Journey in Life: 04/02/13

Tuesday, April 2, 2013

"Go it alone" nghĩa là gì?

Nghệ sĩ video và trình diễn Nhật Bản - Mariko Mori với tác phẩm Tom Na H-iu ở rừng tre tại Teshima Island, Seto Inland Sea, Kagawa Japan.Photo courtesy sprklg.

Cụm từ to 'go it alone' có nghĩa là tự bản thân làm điều gì, mà không nhờ đến sự giúp đỡ của người khác.

Ví dụ
Now that I have enough experience, I've decided to go it alone and start my own business.
I'm not ready to go it alone yet. I need another few years working in this company.
We don't need your help with the project. We'll go it alone and see what happens.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với cụm từ 'To feel alone'. Nếu bạn 'feel alone', có nghĩa là bạn cảm thấy cô đơn, không có bạn bè hay bất cứ ai để nói chuyện hoặc yêu cầu giúp đỡ.

After she left me, I felt completely alone.

Thực tế thú vị:
Một thành ngữ phổ biến trong giới kinh doanh là bạn sẽ không bao giờ trở nên giầu có nếu bạn làm việc cho người khác.

BBC

Khi di dân Trung Hoa đến từ Mexico

Một sĩ quan cảnh sát biên giới Mexico (rurale), trên lưng ngựa vào khoảng năm 1903. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ). Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Peter Andreas / Sơn Phạm dịch

Biên giới Mỹ - Mexico từ lâu đã là nơi di chuyển (conduit) của các công nhân không giấy tờ. Điều ít được biết tới đó là: những người di cư đầu tiên không phải là người Mexico; mà là người Trung Hoa.

Bắt đầu từ những năm 1850, hàng chục nghìn lao động Trung Hoa (nhiều người trong số họ rời bỏ quê hương vi phạm luật di cư của nước mình) ban đầu được săn đón ở miền Tây nước Mỹ như là nguồn lao động rẻ, đặc biệt để xây dựng đường sắt xuyên lục địa. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ được chào đón, và không thể trở thành công dân. Ngay sau khi nhu cầu lao động cạn kiệt, phản ứng bài Hoa nhanh chóng xảy ra.

Trước sức ép chính trị phải 'làm điều gì đó' đối với 'mối nguy da vàng' ngày càng lên cao, Quốc hội lần đầu tiên đã thông qua đạo luật Page năm 1875 (với việc thực thi chủ yếu ngăn chặn phụ nữ Trung Hoa đến làm điếm), tiếp sau đó là đạo luật loại trừ người Hoa sâu rộng hơn nữa vào năm 1882. Những luật này - như là những nỗ lực ban đầu của chính phủ liên bang để loại trừ những di dân 'không mong muốn' - được làm mới, sửa đổi, củng cố và mở rộng đối với các nhóm dân châu Á trong những năm sau và nhiều thập kỉ sau đó (và không bị hủy bỏ cho tới tận năm 1943).

Do lối vào cửa trước thông qua San Francisco và các cảng biển khác của Mỹ đã trở nên khó khăn hơn vào cuối thế kỉ 19, một số lượng ngày càng lớn dân di cư Trung Hoa chuyển sang lối cửa hậu: các biên giới đất liền ở phía Bắc và phía Nam của Mỹ rộng lớn và được trang bị lực lượng cảnh sát tối thiểu.

Biên giới Canada
Vào cuối những năm 1880 và 1890, Canada là căn cứ ưa thích đối với di dân lậu để vào Mỹ. Nhưng khi Canada bắt đầu hợp tác với chính quyền Mỹ, di dân Trung Hoa và những người buôn lậu ngày càng chuyển sang ngả Mexico. Đất nước này ít có khuynh hướng hợp tác với Mỹ nguyên do bởi vết thương cuộc chiến Mỹ-Mexico nửa thế kỉ trước vẫn còn nhức nhối.

Các nỗ lực của Bộ Ngoại giao nhằm thương lượng các hiệp định với chính phủ của Tổng thống Porfirio Diaz để ngăn chặn di dân người Hoa không đi đến đâu.

Cũng như trong trường hợp với Canada, các mạng lưới mới tàu hơi nước, tàu hỏa và đường bộ tạo thuận lợi cho di dân lậu qua Mexico. Nhưng không giống như Canada, các công ty vận tải của Mexico không bày tỏ sự sẵn sàng hợp tác với Mỹ.

Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại được kí kết giữa Trung Hoa và Mexico vào năm 1899, và sự thành lập tuyến tàu hơi nước trực tiếp từ Hong Kong đi Mexico vào năm 1902, đã mở cửa cho một làn sóng di dân Trung Hoa. Và điều này, đến lượt nó, trở thành bàn đạp cho di dân lậu vào Mỹ. Năm 1900, mới chỉ có vài nghìn dân Trung Hoa ở Mexico; chưa tới thập kỉ sau, gần 60.000 dân di cư Trung Hoa đã tới Mexcio. Một số ở lại, nhưng Mỹ mới là điểm đến hấp dẫn hơn rất nhiều. Năm 1907, một điều tra viên của chính quyền Mỹ quan sát có tới hơn 50 dân Trung Hoa đến thị trấn biên giới Juarez bằng tàu hỏa hàng ngày, tuy nhiên cộng đồng người Hoa ở đây không bao giờ tăng.

Báo trước các cuộc thảo luận tương lai, một bài xã luận tháng 1 năm 1904 trên tờ El Paso Herald-Post cảnh báo 'nếu việc di dân của người Hoa vào Mexico tiếp tục, sẽ cần thiết phải có hàng rào kẽm gai chạy dọc theo Rio Grande.'

Năm 1906, báo cáo thực thi luật về dân buôn lậu Trung Hoa lưu ý rằng, 'Trên toàn phía bắc Mexico, dọc theo các đường ray tàu hỏa, là các nhà trọ và hàng quán, đây là nơi tập kết của di dân Trung Hoa và những người buôn lậu của họ, và những thị trấn và các ngôi làng nhỏ trong khu vực này chứa toàn cu li Trung Hoa, mà công việc chính dường như chỉ là nằm chờ cho đến khi có sự thu xếp hoàn hảo để đưa họ qua biên giới.'

Xì căng đan tham nhũng
Khi nhà chức trách Mỹ thắt chặt việc thực thi tại các cửa khẩu đô thị dọc theo biên giới Mexico-California, dân buôn lậu chuyển sang các khu vực xa hơn về phía Đông như ArizonaNew Mexico và Texas. Họ cũng cố gắng mua chuộc (buy off) các nhà chức trách Mỹ khi họ di chuyển người qua đường này. Đó là trường hợp ở Nogales, Arizonam, nơi các kiểm soát viên biên giới, bao gồm cả thu ngân hải quan, bị cáo buộc thu tiền của những người buôn lậu t 50 USD đến 200 USD một người. Những viên chức này đã bị bắt bởi nhân viên đặc vụ của Bộ Ngân khố và các nhân viên mật vụ vào tháng 8 năm 1901. Tờ Washington Post viết rằng 'chỉ trừ 2 hoặc 3 ngoại lệ, toàn bộ cơ quan hải quan và quản lý xuất nhập cảnh ở Nogales có dính líu' đến vụ này.

Di dân Trung Hoa không phải là đối tượng duy nhất đi qua cửa hậu này. Họ chỉ đơn thuần đứng đầu trong danh sách ngày càng tăng những đối tượng 'không mong muốn', bao gồm người Lebanon, Hy Lạp, Ý, Slav từ vùng Balkan và dân Do Thái. Các quan chức xuất nhập cảnh thực hiện việc đẩy lùi những người trong các nhóm này với lực lượng mỏng không cân xứng, và họ phát hiện ra Mexico là một lựa chọn cửa hậu thuận tiện.

Cuộc cách mạng Mexico, từ năm 1910 tới năm 1917, và Thế chiến I làm gián đoạn việc sử dụng Mexico như một bước đệm cho việc nhập cảnh bất hợp pháp. Buôn lậu di dân chỉ phục hồi mạnh mẽ trở lại khi dịch vụ tàu hơi nước quốc tế được nối lại. Tuy nhiên, giờ đây nó liên quan đến người Âu châu nhiều hơn là người Hoa, những người mà lúc này là các mục tiêu chính của phản ứng bài di dân ngày càng tăng và lên tới đỉnh điểm với việc giới hạn quota 'nước xuất xứ' vào năm 1921 và 1924.

Ngày nay, di dân Trung Hoa không còn là mối quan tâm chính sách chủ yếu, tuy nhiên một số việc thực thi biên giới và động lực né tránh vẫn tương tự. Trên thực tế, nếu quá khứ như là bất kì chỉ dẫn nào, thì những di dân Mexico quyết tâm ngày nay - cũng giống như nhiều người trước đó - có lẽ không bị chùn bước bởi hàng rào và cảnh sát tuần tra. Họ sẽ tìm ra những lối đi mới. Cũng tương tự như những di dân Trung Hoa một thế kỉ trước đã chứng minh, khi có ý chí, ắt sẽ có con đường (bí mật).

Peter Andreas là giáo sư khoa học chính trị và giám đốc lâm thời Viện Nghiên cứu quốc tế Watson tại Đại học Brown. Bài này là trích dẫn từ quyển sách mới của ông 'Quốc gia dân buôn lậu: Thương mại bất hợp pháp hình thành nước Mỹ như thế nào.' - 'Smuggler Nation: How Illicit Trade Made America.'

'Ogooglebar' và 14 từ mới Thụy Điển sẽ thành tiếng Anh?

Köttrymd! Mọi thứ đều tốt hơn trong tiếng Thụy Điển. Photo courtesy rutlo

Thụy Điển vừa loại từ 'Ogooglebar' ra khỏi từ điển vì những rắc rối do Google gây ra về vấn đề vấn đề thương hiệu, tuy nhiên, như trong bài 'Lịch sử tiếng Anh trong 10 phút', liệu có khả năng từ 'Ogooglebar' và 14 từ dưới đây sẽ nhanh chóng được đưa vào từ điển tiếng Anh?

1. Bloggbävning, n.
Definition: Literally translating to "blogquake," the word describes the process by which a topic explodes in the blogosphere and is then picked up by more mainstream media outlets.
(một chủ đề 'hot' trong giới bloggers, sau đó được báo chí dòng chính đưa tin)
Used in an English sentence: "Man, that 'ogooglebar' thing really caused a bloggbävning today."

2. Livslogga, v.
Definition: Literally translating to "life log," the word refers to continually documenting one's life in pictures. 
(liên tục ghi lại cuộc sống của bản thân bằng các bức ảnh)
Used in an English sentence: "I know my Instagram is full of retro-looking pictures of salads, but what can I say? It's fun to livslogga."

3. Ogooglebar, adj.
Definition: Literally meaning "ungoogleable," the term is used to describe someone or something that doesn't show up in Google results.
(không thể tìm kiếm được trên mạng bằng công cụ tìm kiếm google)
Used in an English sentence: "I'm going on a date tonight, but he's totally ogooglebar! What are the odds he's an axe murderer?"

4. Nomofob, n.
Definition: A person who feels anxious at the very thought of being separated from his or her mobile phone. (Adapted from the clunky English "no mobile phone phobia.")
(một người rất lo sợ khi nghĩ đến việc phải xa rời chiếc điện thoại di động thân yêu) 
Used in an English sentence: "I'd love to go swimming, but I can't be in the water for very long -- I'm sort of a nomofob."

5. Fulparkerare, n.
Definition: Literally translating to "ugly parker," the word describes someone who parks his or her car in a particularly egregious or unlawful manner.
(một người đỗ xe bất hợp pháp)
Used in an English sentence: "Whoa, did you really just double-park? Come on, don't be a fulparkerare."

6. Mobildagis, n.
Definition: Literally meaning "mobile phone daycare," the term describes a place -- often in or near schools -- where mobile phones are stored.
(một nơi thường ở gần trường học, nơi điện thoại di động được cất giữ, ví dụ trước khi vào phòng thi?)
Used in an English sentenc: "While you're in class, you can keep your phone at the mobildagis."

7. Appa, v.
Definition: Literally, "to app": to solve a problem using a mobile phone app
(giải quyết một bài toán hay vấn đề hóc búa bằng phần mềm trên điện thoại di động)
Used in an English sentence: "How can I keep track of how many steps I take in a day? Is there a way to appa it?"

8. Padda, n.
Definition: a nickname for someone's iPad or tablet computer
(từ lóng ám chỉ iPad hay máy tính bảng của ai đó)
Used in an English sentence: "Are you bringing your padda on the trip?"

9. Terja, v.
Definition: To manipulate a photograph. The term gets its name from the nature photographer Terje Hellesø, who confessed to manipulating his award-winning photos of animals.
(chỉnh sửa ảnh, có nguồn gốc từ việc nhiếp ảnh gia thiên nhiên Terje Hellesø thú nhận chỉnh sửa ảnh để giành giải bức ảnh về động vật)
Used in an English sentence: "Wow, that's a gorgeous photo. I can't believe it's not Terja'ed!"

10. Trädmord, n.
Definition: Literally translating to "tree murder," the term increased in usage in 2011, after several trees near Stockholm were either damaged or poisoned, causing them to die. Can be adopted, however, to describe excessive and/or wasteful use of paper and packaging.
(sử dụng giấy và đóng gói một cách lãng phí, ngày càng thông dụng sau năm 2011 khi một số cây gần Stockholm bị hư hại hay đầu độc, nên đã chết)
Used in an English sentence: "Hey, guys, whose 80-page article is on the printer? Trädmord!"

11. Attitydinkontinens, n.
Definition: Literally meaning "attitude incontinence," the term describes the inability to keep one's opinions to oneself
(không có khả năng giữ ý kiến của bản thân cho riêng mình)
Used in an English sentence: "Sorry for that long comment I left on your post just now. I guess I had a temporary case of attitydinkontinens."

12. Flipperförälder, n.
Definition: Literally meaning "pinball parent," the term describes a parent who's the opposite of a helicopter parent -- who lets his or her kids have freedom. (It refers to the ball's tendency, in a pinball game, to bounce around the board after it's been let loose.) Can also, in translation, refer to a parent who lets his or her kids loose on the Internet, without parental controls.
(cha mẹ pinball, ngược với cha mẹ trực thăng, cho con cái mình tự do, đề cập đến trò chơi pinball, quả bóng càng được thả ra xa càng có xu hướng bật trở lại, cũng đề cập tới bố mẹ thả lỏng con cái trên internet mà không kiểm soát)
Used in an English sentence: "Of course I let Bobby have his own Facebook account. I'm trying to be a flipperförälder."

13. Åsiktstaliban, n.
Definition: Literally "opinion Taliban," the term refers to someone or a group of someones who tolerate only one opinion on a given issue. (In translation, might also refer more generally to "trolls.")
(người hay nhóm người chỉ chấp nhận duy nhất một ý kiến về chủ đề cho trước - 'độc quyền chân lý?')
Used in an English sentence: "Word to the wise: Don't read the comments right now. They're full of Åsiktstaliban."

14. Nakenchock, n.
Definition: Literally "naked shock," the term could refers to the shock you get when clicking on a link that leads you, unsuspectingly, to images of people who are less than clothed. The other side of NSFW.
(giống như naked shock, bị sốc khi ấn vào link nào đó dẫn đến bức ảnh... thiếu vải)
Used in an English sentence: "Don't click that link! You'll get a nakenchock."

15. Köttrymd, n.
Definition: A derivation of the English "meatspace," the term refers to the entirety of the non-digital world. 
(đời thực, không có một chút kỹ thuật số nào)
Used in an English sentence: "Thanks for reading! Now I'm signing off -- going to see what's going on in Köttrymd."

Bài trước: Em học tiếng Anh

Bên trong căn nhà truyền thống Nhật Bản, Irori

Trong nhà bếp hay trong phòng khách chính của Nhật Bản, lò sưởi (irori trong tiếng Nhật) là trung tâm và cũng là một trong những nét đặc trưng của một căn nhà truyền thống Nhật Bản. Irori được xây như một hố vuông chìm, được khắc trực tiếp trong nền đất hoặc được tạo thành bởi sàn gỗ, chứa tro và cát và quây bằng gỗ và đá.

Để nấu ăn, các ấm nước thường được treo từ trên sàn nhà bằng một móc có tính chất trang trí, jizaikagi. Móc có hình phổ biến thường là chùy của thần Daikokuten, biểu tượng của sự thịnh vượng, hoặc cũng là hình con vật nào đó, tuy ít phổ biến hơn, như con cá chẳng hạn.

Do căn nhà truyền thống ở Nhật Bản không có ống khói, nên để sưởi ấm và nấu ăn, nhiên liệu ưu thích được dùng trong các irori là than củi, vì sẽ tạo ra ít khói hơn...
Photo courtesy ken2754@Yokohama

Bên trong căn nhà truyền thống Nhật Bản, Doma

Vào thăm bên trong một căn nhà nông (xây trong trang trại) truyền thống của Nhật Bản, bạn sẽ thấy 2 khu riêng biệt: một với sàn bằng gỗ, được nâng lên từ mặt đất để lò sưởi irori ở trên, và một chỉ được che phủ bởi đất đầm, nén chặt, gọi là doma.

Đây là nơi người Nhật nấu ăn (với lò nướng đất sét gọi là kamado), nước cũng được dự trữ  ở đây và bạn sẽ thường tìm thấy các vật dụng truyền thống như nón rơm kasa hay áo mưa bằng rơm.
Japan Open-Air Folk House Museum, Kawasaki-shi, Kanagawa-ken, Japan. Photo courtesy TANAKA Juuyoh (田中十洋)

Bài trước: Màu đỏ

Nhà trọ quan tài hút khách ở Nhật Bản

Tại các siêu đô thị (megalopolises) dày đặc như New York và Hong Kong, tỉ lệ thuê nhà ở cao đồng nghĩa với việc phải trả nhiều tiền hơn cho diện tích bé hơn. Tokyo là một ví dụ nữa cho thấy vấn đề này khó khăn như nào; khi nhằm mục đích tiết kiệm tiền và vẫn được sống ở trung tâm thành phố, một số bạn trẻ đã chọn cách trả hàng trăm đô la Mỹ mỗi tháng để ở trong những phòng bé tí như chiếc hộp. 

Theo Kotaku, một chương trình tin tức Nhật Bản gần đây cho biết, một nhà trọ dùng chung 'share house' (hay 'geki-sema' trong tiếng Nhật) ở quận Shibuya nơi những người thuê phải trả tới 55.000 yên (= 586 USD) để ở trong các phòng giống như quan tài xếp chồng lên nhau -- chỉ thích hợp để ngủ. Tuy phòng có điều hòa nhiệt độ và điện, phòng tắm vẫn phải dùng chung, và một số phòng còn thậm chí không có cửa sổ.

Chương trình phỏng vấn một doanh nhân 24 tuổi và một thiếu nữ 19 tuổi mơ ước làm diễn viên, cả hai sống trong những phòng có diện tích bé hơn 2 chiếu tatami (rộng khoảng 1,5 mét vuông), có thể so sánh với những căn hộ 16 foot vuông như này ở Hong Kong, và nó rất bé, chỉ đủ để trải chiếu, quần áo và một chiếc TV nhỏ.


Hiển nhiên, một số người dân địa phương cho rằng những người thuê này bị 'lừa phỉnh', nói rằng: 'Nếu bạn chịu khó tìm kiếm, bạn có thể tìm được căn hộ giá 55.000 yên một tháng. Những người này bị gạt rồi'. Và 'Đây là tủ gửi đồ, tôi tưởng nó chỉ 2.000 yên, nhưng hóa ra nó có giá 45.000 yên'.

Khó có thể nói, những người này tiết kiệm tiền hay bị lừa (fleeced) - nhưng dù gì đi nữa, những căn phòng này quá nhỏ thật. Xem thêm ở Kotaku.

Bài trước: Văn hóa tặng quà trong kinh doanh của người Nhật

Văn hóa tặng quà trong kinh doanh của người Nhật

Photo courtesy Dominic's pics
Ở Nhật Bản, tặng quà là một nghệ thuật, thể hiện tình bạn, sự kính trọng và thái độ ngưỡng mộ. Nghi thức tặng quà rất quan trọng. Quà luôn được đựng trong một hộp quà nhỏ, được bọc rất đẹp bằng loại giấy chất lượng, và sau đó món quà được trao cho đối phương với đầy sự kính trọng. Cũng bởi vì tại Nhật, ý nghĩa tượng trưng của món quà rất là quan trọng, do đó món quà thật sự cũng thường rất khiêm tốn.

Người ta mong đợi trao quà tặng ngay trong lần đầu gặp gỡ, và món quà sẽ trở thành một phần trong cuộc làm ăn của bạn. Do đó khi lần đầu tiên gặp mặt, hãy mang theo mình một món quà được bọc đẹp đẽ, chất lượng nhưng không quá đắt. Đó là một cử chỉ thể hiện bạn mong muốn có một mối quan hệ lâu bền với đối phương.

Có một thông lệ tại Nhật, là đối tác sẽ tặng lại mình một món quà bằng nửa giá trị món quà họ đã nhận. Nếu quà của bạn quá đắt, thì nó sẽ gây ra một tình huống khó xử, kể cả là món quà mà họ đáp lễ chỉ bằng ½ món quà của bạn.

Tuy vậy nếu bạn là một chuyên viên cấp cao của công ty thì bạn đừng ngần ngại nhận một món quà xa xỉ từ phía đối tác Nhật Bản. Người Nhật rất thận trọng, họ căn cứ theo cấp bậc, mối quan hệ làm ăn để tặng quà.

Nếu bạn mang một món quà để tặng đối tác thì đừng chờ đến cuối buổi mới đưa ra. Cũng đừng mới đến đã khiến họ bất ngờ bằng bọc quà của bạn. Cách tốt nhất là hãy nói với ông/bà ấy trong khi đang nói chuyện rằng bạn có một món quà nhỏ bạn muốn tặng họ vào cuối buổi. Cách nói bóng gió về điều này sẽ thể hiện sự tôn trọng nghi thức tặng quà của người Nhật Bản và cho phép bạn có cơ hội đặt trước một cuộc hẹn cho một thành viên nữa tham gia cuộc họp, nếu cần (người đó sẽ mang quà tới).

Khi trao quà, bạn hãy cầm bằng hai tay và cúi mình xuống, và nói cho họ biết :”Món quà này không thể sánh bằng mối quan hệ tốt đẹp giữa chúng ta”. Hãy nói rằng đây chỉ là một “món quà nhỏ”, kể cả là món quà rất đắt đi chăng nữa, quan trọng là truyền đạt thiện ý của bạn.

Người Nhật sẽ lịch sự từ chối món quà của bạn khoảng 1 hay 2 lần trước khi họ nhận nó. Và họ cũng không mở quà khi có mặt của bạn. Khi bạn nhận quà từ một người Nhật cũng vậy, bạn nên làm y hệt thế: từ chối 1 hay 2 lần rồi sau đó nhận món quà bằng hai tay và không mở gói quà khi có mặt người tặng còn ở đó.

Trong một năm, theo truyền thống Nhật Bản thì có hai dịp người ta chính thức tặng quà nhau. Một dịp là vào giữa mùa hè (O-Chugen) và dịp khác là vào cuối năm (O-Seibo). Bạn nên tặng quà vào những dịp này.

Những món quà là đồ ăn hay đồ uống (bánh, kẹo đắt tiền, và hoa quả) cũng là những lựa chọn tốt. Nếu bạn mang theo một món quà từ đất nước của bạn, hãy kiểm tra thật kỹ và đừng mua sản phẩm ghi :”Made in Japan”. Và đừng chọn những sản phẩm của công ty bạn làm quà tặng với logo công ty hiện ngay trên quà tặng.

Theo như cách các doanh nghiệp hay làm thì người ta thường đến Nhật mới mua và gói quà. Làm như vậy thì món quà sẽ chuẩn xác.

Trong văn hóa Nhật Bản, biểu tượng cũng có nhiều ý nghĩa như văn hóa Trung Hoa vậy. Một món quà có cặp (một bộ đôi) được cho là điềm may, nhưng nếu là bộ bốn chiếc hoặc chín chiếc thì lại bị cho là điềm gở.

Thêm vào đó, số 4 cũng bị cho là số tử và màu đỏ thì gắn với tang lễ, do đó đừng bao giờ tặng một chiếc bút mực đỏ hay viết thiệp bằng màu đỏ. Sách không phải là những món quà thích hợp; và những vật sắc như dao kéo hay dao rạch giấy cũng bị cho là “chia cắt quan hệ”

Bạn đừng xem những biểu tượng và nghi thức tặng quà trên là quá rắc rối, tìm hiểu về chúng bạn sẽ thấy thoải mái hơn nhiều. Và thậm chí bạn có thể thấy hứng thú khi chọn quà cho những bạn hàng của mình.

Đọc thêm bài gốc ở đây, để biết thêm những nước nào chấp nhận quà tặng và văn hóa tặng quà của Trung Hoa.


"Against all odd" nghĩa là gì?

Photo courtesy King Chung Huang

'Against all odds' có nghĩa là bất chấp sự chống đối mạnh mẽ hay mọi điều kiện nguy hiểm, bất lợi.

Ví dụ
“I ran into one of my neighbors the other day. Here was a guy who had been in a terrible motorcycle accident. After he suffered serious injuries and fell into a coma (hôn mê bất tỉnh), his doctors didn’t think he’d live. But against all odds ( Thế mà bất chấp mọi sự hiểm nghèo), he recovered and is now nearly back to normal.”

“Not long after a US Airways flight left New York City on January 15, 2009, it ran into a flock of birds and lost engine power. Captain Sullenberger knew he couldn’t make it to an airport. There was one option left. Most of the 155 passengers and crew held out little hope for survival. Yet, against all odds, “Sully” safely landed the plane on the river below.”

VOA

Accept yourself


"To be beautiful means to be yourself. You don't need to be accepted by others. You need to accept yourself." 
~Thich Nhat Hanh

Previous post: Take away judgement