế chủ chốt trên những con đường của thế giới thì thời đại của dầu mỏ cũng đến lúc phanh lại.

Quỳnh Anh
The Economist

Tỏa sáng hay chói sáng? Những nỗ lực hỗ trợ phụ nữ làm việc của Nhật Bản đang suy yếu dần

Photo credit: The Economist.

Tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhưng vị trí của họ lại thấp.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe là nhà tranh đấu trao quyền cho phụ nữ bất đắc dĩ. Từ một người kiên trung với đường lối bảo thủ và là lãnh đạo lâu năm của một đảng phản đối chủ nghĩa nữ quyền, ông Abe đã có sự đổi thay do tình trạng nhân khẩu học đáng báo động của Nhật Bản: lực lượng lao động sẽ giảm khoảng 25 triệu người, tức hơn một phần ba, vào năm 2060. Bà Kathy Matsui thuộc ngân hàng đầu tư Goldman Sachs nói: trong khi đó hàng triệu phụ nữ có trình độ đại học đang phải ngồi nhà với tài năng bị lãng phí. "Nhật Bản sẽ là nước có lợi hơn hầu hết các nước khác nếu tăng tỷ lệ lao động nữ."

Tuy nhiên, bốn năm kể từ khi ông Abe nhậm chức, và 17 năm kể từ khi bà Matsui đặt ra thuật ngữ “nền kinh tế vì phụ nữ” [womenomics - chính sách tăng cường vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế - ND], chính phủ vẫn đang chật vật để giúp phụ nữ Nhật Bản "tỏa sáng", những từ ngữ hoa mỹ để nâng cao vị thế của phụ nữ trong công việc. Theo xếp hạng mới nhất tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Nhật Bản có chỉ số chênh lệch giới tính [đánh giá khác biệt nam nữ trong các lĩnh vực sức khỏe, giáo dục, kinh tế và chính trị - ND] xếp thứ 111 trong 144 quốc gia, đã rớt 10 hạng kể từ năm 2015. Chỉ 9,5% thành viên trong Hạ viện Nhật Bản là nữ, xếp thứ 155 trên thế giới. Dưới sự chỉ đạo của ông Abe, số lượng nữ giám đốc tại các công ty Nhật Bản đã nhích lên khoảng 2,7%.

Chính phủ tuyên bố sẽ thêm một triệu phụ nữ vào lực lượng lao động kể từ năm 2012. Nguyên lãnh đạo cơ quan quốc gia về bình đẳng giới Masako Mori cho biết tỷ lệ 66% phụ nữ tham gia lao động như hiện nay là con số nằm trong top cao nhất thế giới. Những người chỉ trích cho rằng kết quả này phần lớn là do tình hình thị trường lao động đầy căng thẳng (drum-tight) chứ không phải do chính sách đổi mới. Nhận thức được rằng hầu hết các công việc này ở rất thấp trong hệ thống cấp bậc của công ty, chính phủ cũng đã vực lại mục tiêu đặt ra từ chục năm nay: có 30% phụ nữ ở "vị trí lãnh đạo" vào năm 2020. Nhưng sau đó thừa nhận rằng mục tiêu này khó thực hiện được.

Haruko Arimura, nguyên lãnh đạo cơ quan phụ trách hoạt động trao quyền cho phụ nữ, khẳng định chính phủ đã có nhiều hành động nhằm cải thiện vị thế cho phụ nữ hơn là những con số thống kê này: "Lần đầu tiên chúng ta không nói về việc liệu phụ nữ có nên được nắm quyền hay không mà là nắm quyền như thế nào." Bà Arimura đã giúp thông qua một đạo luật mang tính bước ngoặt vào năm ngoái nhằm chấm dứt sự phân biệt giới tính nơi công sở. Các công ty và tổ chức nhà nước trên 300 nhân viên phải công khai số lượng nhân viên và quản lý nữ, và có mục tiêu để hỗ trợ, khuyến khích các đối tượng này. Bà nói mục đích của việc này là làm những ông chủ phải cẩn trọng mà làm tốt hơn.

Dư luận rõ ràng là đang thay đổi. Theo một cuộc khảo sát mới đây của Văn phòng nội các, lần đầu tiên hầu hết người Nhật đồng ý rằng nên để các bà mẹ tiếp tục sự nghiệp của họ. Các phương tiện truyền thông đăng tải rất nhiều câu chuyện về vấn đề quấy rối thai sản (matahara, ghép giữa "thai sản" và "quấy rối" – tình trạng phụ nữ mang thai bị bắt nạt tới mức thôi việc). Thực tế khoảng 47% phụ nữ rời bỏ công việc sau khi có con cũng gây ra nhiều lo ngại. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới thì điều này đặc biệt không may bởi vì phụ nữ Nhật Bản có sức khỏe, được giáo dục tốt hơn và sống lâu hơn những người cùng giới ở các nước khác.

Bà Arimura, mẹ của đứa hai con, nhớ lại những áp lực khi quyết định lựa chọn sự nghiệp chính trị: "Mọi người đều nói rằng họ cảm thấy tiếc thay cho chồng và con tôi." Bà tin rằng vai trò dẫn đầu của công chúng và sự hỗ trợ nhiều hơn từ chính phủ có thể thay đổi thái độ đó. Chính phủ hứa sẽ chấm dứt tình trạng thiếu thốn của hệ thống chăm sóc trẻ em vào cuối năm tới. Bà Arimura cho rằng một vấn đề phức tạp hơn càng củng cố thói quen làm việc.

Lao động nam vẫn chiếm hầu hết các vị trí quan trọng nhất của công việc toàn thời gian tại các công ty Nhật Bản. Những giờ làm việc kéo dài khiến việc chăm sóc con cái trở thành điều không thể. Cải cách lao động được đưa ra từ chục năm trước đã đẩy nhanh sự gia tăng về số lượng lao động tạm thời, trong đó chủ yếu là phụ nữ. Theo ông Ayaka Shiomura, thành viên của hội đồng thành phố, định hướng một lực lượng lao động cân bằng về giới tính sẽ vẫn được duy trì dưới thời của ông Abe.

Theo cảnh báo của ông Nicholas Benes, Viện trưởng Viện Đào tạo giám đốc của Nhật Bản, các công ty và công đoàn miễn cưỡng phá bỏ hệ thống làm việc truyền thống của Nhật Bản, nhưng nếu không linh hoạt hơn trong các quy chế lao động, chính sách “nền kinh tế vì phụ nữ” sẽ thất bại. Ông muốn thấy một kiểu mẫu hợp đồng mới dành cho các bà mẹ, có cả nghỉ phép hợp lý và các lựa chọn nghề nghiệp thay thế, bên cạnh những tiêu chuẩn cho các nhân viên khác. Quốc hội đang thảo luận về các cải cách nơi công sở nhưng vẫn chưa có kết quả chắc chắn. Bà Matsui nói một số công ty rất muốn giữ chân nhân viên đã bắt đầu chuyển những vị trí theo thời vụ sang toàn thời gian. Bà nói thêm, dù gì đi chăng nữa ông Abe cũng đã đạt được thành tựu khi trao quyền cho phụ nữ bằng cách biến vấn đề nhân quyền thành một nhu cầu kinh tế cấp thiết. "Đó là một sự thay đổi lớn."

Bích Nhàn
The Economist

Monday, December 26, 2016

Mức tiêu thụ năng lượng của Ấn Độ và Trung Quốc sẽ ra sao?

Tốt hơn phân bò. Photo credit: The Economist.

Làm theo cách của mình: Mô hình tiêu thụ ở châu Á sẽ không lặp lại giống phương Tây.

Hydrocacbon vẫn có thể khiến tim đập nhanh -- nhất là khi bạn thiếu chúng. Điều này càng rõ ràng dưới ánh nắng trưa oi ả ở ngoại ô thành phố Noida, một thành phố cảng của Ấn Độ gần New Delhi, nơi hàng trăm phụ nữ nghèo, mặc sari sáng màu, vừa tập trung cho một lễ kỷ niệm. Họ đang đánh dấu niềm hy vọng của chính quyền Narendra Modi rằng đây sẽ là khởi đầu nhằm kết thúc cái bẫy nghèo đói bao năm nay: kiếm củi và phân bò để nấu ăn.

Phụ nữ ở đây cho hay họ, và thường cả con cái họ, bỏ ra hàng giờ mỗi ngày kiếm củi đốt. Họ có nguy cơ gặp phải rắn rết hoặc những gã côn đồ và bỏ qua cơ hội làm những việc có năng suất hơn. Chính phủ đã dẫn ra một vài nghiên cứu cho thấy nửa triệu phụ nữ Ấn Độ tử vong mỗi năm do các bệnh về đường hô hấp do hít phải khói độc hại. Vậy nên công chúng nhiệt tình hưởng ứng chiến dịch năm nay về việc sử dụng 1,3 tỷ USD, đến từ vận may bất ngờ do giá dầu sụt giảm (Ấn Độ nhập khẩu 81% nhu cầu dầu mỏ quốc gia), để mang tới trợ cấp cho khí hóa lỏng (LPG) sạch hơn.

Bộ trưởng dầu mỏ Dharmendra Pradhan cho biết hơn 10 triệu người dân tầng lớp trung lưu Ấn Độ đã đáp lại chiến dịch "GiveItUp" và tình nguyện chuyển khoản trợ cấp LPG nhỏ bé của mình tới những người mẹ đang sống dưới mức nghèo khổ. Trong thời hạn ba năm, bộ trưởng hướng tới cung cấp khí hóa lỏng LPG cho 50 triệu hộ nghèo. Ông gọi đó là "công lý năng lượng", và có vẻ sẽ thắng được nhiều phiếu bầu, mặc dù thực sự cung cấp được khí hóa lỏng LPG trên toàn vùng đất đai rộng lớn của Ấn Độ là rất khó khăn.

Ngành công nghiệp dầu sẽ tin vào câu chuyện trên. Suy cho cùng, Cơ quan Năng lượng quốc tế cho biết rằng Ấn Độ, hiện có mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người thấp hơn so với châu Phi, sẽ trở thành động lực tăng cho trưởng toàn cầu về nhu cầu dầu mỏ vào khoảng giữa những năm 2020 khi kinh tế Ấn Độ phát triển và dân số nước này trở nên đông nhất thế giới.

Trung Quốc cũng sẽ góp phần khiến các giàn khoan dầu vẫn tiếp tục khai thác trên toàn thế giới. Trong thập kỷ vừa qua, nước này chiếm tới 60% tăng trưởng của thế giới về tiêu thụ dầu, giúp đẩy giá dầu lên cho đến khi giá dầu sụt giảm vào năm 2014. Mặc dù tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại và nhu cầu dầu mỏ của hai nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ sẽ giảm, Cơ quan Năng lượng quốc tế dự báo rằng mục tiêu nóng lên toàn cầu 2ºC sẽ không thực hiện được và ước tính năm 2040 Trung Quốc sẽ tiêu thụ nhiều hơn 4,1 triệu thùng dầu một ngày so với hiện nay, và Ấn Độ sẽ là 6 triệu thùng dầu một ngày.

Các thị trường đang phát triển khác cũng được dự kiến sẽ tiêu thụ nhiều dầu hơn do tăng trưởng kinh tế làm tăng nhu cầu đối với việc đi lại và hóa dầu. Có nhiều cơ hội giảm nghèo năng lượng [energy poverty: tình trạng thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ năng lượng hiện đại - ND] Công ty nghiên cứu Bernstein cho biết các nước giàu trung bình tiêu thụ 10-25 thùng dầu mỗi người mỗi năm, so với mức 1-3 thùng mỗi người ở các nước nghèo. Công ty này dự đoán số lượng phương tiện toàn cầu sẽ tăng gấp đôi từ 1 tỷ lên đến 2 tỷ trong vòng 25 năm tới, chủ yếu do thu nhập bình quân đầu người tăng lên ở các nước đang phát triển, dự kiến sẽ bù vào mức sụt giảm trong nhu cầu đối với xăng dầu ở phương Tây. Nhu cầu đối với dầu diesel để chạy xe tải ở các thị trường đang phát triển sẽ tiếp tục tăng. Nhu cầu dầu lửa dùng cho máy bay cũng sẽ tăng lên: ở cả Trung Quốc và Ấn Độ số lượng các chuyến bay đều đang tăng cao.

Tuy nhiên, triển vọng của ngành công nghiệp dầu mỏ ở các nước đang phát triển có thể không phải toàn màu hồng như bề ngoài. Phát triển ban đầu của Ấn Độ là dựa trên các tuyến đường sắt. Số lượng xe ô tô của Ấn Độ ở mức ít hơn 20 chiếc xe trên 1.000 dân, hoàn toàn không đáng kể -- gần bằng số lượng xe ở Mỹ vào thời điểm Thế chiến I. Khi được hỏi liệu mức tiêu thụ năng lượng của Ấn Độ có đi theo cùng một khuôn mẫu như ở các nước giàu hay không, ông Pradhan cho hay: "Tại sao chúng tôi cứ phải làm theo các nước khác? Tại sao chúng ta cứ nghĩ rằng xe ôtô là hình thức giao thông duy nhất? Chúng tôi muốn phát triển mô hình của riêng mình."

Ở cả Ấn Độ và Trung Quốc, tình trạng ô nhiễm không khí và ùn tắc tại các thành phố lớn đang rất kinh khủng, do đó sẽ hạn chế cơ hội nhóm dân giàu mua thêm xe. Hơn nữa, các cam kết về biến đổi khí hậu Trung Quốc đặt ra trước hội nghị thượng đỉnh tại Paris năm ngoái cho thấy mong muốn đi đầu của Trung Quốc trong các nỗ lực nhằm giảm sự nóng lên toàn cầu. Ấn Độ ít nhất cũng đưa ra tín hiệu họ sẽ tham gia dù vẫn còn ngập ngừng.

Cánh tay dài của Vua Than
Ấn Độ vẫn dựa vào than đá cho 58% nhu cầu năng lượng cơ bản. Nước này hy vọng sẽ giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ (28% tổng các nguồn năng lượng) xuống 10% vào năm 2022, và dự kiến sẽ tăng gấp đôi phần khí đốt tự nhiên từ 7% lên 15%. Ấn Độ dự định sẽ ngày càng dựa vào khí hóa lỏng (LNG) thay vì dầu. Trong vòng sáu năm, Ấn Độ nhắm mục đích tăng hơn gấp đôi năng lực chuyển khí hóa lỏng (LNG) thành khí gas, và có kế hoạch lắp đặt 15.000 km đường ống dẫn khí mới. Công chức trong Bộ dầu khí (một trong số các Bộ về nhiên liệu) đang bàn bạc vấn đề đưa Ấn Độ trở thành một nền kinh tế dựa trên khí gas. Nhưng điều đó vẫn là trong tương lai, bởi giá than đá rẻ là nền tảng cho ngành điện ở Ấn Độ, và nhu cầu sử dụng than được dự kiến sẽ tiếp tục tăng.

Chính phủ hy vọng triển khai khí gas để thay thế cho các sản phẩm gốc dầu trong giao thông vận tải cũng như để phát điện, mặc dù kế hoạch này có thể gặp khó khăn nếu giá gas tăng, mà chắc chắn sớm muộn cũng sẽ tăng. Việc thay đổi định hướng đã trông thấy được ngay trên đường phố New Delhi. Tất cả các phương tiện giao thông công cộng, taxi, xe kéo và nhiều xe tư nhân đã chuyển đổi sang sử dụng khí nén thiên nhiên (CNG), rẻ hơn và sạch hơn so với động cơ diesel hoặc xăng. Mặt không thuận tiện là phải xếp hàng dài tại các trạm xăng, bởi vì đổ đầy bình khí nén thiên nhiên CNG mất thời gian hơn và số lượng máy bơm thì không nhiều.

Chính phủ cũng đang phát triển khí hóa lỏng (LNG) để thay thế cho động cơ diesel trong vận tải đường bộ đường trường, và đang hợp tác với Tata, tập đoàn lớn nhất của nước này, ông Pradhan cho hay. Trong khi đó, Ấn Độ vẫn có kế hoạch sử dụng tre và các sản phẩm tự nhiên khác để sản xuất nhiên liệu sinh học như ethanol để pha trộn với xăng. Trong những năm gần đây, nước này đã loại bỏ trợ cấp đối với xăng và dầu diesel, và đến năm 2020 hy vọng sẽ thắt chặt các tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu đối với xe hơi trong nước. Sẽ khó thực hiện tất cả những điều kể trên, nhưng nó cho thấy nhu cầu dầu của Ấn Độ có lẽ hạn chế hơn so với những gì ngành công nghiệp dầu mỏ hy vọng.

Trên xe đạp điện
Câu chuyện ở Trung Quốc cũng tương tự. Mặc dù doanh số bán xe ôtô tăng vọt lên 24 triệu xe vào năm 2015, mật độ xe khoảng 120 xe trên 1.000 người, vẫn chỉ ngang mật độ ở Mỹ vào những năm 1920. Vì vậy, nhu cầu về dầu nhất định sẽ tăng lên, nhưng các hình thức tiêu dùng sẽ thay đổi. Wang Tao, thuộc Trung tâm Carnegie-Tsinghua về Chính sách toàn cầu tại Bắc Kinh, cho biết doanh số bán xăng sẽ tăng lên cho dù xe mới đang dần trở nên tiết kiệm xăng hơn, tiêu chuẩn khí thải xe ngày càng cao, và một số thành phố đang áp đặt quy định chặt chẽ hơn về việc mua xe mới để giảm ô nhiễm và tắc nghẽn. Đồng thời dầu diesel, được sử dụng trong công nghiệp và hàng hóa đường bộ, đang giảm xuống khi nền kinh tế chuyển động theo hướng dịch vụ và công nghiệp nhẹ.

Giống như Ấn Độ, Trung Quốc đang xúc tiến khí hóa lỏng (LNG) cho xe buýt và xe tải đường dài và khí nén thiên nhiên (CNG) cho xe hạng nhẹ. Tăng trưởng trong việc sử dụng cả hai loại nhiên liệu bị suy giảm mạnh trong năm ngoái do giá dầu giảm, nhưng dự kiến sẽ lại hồi phục. Ông Wang cho hay vấn đề lớn nhất trong việc phát triển thị trường khí đốt ở Trung Quốc là các đường ống đang thuộc sở hữu của công ty độc quyền nhà nước, do đó ngăn cản các công ty tư nhân tham gia và đưa ra mức giá cạnh tranh hơn.

Trên đường phố tại các thành phố lớn của Trung Quốc, sự phát triển thấy rõ nhất là số lượng xe đạp điện tăng lên, ít gây tắc nghẽn hơn xe ôtô và hầu như không gây ô nhiễm, mặc dù ý thức giao thông của người điều khiển xe đạp vẫn nghèo nàn như bất kỳ người lái xe ôtô nào. (Delhi, không chịu thua kém, đã có một lượng mới xe kéo chạy điện). Cơ quan Năng lượng quốc tế đưa ra con số xe đạp điện ở Trung Quốc là khoảng 200 triệu xe, gần gấp đôi số lượng xe ôtô. Xe đạp điện phục vụ cho người lao động không có đủ khả năng mua xe ôtô và khắc phục một vấn đề mà nhiều người sử dụng phương tiện công cộng ở các thành phố lớn phải đối mặt: quãng đường di chuyển dài tới nhà ga.

Ông Wang cho biết một trong những điểm đáng chú ý của xe đạp điện khác với xe ôtô điện đó là chính phủ không hề tiến hành xúc tiến quảng bá. Xe đạp điện đại diện cho một cách tiếp cận thị trường tự do sáng tạo đối với vấn đề của giới công nhân lao động bình dân. Thế bất lợi của xe đạp điện là ở chỗ chính quyền thành phố Bắc Kinh và nhiều nơi khác đang muốn hạn chế và thậm chí xem xét lệnh cấm đối với xe đạp điện, vì họ coi xe đạp điện là mối phiền toái cho xe ôtô và người đi bộ.

Quỳnh Anh
The Economist