Journey in Life: 09/04/12

Tuesday, September 4, 2012

Nhật Bản: Nồi khoai tây hầm khổng lồ phục vụ 30.000 người

Đây là một bữa ăn tối với tỷ lệ như trong Kinh Thánh: hàng ngàn khán giả của lễ hội đã chia sẻ món khoai tây bò hầm khổng lồ bên bờ sông ở Yamagata vào ngày 2/9 vừa qua.

Các đầu bếp chuẩn bị món ăn truyền thống 'imoni' bằng cách sử dụng 3 tấn khoai tây 'satoimo', một đặc sản địa phương cũng như thái lát 1,2 tấn thịt bò và 3.500 tỏi 'konnyaku'.

Các đầu bếp đã phải dùng cần cẩu, xẻng (shovel) để nấu món hầm khổng lồ trong nồi to với đường kính 6 mét và phục vụ khoảng 30.000 người.

Tỉnh Yamagata giáp tỉnh Fukushima nơi diễn ra trận động đất, sóng thần 11/3 năm ngoái. Tất cả các nguyên liệu đã được thử nghiệm an toàn về phóng xạ.

Mỗi tô khoai tây hầm có giá gần 4 USD. Khoảng 120 người sơ tán từ các khu vực bị tàn phá bởi động đất và sóng thần là khách mời đặc biệt của sự kiện này.
Trẻ em thu hoạch khoai tây 'satoimo' ngày 25/8 tại Yamagata để phục vụ cho lễ hội 'imoni'

Biểu tượng kiếm samurai của Nhật Bản

Chúng là những gì cao quý nhất mà nghệ thuật rèn của con người mang lại: Kiếm Nhật katana, thanh kiếm dài của những hiệp sĩ samurai. Cho đến ngày nay, những nghệ nhân vẫn còn rèn vũ khí này theo đúng truyền thống cổ.

Nằm trên bàn là nhiều cục màu xám, xốp như đá núi lửa. Nặng, không mùi, xấu xí. Đó là thép thô mà ông Matsuba dùng để rèn.

Kunimasa Matsuba là một trong những nghệ nhân rèn kiếm Nhật giỏi nhất. Ông đã đoạt được nhiều giải thưởng cho kiếm katana. Một lưỡi kiếm cong, dài hơn 60 cm làm từ hàng nghìn lớp thép được gấp lại.

Biểu tượng của đẳng cấp

Thanh kiếm katana đã là biểu tượng đẳng cấp của hiệp sĩ Nhật. Chỉ những samurai mới được phép mang chúng – gần 1000 năm liền chỉ với một thời gian gián đoạn ngắn, cho đến khi Nhật hoàng thu lại đặc quyền này vào năm 1867 và qua đó tước quyền lực của họ.

Ông Matsuba chỉ tự rèn lưỡi kiếm. Làm cán kiếm, vành chắn và vỏ kiếm lại là các nghệ thuật riêng biệt. Và ngay lưỡi kiếm sau khi rèn vẫn còn chưa hoàn thành, vẫn còn phải được mài bóng bằng tay 2 tuần liền với đá mài có độ mịn khác nhau.

Đặt một thanh kiếm cũ cạnh thanh kiếm vừa được ông Matsuba rèn, một người không chuyên không thể nhận ra được khoảng thời gian nhiều thế kỷ trên lưỡi kiếm. Dường như thời gian không hề đóng một vai trò nào ở những thanh kiếm này. Chúng đã được rèn để trở thành những vật hoàn hảo.

Một thanh kiếm katana mới do ông Matsuba rèn có giá tròn 18.000 euro. Giá kiếm tuân theo những quy luật khác với các vật thể nghệ thuật khác. Một thanh kiếm cổ có thể rẻ hơn một thanh kiếm mới. Ở đây thời gian cũng không còn quan trọng. Quyết định giá cả của một thanh kiếm là nghệ thuật rèn tốt hay kém chứ không phải độ tuổi. Nếu người thợ rèn một thanh kiếm không tốt cách đây 500 năm thì thời đó nó không có giá trị gì cả – và ngày nay cũng không. Một đường rạn nứt duy nhất có thể làm cho thanh kiếm trở thành vô giá trị. Katana hiện giờ là những vật sưu tập được ưa chuộng. Thêm vào đó là đắt tiền. “Tôi còn nhớ có một thanh kiếm katana năm 1845, có giá khoảng 500.000 euro”, ông Karl-Heinz Peuker, một người sưu tầm và mua bán kiếm samurai, cũ cũng như mới, nói.

Lúc rèn phải hoàn toàn tối

Có ba điều quyết định cho chất lượng của một lưỡi kiếm: hình dáng, cấu trúc bề mặt của lưỡi kiếm và hamon, đường chia cắt giữa lưỡi kiếm và sống kiếm. Cấu trúc biểu hiện người thợ rèn đã làm việc ra sao, đã gấp thép lại như thế nào. Bậc thầy Matsuba chỉ cần nhìn thoáng qua là có thể cho biết một lưỡi kiếm thuộc về nghệ nhân rèn nào và thời kỳ nào.

Đường hamon hình thành trong quá trình rèn. Người thợ rèn bọc lưỡi kiếm bằng một hỗn hợp đất sét được pha trộn theo công thức bí mật. Ông ép hình dáng của hamon ở phần lưỡi kiếm vào lớp đất sét còn ướt. Khi lớp đất sét khô, lưỡi kiếm được đốt nóng trong phòng rèn không có ánh sáng. Chỉ có màu sắc của lửa tiết lộ cho nghệ nhân rèn biết được nhiệt độ cần thiết – một trong những khoảnh khắc khó khăn nhất và quyết định then chốt trong toàn bộ quá trình rèn. Khi đạt đến nhiệt độ cần thiết, nghệ nhân nhúng lưỡi kiếm vào bể nước, phần vỏ đất sét mỏng ở lưỡi kiếm nguội đi nhanh hơn, tôi lưỡi kiếm tối ưu. Đất sét ở phần còn lại dầy hơn, vì thế mà thép ở đó nguội đi chậm hơn, vẫn còn mềm dẻo hơn.

Một phần của văn hóa Nhật

Một thời gian dài, nghệ thuật rèn kiếm katana đã suýt bị lãng quên. Khi các samurai bị tước đoạt quyền lực và đặc quyền mang kiếm của họ bị phá vỡ, việc này cũng ảnh hưởng trầm trọng đến các lò rèn. “Thời đó chúng tôi đã đánh mất một phần của văn hóa”, ông Matsuba nói. “Vì văn hóa samurai là văn hóa Nhật.”

Và chính ngay các thanh kiếm suýt tí nữa cũng bị đánh mất: Sau Thế chiến 2, quân đội Mỹ ra lệnh hủy tất cả vũ khí – trong đó có cả các thanh kiếm katana cổ xưa quý giá. May mắn là người ta đã có thể làm cho tổng chỉ huy - Tướng MacArthur thay đổi ý kiến. Các thanh kiếm samurai được giữ lại nhưng phải khai báo. Từ đó, mỗi một thanh kiếm vừa rèn xong phải được đăng ký.

National Geographics, trong chương trình Fight Science, đã đánh giá kiếm Nhật là vũ khí tuyệt vời nhất khi so sánh với kiếm thường, hay đao, côn, gậy,…

"In the long run" nghĩa là gì?

Vận động viên Alan Oliveira của Brazil được vận động viên South Africa’s Oscar Pistorius của Nam Phi
chúc mừng sau khi giành huy chương vàng ở 200m
 Paralympics T44. Ảnh: Eddie Keogh
'In the long run' có nghĩa là 'cuối cùng' hay sau một thời gian dài.

Ví dụ
I’m not spending any money at all at the moment. Life is pretty boring but, in the long run, it’ll be worth it. I’ll be able to afford my dream holiday.
I’ve just quit smoking and I feel terrible, but I’m sure, in the long run, I’ll be much healthier
Jane hates studying but I keep telling her, in the long run, the effort will lead to a much better job.

Xin lưu ý
Nếu bạn 'on the run' có nghĩa là bạn đang tránh bị bắt, đặc biệt là bởi cảnh sát.

After robbing the bank, the gang were on the run for a week before the police arrested them.
Police have issued a warning to avoid a dangerous criminal who’s been on the run since escaping from a high-security prison.

Thực tế thú vị:
Vận động viên chạy của Nam Phi - Oscar Pistorius đã xin lỗi về thời điểm anh đưa ra nhận xét của mình sau thất bại tại chung kết 200m Paralympic T44. Anh chỉ trích Ủy ban Paralympic quốc tế, nói rằng các chiếc chân giả của vận động viên đoạt huy chương vàng Alan Oliveira của Brazil quá dài.

"Give sth the thumbs up" nghĩa là gì?

Vận động viên Sini Zeng của Trung Quốc lái xe qua huấn luyện viên trên con đường chinh phục
huy chương vàng môn đua xe đạp tại
 Paralympic Games 2012 ở London. Ảnh: Bryn Lennon
Khi bạn 'give something the thumbs up' có nghĩa là bạn đồng ý hay ủng hộ điều đó.

Ví dụ
Daisy's cake was delicious – I'd definitely give it the thumbs up.
Wait until I give the thumbs up before you send that email to head office.
The boss just gave me the thumbs up to take three days off next week.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với 'thumb through something' có nghĩa là hững hờ giở một cuốn sách hay tạp chí.

I was in a rush so I only got to thumb through your novel on the train.
At the hairdresser's salon, Helen enjoyed thumbing through their selection of magazines.

Thực tế thú vị:
Cử chỉ giơ ngón tay cái lên thường được cho là có nguồn gốc từ các trận đánh võ sĩ giác đấu của La Mã cổ đại, khi số phận của chiến binh thua trận được quyết định bởi các khán giả trên khán đài. Ngón tay cái chúc xuống - giống như đâm một con dao găm - cho biết chiến binh đó sẽ bị hành quyết, hoặc nếu chiến binh đã chiến đấu ngoan cường, khán giả sẽ hướng ngón tay cái lên - biểu hiện chiến binh được giữ mạng sống.

"In the air" nghĩa là gì?

Các nghệ sĩ trình diễn với những chiếc ô trong Lễ Khai mạc Paralympics 2012 ở London. Ảnh: Dan Kitwood 
Khi ta nói "in the air", có nghĩa là một điều gì đó lí thú hay quan trọng đang hoặc sắp diễn ra.

Ví dụ
Spring is in the air - it's a time for change!
There's definitely something in the air - two of my friends have announced they are getting married.
There was a feeling in the air that the athlete would win gold.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với "A breath of fresh air" có nghĩa là một phương pháp khác biệt hay một thay đổi được mong đợi.

Anna has lots of wonderful ideas and motivation - she's a breath of fresh air.
The new coat of paint in the lounge has given the room a breath of fresh air.

Thực tế thú vị:
Paralympic Games đầu tiên diễn ra sau Thế chiến II vào năm 1948, khi một sự kiện thể thao dành cho những binh sĩ bị thương đã được tổ chức tại Bệnh viện Stoke Mandeville ở Buckinghamshire, nước Anh. Bốn năm sau, 'Stoke Mandeville Games' - như được gọi thời bấy giờ - được tổ chức tại chính nơi đó với 130 đấu thủ, bao gồm cả cựu chiến binh từ Hà Lan. Paralympic Games chính thức đầu tiên diễn ra vào năm 1960 cùng với Thế vận hội mùa hè ở Rome, với 400 vận động viên từ 23 quốc gia khác nhau.

"Up in the air" nghĩa là gì?
"Full of hot air" nghĩa là gì?
"Clear the Air" nghĩa là gì?

Thưởng nhỏ (phạt nhỏ)

Đối với hầu hết chúng ta, không phải những cái bẫy lớn mà chính những cái bẫy nhỏ gây rối chúng ta (mess us up).

Mỗi lần tôi ngừng lại (break stride) và làm mình phân tâm bằng cách kiểm tra email (dễ đến hàng trăm lần trong một ngày tồi tệ), tôi nhận được một phần thưởng nhỏ. Tôi cảm thấy hài lòng về việc bắt đầu và kết thúc một dự án, đúng thời gian và miễn phí.

Đối với rất nhiều người, mỗi khi họ uống Coca Cola thay vì một ly nước lọc, họ phải nhận một hình phạt nhỏ trong lần uống đó. Một lon Coca Cola không bao giờ làm tổn thương bất cứ ai, nhưng một trăm lon sẽ làm cho bạn béo.

Một cách để thay đổi hành vi là theo dõi những sự kiện nhỏ xảy ra thường xuyên như thế nào, bởi việc thấy chúng xếp hàng (dài) trên bậu cửa sổ có thể sẽ làm bạn đổi ý. Một cách khác là làm cho những sự kiện nhỏ này lớn hơn. Tôi chắc rằng nếu phải nhận một cú sốc điện mỗi khi dừng lại để kiểm tra email, tôi sẽ chỉ kiểm tra một lần trong ngày ...

Vạn sự do tâm

Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.

Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người :

- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá.

Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn:

- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với vợ chồng, anh em, chị em.