Journey in Life: March 2013

Search This Blog

Sunday, March 31, 2013

Ngoại giao đồng đô la khiến Đế chế Anh sụp đổ như thế nào?

Một sự thiếu hụt đô la nghiêm trọng đã khiến Đế chế Anh sụp đổ nhanh chóng sau Chiến tranh thế giới thứ II. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ). Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

By Benn Steil / Sơn Phạm dịch

'Đế chế Anh có vẻ như đang kiệt quệ nhanh như các khoản nợ của Mỹ', Winston Churchill nói  hùng hồn trước Hạ viện ngày 20 tháng 12, năm 1946. 'Tốc độ thật kinh khủng.'

Như thể được đồng bộ một cách bí mật, những cột trụ của đế chế và sự chấp nhận quốc tế của đồng bảng Anh đang sụp đổ cùng lúc.

Vào cuối năm 1945, chính quyền Tổng thống Harry S. Truman đã miễn cưỡng đồng ý để cho Vương quốc Anh bị phá sản vay 3,75 tỉ USD - nhưng với điều kiện là đồng bảng Anh phải được chuyển đổi hoàn toàn sang đô la Mỹ ở mức 4.03 USD cho một bảng Anh vào ngày 15 tháng 7, năm 1947. Điều này sẽ cho phép các thuộc địa (colony) và lãnh địa (dominion) của Anh bán đồng bảng để đổi lấy USD, đáp ứng nhu cầu lâu dài của các nhà xuất khẩu và những người chống đế quốc của Mỹ trong khi làm suy giảm dự trữ chính thức ít ỏi của Vương quốc Anh.

Giờ đây đồng đô la lơ lửng trên mọi câu hỏi về việc đế quốc này sẽ bị rời từng mảnh (dismantle) như thế nào. Tháng Hai năm 1946, nhà kinh tế học vĩ đại John Maynard Keynes đã tiên đoán về khát khao trì trệ của chính phủ Anh muốn 'được mọi người khâm phục (cut a dash) trong một thế giới rõ ràng là vượt quá khả năng kinh tế của chúng ta.' Ông quan sát thấy, nước Anh đã 'không được chuẩn bị để chấp nhận một cách hòa bình và khôn ngoan một thực tế là vị thế và các nguồn lực của nó đã không còn như trước nữa.'

Đầu tiên là ở Trung Đông. Keynes lưu ý rằng người Anh đã phải chi trả cho việc giữ quân đội ở Ai Cập bằng cách vay mượn từ ... chính Ai Cập. Ông hỏi, câu trả lời của họ sẽ là gì, nếu người Ai Cập 'không còn chuẩn bị để cung cấp cho chúng ta số tiền cần thiết?' Câu trả lời chỉ đơn giản là di chuyển số quân đội này đến Palestine. Điều này, người ta hy vọng rằng, sẽ câu giờ của người Sinai cho đến khi một điều gì đó - bất cứ điều gì có thể ổn thỏa với người Ả Rập, Zionists (người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái) và người Mỹ. Nghị sĩ Đảng Lao động Anh - Richard Crossman quan sát, phương cách ủng hộ người Ả Rập sẽ 'nhất định tăng cường các ảnh hưởng chống Anh và cô lập' ở Mỹ, và 'thậm chí có thể gây nguy hiểm cho khoản vay' mà Vương quốc Anh rất cần.

Chênh lệch hẹp
Tháng 6 năm 1946, một cuộc thăm dò ý kiến công chúng của Bộ Ngoại giao cho thấy chỉ có 38% người Mỹ đồng ý với bất kỳ khoản vay nào của Vương quốc Anh, trong khi có tới 48% người phản đối. Khoản vay này sẽ, theo lời của một người phản đối trong quốc hội, 'thúc đẩy quá đáng Chủ nghĩa xã hội ở trong nước và Chủ nghĩa đế quốc ở nước ngoài'.

Tuy nhiên, sự sợ hãi lớn dần về mối đe dọa Liên Xô, đã thay đổi chiều hướng cuộc tranh luận ở Washington. Bài phát biểu ni tiếng 'Bức màn sắt' (Iron Curtain) của Churchill vào ngày 5 tháng 3 năm 1946 đã trấn tĩnh những người hoài nghi cũng như sự lên án kịch liệt nó của Stalin. Cuối cùng, Quốc hội đã phê chuẩn khoản vay chỉ với chênh lệch rất hẹp là 46-34 ở Thượng viện và 219-155 ở Hạ viện.

Nhưng, khoản vay đã không cứu được đế chế này.

Ngày 22 tháng 7, Khách sạn King David ở Jerusalem bị nổ tung bởi lực lượng ngầm Do Thái Irgun. Những người Zionists ở Palestine giờ đây đã khởi nghĩa. Tuy nhiên, Churchill vẫn hi vọng và nói, 'Hầu như bất kì giải pháp nào mà nước Mỹ sẽ tham gia cùng chúng tôi có thể được đưa ra để thực hiện.'

Bài nói chuyện đã rất gần với sự thật: bất kì giải pháp nào cho tình thế lưỡng nan (quandary) đế quốc tốn kém của Vương quốc Anh mà thiếu sự ủng hộ của nước Mỹ giờ đây s vô vọng. Và Truman, không giống như người tiền nhiệm Franklin Roosevelt, không có mục tiêu chiến lược (như đánh bại Đức quốc xã) để ông có thể hướng chính phủ của mình tới những mối quan tâm của người Anh. Trong trường hợp Palestine, dường như ngược lại: ông đang tiến tới việc thừa nhận một nhà nước Do Thái.

Mùa hè năm 1946 cũng chứng kiện sự thất bại những nỗ lực của Vương quốc Anh trong việc kiềm chế xung đột sắc tộc ở Ấn Độ. Tiếp sau tuyên bố của Mohammad Ali Jinnah rằng Đảng của ông sẽ theo đuổi một nhà nước Pakistan độc lập, hàng nghìn người đã tử vong do bạo lực chủng tộc và tôn giáo đối lập lan ra từ Calcutta.

Duy trì lực lượng của Anh ở Ấn Độ sẽ cần tới 500 triệu USD một năm; ở Trung Đông, thêm 300 triệu USD nữa -- gần 1/4 toàn bộ khoản vay từ Mỹ.

Xấu, tồi tệ hơn
Trong khi đó, tình hình vốn đã xấu còn trở nên tồi tệ hơn ở Hy Lạp. Các lực lượng Anh, sau khi đã chiến đấu chống Đức quốc xã trong Thế chiến II, giờ đây bị buộc (pin down) phải chiến đấu chống quân du kích cộng sản Hy Lạp ở phía bắc. Những đồng đô la quý giá vay mượn từ Mỹ đã bốc hơi. 'Tôi đang bắt đầu hoài nghi liệu cuộc chơi Hy Lạp có đáng tiền không (worth the candle), Thủ tướng Anh - Clement Attlee, viết thẳng thừng cho Bộ trưởng ngoại giao của mình, Ernest Bevin, ngày 1 tháng 12.

Các cam kết quân sự trải rộng (far-flung) của Vương quốc Anh có lẽ đơn giản là không bền vững nếu không có hỗ trợ của Mỹ, mà dường như không có khả năng xảy ra trong thời gian tới. 'Có xu hướng là Mỹ đang coi chúng ta như một tiền đồn,' Attlee viết, 'nhưng là một tiền đồn mà họ sẽ không phải bảo vệ.'

Mùa đông khắc nghiệt nhất trong 60 năm đã kéo căng khả năng kinh tế và chính trị của các cam kết hải ngoại của Vương quốc Anh tới điểm đứt gãy. Attlee đã kí thỏa thuận độc lập với Tướng Aung San của Miến Điện vào ngày 27 tháng 1 năm 1947. Sau đó, trong một tuần đầy biến động vào tháng Hai, từng cột trụ của sức mạnh đế quốc Anh vỡ vụn.

Vào ngày 14 tháng Hai, Bevin tuyên bố sứ mệnh Palestine của Vương quốc Anh sẽ được chuyển giao lại cho Liên Hiệp Quốc. Vào ngày 18, nội các đồng ý rút quân khỏi Hy Lạp. Và vào ngày 20, Attlee tuyên bố tại Hạ viện rằng Vương quốc Anh sẽ rời khỏi Ấn Độ. 'Tôi biết rằng nếu Đế chế Anh sụp đổ,' Bevin nói với các Hạ nghị sĩ một năm trước đó, 'điều đó có nghĩa là mức sống sẽ giảm đáng kể.' Năm 1946, đối với nhiều người trong giới cai trị ở Vương quốc Anh, việc đế chế là nguồn sức mạnh kinh tế vẫn còn là điều hiển nhiên (axiomatic). Tuy nhiên, giờ đây, việc nó trở nên kiệt quệ đồng đô la đến mức không chịu đựng nổi đã trở nên rõ ràng.

'Chỉ còn lại hai cường quốc,' Ngoại trưởng tương lai của Mỹ - Dean Acheson nói vào tháng Hai năm 1947, ám chỉ tới Mỹ và Liên Xô. 'Vương quốc Anh đã chấm dứt.'

Ngày 12 tháng Ba, Truman có bài phát biểu lịch sử trước phiên họp chung của Quốc hội, trình bày kế hoạch được biết đến như là 'Học thuyết Truman.' Nước Mỹ sẽ cam kết hỗ trợ kinh tế và quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ để ngăn chặn các nước này rơi vào sự thống trị của Liên Xô. Đây là thách thức đầu tiên trong chuỗi domino những thách thức địa chính trị mà nước Mỹ sẽ phải đối mặt trong những thập kỉ tiếp theo để bù vào khoảng trống do sự sụp đổ (implosion) của Đế chế Anh để lại -- sự sụp đổ sớm xảy ra bởi ngoại giao đồng đô la Mỹ.

(Benn Steil là Giám đốc kinh tế học quốc tế tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại và là tác giả của 'Cuộc chiến Bretton Woods: John Maynard Keynes, Harry Dexter White, và sự hình thành một trật tự thế giới mới' - “The Battle of Bretton Woods: John Maynard Keynes, Harry Dexter White, and the Making of a New World Order."

Bloomberg

"On Again, Off Again" nghĩa là gì?

Ủy ban mới đã họp thường xuyên hơn. Photo courtesy DonkeyHotey

Người Mỹ dùng 'on again, off again' để chỉ một việc gì diễn ra không liên tục, khi có khi không.

Ví dụ
“I’m thinking of dropping out of my hiking club. It’s not that I don’t like getting out and exploring some of the great trails in the area. But one month there might be an outing every week, then the next there’s only one. I’d prefer a schedule of hikes that’s not so on again, off again.”

“The last community committee never got much done. Perhaps it was because of all the on again, off again meetings they had. But now, the new leaders get together regularly. As a result, they’ve been able to clean up the area, improve public safety, and accomplish a lot that’s made our community a nicer place to live.”

VOA

Saturday, March 30, 2013

Trào lưu chụp ảnh chưởng ở Nhật Bản

Đây là đòn Kamehameha của Son Goku, lấy cảm hứng từ bộ truyện tranh nổi tiếng "Bảy viên ngọc rồng" (Dragon Ball) của tác giả Akira Toriyama.

Vào những năm 1980, khi bộ phim hoạt hình thường được chiếu trên giờ vàng ở Nhật, các bạn học sinh cũng 'tung chưởng' như này với nhau để nô đùa ở trường. Chỉ khác là, giờ đây, với sự trợ giúp của kỹ thuật số, các bạn học sinh có thể chụp, tự sướng và khoe trên mạng.

Trào lưu sốt lên vào thời điểm này, có lẽ do bộ phim mới 'Tân Bảy viên ngọc rồng: Trận chiến của các vị thần' (Dragon Ball Z: Battle of Gods) sẽ được trình chiếu trên các rạp phim Nhật Bản cuối tháng này. Đây là bộ phim liên quan tới 'Bảy viên ngọc rồng' đầu tiên được lên màn ảnh kể từ lần gần đây nhất cách đây đã 17 năm.

Bạn có thể xem thêm nhiều ảnh nữa ở đây. Cơn sốt đã lan sang cả những người đi xe máy:

và dường như đã lan cả ra ngoài biên giới nước Nhật:


Đường ống bệnh viện ở Anh phát nhạc hát ru bệnh nhân nhí


Nổi tiếng với việc cung cấp các phương pháp trị liệu sáng tạo cho bệnh nhân, Bệnh viện trẻ em Great Ormond Street trước đây đã lắp các bức tường chiếu sáng bằng đèn LED tương tác để giúp các em bé bình tĩnh trên đường đến phòng phẫu thuật. 

Giờ đây, bệnh viện này đã hợp tác với Studio Weave để cải tiến các đường ống xấu xí ở bên ngoài tòa nhà thành 'Nhà máy hát ru' (Lullaby Factory), một hệ thống các đường ống âm nhạc (kèn co - horn và kèn sáo bằng gỗ - woodwind) mà sẽ ru những bệnh nhân nhí ngủ ngon bằng các âm thanh thư giãn, giúp các em nhanh chóng hồi phục. 

Các bài nhạc do nhạc sĩ và nghệ sĩ âm thanh Jessica Curry sáng tác, và có thể được nghe qua các đường ống đặc biệt, hoặc bắt sóng đài Lullaby Factory.

Em bé 5 tuổi phát hiện hóa thạch khủng long mới


Em gái Daisy Morris ở Isle of Wight đã phát hiện ra những mảnh xương hoá thạch còn lại của một con vật không rõ vào năm 2009 (lúc đó em 5 tuổi), khi em dạo chơi trên bãi biển Atherfield với cha mẹ của mình ở hòn đảo quê hương. Cha mẹ của em đã gửi những hóa thạch này cho Trường Đại học Southampton để xác định và các nhà khoa học, sau khi hoàn toàn chắc chắn, đã công bố kết quả nghiên cứu: đây là những mảnh hoá thạch một phần bộ xương của một loài khủng long bay chưa hề biết đến cách đây 66 triệu năm. Chiều dài thân của chúng không vượt quá 35cm và sải cánh 75cm. 

Các nhà cổ sinh học đặt tên cho loài động vật cổ đại (pterosaur) này theo tên của em là Vectidraco daisymorrisae (để vinh danh).

Các hoá thạch của khủng long chim đã được chuyển đến Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia. Các nhà khoa học kể từ nay gọi đảo Wight là “Thủ đô khủng long của Vương quốc Anh”.
-----
Những ngày đầu tháng 1/2009, langdu cũng dạo chơi ở Isle of Wight, vậy mà không vấp phải mảnh xương hóa thạch nào, để được đặt tên là langdusae không, chẹp...


Xe buýt ở UK
Cột đèn 'nói chuyện' với khách qua đường ở nước Anh
Du lịch 201 nước không cần đến máy bay
Mark Carney: Thống đốc siêu sao

JDS gathering


Hôm qua, JICE tổ chức JDS Alumni gathering lần đầu tiên, langdu không đến được, rất regretful nên lục tìm ảnh cũ có cái này gọi là 'Vọng', cùng vui với anh em tại VJCC, loáng cái đã 5 năm từ lần 'hẹn hò' đầu tiên...

Ảnh này từ fb em Phạm Lệ Thủy, em share với mọi người, nên langdu cũng xin được ghi lại đây kỉ niệm, để sẽ... photoshop add thêm vào đứng cạnh ;).

Bài trước: "Across the Board" nghĩa là gì?

Sayonara party
Sensoji Temple, Asakusa, Tokyo

"His number is up" nghĩa là gì?

Biểu tình ở Pháp tháng 3 năm 2006, phản đối "Contract of First Recruiting". Photo courtesy gillesklein via Getty Images

Number có nghĩa là con số. Thành ngữ 'somebody’s number is up' có nghĩa là một người nào đó đã tới số rồi, không còn may mắn hay thành công nữa.

Ví dụ
“We knew to expect another round of layoffs. So I had a bad feeling when my colleague got called in to meet with the boss. Sure enough, his number was up (anh ấy đã tới số rồi). He and five other employees were given an hour to clean out their desks and turn in their keys (trả lại chìa khóa văn phòng). I’m just lucky I still have my position.”

“My neighbor’s son was driving home when he was hit by a drunk driver. Poor guy, his car was totaled (bị hỏng hoàn toàn) and he spent three days in the hospital. As my neighbor said: “There are so many dangerous drivers out on the road, you never know when your number will be up (không thể biết là chừng nào thì chúng ta tới số).”

VOA

Friday, March 29, 2013

Chỉ ăn 'phở ngó' cũng bị bắt trả tiền

Một biển báo cho biết sẽ thu phí 5 đô la Úc mỗi khách hàng nếu họ chỉ vào cửa hàng xem mà không mua bất kì món đồ gì đã được dựng lên ở Celiac Supplies tại ngoại ô Coorparoo ở Brisbane.

Cô Georgina, chủ cửa hàng nói rằng cô đành phải dùng biện pháp này sau khi mất hàng giờ đồng hồ mỗi tuần để đưa ra lời khuyên cho mọi người ghé thăm cửa hàng sau đó chẳng mua gì và đi về.

Mỗi tuần có khoảng 60 người ghé cửa hàng, hỏi các câu hỏi về sản phẩm và sau đó mua hàng y hệt hoặc tương tự ở siêu thị hoặc mua qua mạng.

'Tôi đã phải làm rất nhiều và chẳng nhận được một xu nào cả.' cô Georgina nói, 'Tôi có thể nhận ra luôn ai là người chỉ định đến lấy lời khuyên miễn phí của tôi rồi biến mất.'
-----
Ồ, vậy chủ cửa hàng Cát Vàng (Bình Thuận) có thể áp dụng cách này, đâu việc gì phải 'không tiếp người Việt' để bị ném đá...

"The tail end" nghĩa là gì?

Một con cá voi bị giạt vào bờ biển Skegness, ngày 4/3/2012. Photo courtesy brydeb.

'The tail end' có nghĩa là phần cuối cùng của một cái gì đó.

Ví dụ
The tail end of the storm caused the most damage.
She didn't thank her colleagues until the tail end of her long leaving speech.
We didn't find out the name of the killer until the tail end of the story.

Xin lưu ý
Nếu bạn rời nơi nào 'with your tail between your legs' (với cái đuôi ở giữa hai chân), có nghĩa là bạn rời khỏi nơi ấy với cảm giác xấu hổ hoặc ngượng ngùng vì đã thất bại hay phạm phải sai lầm.

Tom left the meeting with his tail between his legs after failing to impress the staff with his plans for the future.

Thực tế thú vị:
Đuôi cá voi có các đường đặc biệt ở mặt dưới, rất giống với vân tay của chúng ta vậy.

BBC


Thursday, March 28, 2013

Bill Gates treo giải 100.000 USD cho... sáng kiến bao cao su mới

Cabbages and Condoms*, Chiang Mai. Photo courtesy Jeremiah Ro
Sau khi đấu tranh cho máy tính xách tay với giá cả phải chăng cho trẻ em ở các nước đang phát triển, thiết kế những hệ thống nhà vệ sinh hiệu quả hơn và chiến đấu với bệnh sốt rét bằng các màn tránh muỗi ở châu Phi, Bill và Melinda Gates đã chuyển hướng đến mối quan tâm toàn cầu tiếp theo mà họ nghĩ cần thêm sự chú ý: đó là phát minh bao cao su thế hệ mới tốt hơn.

Quỹ Bill và Melinda Gates sẽ trợ cấp 100.000 USD cho bất kì nhóm nào có sản phẩm mẫu mà 'duy trì đáng kể hay thậm chí tăng cường khoái cảm, nhằm gia tăng nhận thức và việc sử dụng thường xuyên'.  

Bao cao su đã được sử dụng từ hơn 400 năm qua, nhưng công nghệ không thay đổi mấy trong 50 năm trở lại đây. Cứ 7 người thì chưa đến 1 người sử dụng bao cao su khi sinh hoạt tình dục, và chính vì 'thiếu sự khuyến khích nhận thức cho việc sử dụng thường xuyên' này đã cản trở việc áp dụng rộng rãi hơn. Hằng năm có khoảng 15 tỉ bao cao su được sản xuất trên thế giới nhưng chỉ có khoảng 750 triệu người sử dụng chúng.

Vì vậy, Quỹ đã cam kết hỗ trợ tiền cho bất kỳ thiết kế nào có thể chống lại sự kì thị phổ biến đối với bao cao su - đó là chúng sẽ giảm khoái cảm - và ủng hộ sản phẩm trung tính hoặc thậm chí tăng cường khoái cảm, mà không làm giảm tính năng phòng chống bệnh tật và tránh thai của nó.

Quỹ Gates cũng nói rằng bất kỳ ý tưởng giành chiến thắng nào giành được tiền tài trợ ở giai đoạn I là 100,000 USD, có thể hội đủ điều kiện để nhận thêm 1.000.000 USD trong giai đoạn II nếu kết quả ban đầu hứa hẹn.

Bài trước: Đại gia Nga tránh tắc đường như nào?

ConDorm

* là nhà hàng ở Thái Lan dành hết lợi nhuận cho bao cao su và giáo dục HIV.

Spoonerism nghĩa là gì?

Hôm nay đọc Freakonomics, langdu học được từ mới là spoonerisms. Bạn có thể hỏi, từ này là gì? Xin thưa, nó được đặt tên theo Reverend William Archibald Spooner (1844–1930), Warden of New College, Oxford, người nổi tiếng với cách này, chính là lối chơi chữ hay 'nói lái' mà từ xa xưa người Việt đã dùng, như Trạng Quỳnh với 'đá bèo', Hồ Xuân Hương với 'Giơ tay với thử trời cao thấp, Soạc cẳng đo xem đất vắn dài!', Nguyễn Khuyến với ''Già trên sáu chục chưa đeo kính, Thức suốt năm canh chỉ sợ gà.', còn học sinh 'nhất quỷ, nhì ma' chúng ta thì đơn giản với 'Thái dối', 'Hải dớ' :)

Trong cuộc phỏng vấn của CNBC với Warren Buffet mới đây, người phỏng vấn đã có một nice spoonersism (có thể do vô tình) khi định nói "average retail investors feeling that they can't get a fair shake" in the stock market because the game is weighted toward special interests. Nhưng thay vì nói 'fair shake', cô lại nói 'share fake', mà vô tình đã toát lên một cách hoàn hảo những gì mà các nhà đầu tư nhỏ lẻ đang sợ gặp phải.

Ngoài ra, xem thêm ở Wikipedia thì có một số ví dụ rất hay như: 
- "Three cheers for our queer old dean!" (dear old queen, referring to Queen Victoria)
- "Is it kisstomary to cuss the bride?" (customary to kiss)
- "The Lord is a shoving leopard." (a loving shepherd)
- "A blushing crow." (crushing blow)
- "A well-boiled icicle" (well-oiled bicycle)
- "You were fighting a liar in the quadrangle." (lighting a fire)
- "Is the bean dizzy?" (Dean busy)
- "Someone is occupewing my pie. Please sew me to another sheet." (occupying my pew...show me to another seat) 
- "You have hissed all my mystery lectures. You have tasted a whole worm. Please leave Oxford on the next town drain." (missed...history, wasted...term, down train).

hay ở trang fun-with-words, có một số funny spoonerism như:
- know your blows (blow your nose)
- tease my ears (ease my tears)
- you have very mad banners (you have very bad manners)
- I'm a damp stealer (I'm a stamp dealer)
- this is the pun fart (this is the fun part)
- my zips are lipped (my lips are zipped) :D

Các bạn có ví dụ spoonerism nào hay thì chia sẻ với journeyinlife nhé, ví dụ như ở bức ảnh dưới đây:
I feel spoonerism coming on. Photo courtesy daphneann


p/s 1: langdu nhớ hồi ở Nhật Bản, lướt mạng chơi, lang thang đâu lại gặp từ 'voyeurism', cứ tưởng 'ơ, có từ tiếng Anh bắt nguồn từ 'vợ yêu' của tiếng Việt ;), hóa ra không phải, nghĩa của nó là 'A person who derives sexual gratification from observing the naked bodies or sexual acts of others, especially from a secret vantage point.' (thị dâm :D, sorry, bạn đừng cười khi 'tưởng tượng' langdu vào trang nào hồi đó nhé :D.

p/s 2: từ nay về sau, ngoài các bài về cụm từ (phrase), langdu sẽ dùng entry này để giải thích những 'thắc mắc' của các bạn về tiếng Anh, đơn giản vì langdu thấy nhiều bạn đặt câu hỏi hàng ngày như:

- 9 life nghĩa là gì? -> có lẽ là 'night life', cuộc sống về đêm.
- f2f -> có lẽ từ 'face to face', mặt đối mặt.
- spring breaker nghĩa là gì? là khai xuân, hoặc bạn hỏi vì refer đến bộ phim Spring Breakers của đạo diễn Harmony Korine, nói về 4 cô gái bị bắt vì cướp nhà hàng để có tiền 'du xuân' rồi được nộp tiền tại ngoại bởi một tay buôn ma túy và vũ khí, muốn các cô này làm một số 'dirty work' (không biết là dirty như nào ta :)
- face the music -> là một album của New Kids on the Block, hay game show những năm 80 ở Mỹ. (đối diện với âm nhạc?) 
- c/o nghĩa là gì? thông dụng là certificate of origin: giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ.
- new year's resolution: nghị quyết đầu năm, là lời hứa hay quyết tâm đặt ra nhằm thực hiện trong năm, như 'năm nay phải giảm cân', 'bỏ thuốc lá', hay 'learn time management', 'more network' v.v...
- step by step -> từng bước.
- under the sun -> ý nói 'dưới vòm trời này'.
- par trong golf là gì? -> số gậy tiêu chuẩn để hoàn thành một lỗ đánh hay một sân golf trong các cuộc chơi golf chuyên nghiệp.
- peel jobs for student là gì? -> peel = bóc vỏ, gọt vỏ, chắc bạn quan tâm đến công việc ở nhà hàng, hay nông trại, hồi langdu ở Nhật, có bạn rủ đi 'gọt khoai tây' ở nhà hàng trong 2 tháng hè :)
- handy guide -> sách hướng dẫn thuận tiện, dễ cầm, dễ sử dụng.
- local paper -> tờ báo địa phương.
- moth-ball: viên băng phiến. có thể bạn được ai nói tới 'in moth-ball' có nghĩa là bị xếp xó, hay 'về vườn'
- mouth off -> nói năng hỗn xược, hoặc trình bày ý kiến, hay phàn nàn với giọng rất to.
- what is over is over -> chuyện gì đã qua để cho qua.
- eat one's word -> 'nuốt lời', bạn có thể xem thêm ví dụ người thật, việc thật gần đây ở blog hieuminh.
- eat my life away -> có lẽ nói đến điều gì đang làm bạn 'chết dần, chết mòn'.
- away day -> chắc bạn của bạn muốn nói đến việc đi chơi xa, nghỉ xả hơi khỏi công việc 'away from office'.
- barn is full -> kho thóc đã đầy, chắc bạn đang chơi game Hay Day, còn langdu nghĩ có nghĩa bóng là chuẩn bị đầy đủ rồi, thóc lúa, đạn dược đủ cả, không sợ những ngày mưa gió hay khủng hoảng.
- add your thoughts -> có lẽ là sếp hay đồng nghiệp yêu cầu bạn đóng góp ý kiến cho một kế hoạch chung.
- after you -> đây là câu trả lời khi có người mở cửa và mời bạn đi trước, bạn lịch sự nói 'after you' tức là anh đi trước đi, tôi đi sau (đi trước nhỡ giẫm phải mìn thì sao :D
- catch up -> theo kịp ai đó, hoặc ngắt lời (diễn giả), hay nhiễm (thói quen).
- close call = near miss -> suýt làm nguy hiểm đến tính mạng.
- hats off to -> ngả mũ, ý nói khi bạn kính phục, ngưỡng mộ ai đó.
- long shot: con ngựa ít có khả năng thắng cuộc đua, việc làm ít có cơ hội thành công. 'by a long shot' mang nghĩa tiêu cực là 'chưa tí nào cả' ví dụ như trong 'you haven't done your share of the work by a long shot'. Ngoài ra, 'long shot' còn có nghĩa là một bức ảnh chụp, cảnh phim mà đối tượng được hiện thị ở kích cỡ nhỏ.
- money wire = wire transfer hay credit transfer, chắc bạn tìm hiểu về 'chuyển tiền', chúc mừng bạn, bạn rất giầu :)
- fete -> có lẽ từ Fête trong tiếng Pháp nghĩa là lễ hội, ăn mừng, tiệc tùng. Ở Trinidad and Tobago và các lãnh thổ vùng Caribe nói tiếng Anh khác, từ này dùng để miêu tả bữa tiệc lớn được tổ chức trong mùa Carnival.
- au dodo? langdu đã có bài "Dead as a dodo" (chết như chim cưu), tức là không quan trọng, không phổ biến, nhưng 'au dodo' của bạn ở đây có lẽ là từ 'aller au dodo' tiếng Pháp = to go to bye-byes: sẽ nói lời chia tay.
- give someone a lift -> cho đi nhờ xe.
- talking about love có nghĩa là gì? ;)
- give someone a kiss nghĩa là gì? -> ;)
- need a hand -> cần một bàn tay :)
- near death and life without you -> 'sống dở chết dở' vì không có em chăng.
- lick là gì? -> liếm ;)
- tit nghĩa là gì? -> vú :)
- tit for tat là gì? -> chắc bạn ở trên định tìm hiểu nghĩa từ tit trong cụm từ này ;) 'ăn miếng trả miếng.'
- I miss you too -> anh cũng nhớ em ;)
- I had wife -> anh có vợ rồi ;)
- hottie -> một em gái nóng bỏng.
- house nghỉ = nhà nghỉ :D
- widdle bird dịch là gì? -> langdu chỉ biết widdle = urinate, tức là 'đái', chắc bạn của bạn chơi chữ thêm bird = chim nữa :)
- on top là gì? -> có lẽ trong 'woman on top', hay 'man on top', tiếng Tung Của là 'nữ thượng vi' hay 'nam thượng vi', có nghĩa là 'trai trên gái dưới' :D
- friend zone -> gặp từ này langdu bật cười ;), cái này hay à nha, bạn trai nào đi tán tỉnh thì đừng để em gái đó liệt vào 'vùng nguy hiểm' này mà không thể nào thoát ra được, đó là 'vùng bạn bè', chỉ là bạn thôi, không thể tiến lên 'bạn trai' được đó ;), xem thêm bức tranh này để hiểu nhé.

Tạm vậy, đây là những từ các bạn 'hỏi' langdu trong một tháng qua, nếu các bạn có từ nào mới, hãy comment, langdu sẽ tìm giúp. Còn những câu hỏi khác không phải tiếng Anh và có phần huyền bí như '19 nghĩa là gì', '2013 nghĩa là gì' thì langdu chịu :)

hay các câu khác như:
- thực dưỡng để giảm tình dục trẻ em?
- phụ huynh phải làm gì khi học sinh tiểu học yêu nhau?
- xử nữ có hấp dẫn không?
...
thì đành nhờ bạn đọc journeyinlife trả lời giúp ;).

Chấn thương đảo giấu vàng

Vài năm trước, nhà báo Nicholas Shaxson đã xuất bản một quyển sách hấp dẫn tên là 'Những hòn đảo giấu vàng', giải thích tại sao các thiên đường thuế quốc tế, cũng là 'nơi thẩm quyền bí mật' (secrecy jurisdictions), ở đó nhiều quy tắc không được áp dụng - đã hủy hoại các nền kinh tế trên thế giới như thế nào. Các nơi này không chỉ làm 'chảy máu' nguồn thu từ các chính phủ khan hiếm tiền bạc và gia tăng tham nhũng, mà còn làm biến dạng dòng chảy của vốn, dẫn tới các cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng lớn hơn.

Tuy nhiên, một câu hỏi mà nhà báo Shaxson chưa giải thích nhiều, đó là điều gì sẽ xảy ra khi một 'nơi thẩm quyền bí mật' này bản thân nó cũng phá sản. Đó chính là câu chuyện của Cyprus vào thời điểm này. Và cho dù kết quả của Cyprus là gì, sự hỗn độn ở Cyprus cho thấy hệ thống ngân hàng thế giới vẫn chưa được cải tổ ra sao, sau gần 5 năm kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu.

Cyprus là thành viên của khối euro, và các sự kiện ở đây có thể dẫn đến phản ứng hàng loạt (như rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng) ở các nước lớn hơn. Và có một điều nữa là: trong khi nền kinh tế Cyprus là bé nhỏ thì hệ thống ngân hàng lại lớn gấp 4-5 lần quy mô nền kinh tế nước này, lí do đây là thiên đường thuế nơi các tập đoàn và các đại gia ngoại quốc cất trữ tiền. Chính thức, 37% tiền gửi ở các ngân hàng Cyprus là từ những người không thường trú; mà con số thực tế, nếu bạn tính đến những người giàu có rời bỏ Cyprus và những người trên danh nghĩa cư trú ở Cyprus, còn lớn hơn rất nhiều. Về cơ bản, Cyprus là nơi mà mọi người, đặc biệt là nhưng không chỉ riêng người Nga, che giấu của cải của mình khỏi nhân viên thuế vụ và các regulator. Dù bạn có che đậy (gloss) như nào đi nữa, thì về cơ bản đây chính là rửa tiền.

Và sự thật là phần lớn của cải không di chuyển tí nào; nó chỉ trở nên vô hình. Ví dụ, trên giấy tờ, Cyprus là nhà đầu tư lớn ở Nga, nhiều hơn cả so với Đức - có nền kinh tế lớn gấp hàng trăm lần Cyprus. Hiển nhiên, trên thực tế, đó chỉ là việc 'đi đường vòng' của các đại gia Nga dùng hòn đảo này như là nơi trốn thuế.

Không may cho người dân Cyprus, một lượng tiền thật đủ lớn đã chảy vào tài trợ các khoản đầu tư rất xấu, khi các ngân hàng của họ mua nợ của Hy Lạp và cho vay bong bóng bất động sản quá lớn. Chẳng sớm thì muộn, mọi việc sẽ trở nên tồi tệ. Và giờ thì đúng như vậy.

Có sự tương đồng rất lớn giữa Cyprus ngày nay và Iceland (cùng quy mô kinh tế) vài năm trước. Giống như Cyprus bây giờ, Iceland có khu vực ngân hàng rất lớn, swollen bởi các khoản tiền gửi nước ngoài, mà đơn giản là quá lớn để giải cứu. Iceland chủ yếu đã buộc các ngân hàng phá sản, wiping out các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi bảo vệ người gửi tiền trong nước - và kết quả không đến nỗi nào. Trên thực tế, Iceland, hiện có tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn rất nhiều so với phần lớn châu Âu, đã vượt qua được cuộc khủng hoảng thành công một cách đáng ngạc nhiên.

Đáng tiếc là, phản ứng của Cyprus đối với cuộc khủng hoảng hiện tại là một sự rối ren vô vọng, một phần vì nó không có đồng tiền riêng, khiến cho nước này phụ thuộc vào những người ra quyết định ở Brussels và Berlin mà cũng không muốn để các ngân hàng openly fail.

Nhưng nó cũng phản ánh sự do dự của Cyprus trong việc chấp nhận chấm dứt hoạt động rửa tiền; các nhà lãnh đạo của Cyprus vẫn đang cố gắng hạn chế tổn thất đối với những người gửi tiền nước ngoài với mong muốn vô vọng là hoạt động kinh doanh sẽ khôi phục lại như bình thường, và họ cũng sốt sắng bảo vệ lượng tiền lớn, nên đã hạn chế tổn thất của người nước ngoài bằng cách tước đoạt người gửi tiền nhỏ lẻ ở trong nước. Tuy nhiên, như đã thấy, người dân bình thường ở Cyprus tức giận, kế hoạch bị hủy bỏ, và vào thời điểm này, không ai biết điều gì sẽ xảy ra.

Có lẽ là cuối cùng Cyprus sẽ áp dụng điều gì đó giống như giải pháp của Iceland, nhưng trừ khi nước này bị buộc phải ra khỏi khối euro trong vài ngày tới - một khả năng thực tế - nước này trước tiên có lẽ sẽ lãng phí nhiều thời gian và tiền bạc cho các biện pháp nửa vời, cố gắng tránh phải đối mặt với thực tế trong khi gánh các khoản nợ lớn đối với các nước giàu có hơn. Chúng ta sẽ chờ xem.

Nhưng lùi lại một chút và suy ngẫm thực tế không thể tin được là các thiên đường thuế như Cyprus, Cayman Islands, và nhiều nơi khác vẫn đang hoạt động tương tự như những gì các nơi này vẫn làm trước khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra. Tất cả mọi người đã thấy sự tổn hại mà giới ngân hàng tháo chạy gây ra như nào, nhưng hầu hết các hoạt động tài chính của thế giới vẫn chạy qua các jurisdiction cho phép các bankers né tránh (sidestep) kể cả những quy định bình thường nhất mà chúng ta đặt ra. Tất cả mọi người đều crying về thâm hụt ngân sách, tuy nhiên các tập đoàn và những người giàu vẫn tự do sử dụng các thiên đường thuế để tránh đóng thuế như những kẻ tầm thường.

Vì vậy, đừng chỉ khóc riêng cho Cyprus, mà hãy khóc cho tất cả chúng ta, hiện đang sống trong một thế giới mà những người lãnh đạo dường như nhất quyết không chịu rút ra bài học từ thảm họa (trong quá khứ).
(So don’t cry for Cyprus; cry for all of us, living in a world whose leaders seem determined not to learn from disaster.) 

Sơn Phạm (thô) dịch từ NYTimes


Lịch sử ngắn gọn về các lần đánh thuế tiền gửi
Cyprus: Từ thần kì kinh tế đến cơn bĩ cực ngày nay

"Across the Board" nghĩa là gì?

Anh ấy đạt được tiến bộ trong mọi môn học.

'Across the board' có một từ mới là board nghĩa là tấm bảng.' Across the board' có nghĩa là toàn bộ, toàn diện, trên mọi lĩnh vực. Thành ngữ này xuất xứ từ giới đua ngựa, khi người ta muốn thắng bằng cách đánh cược một con ngựa về cả hạng nhất, nhì và ba trên tấm bảng ghi các cuộc đua và tỷ lệ tiền cược.

Ví dụ
“Last semester, I encouraged Julie to work harder in order to get better grades. She certainly took my advice. She just showed me her report card and she’s made dramatic improvement. Not just in one or two classes, but across the board (mà trong tất cả mọi lớp). Amazingly, she’s made progress in every subject.”

“Since it was the employees in our department that saved the company so much money, we assumed that we were the only ones getting salary increases. Not true. The director approved them across the board (cho tất cả mọi người). He believes all the divisions should be rewarded for our recent success.”

VOA


Take away judgement

Take away judgement

Seventeen Cowboys Club, 30 Dec 2012.

"When you judge another, you do not define them. You define yourself." 
~Wayne Dyer

"If you judge people, you have no time to love them."
~Mother Teresa


Previous post: Set Your Priorities Straight

Hai mùa mưa
Một người đi
Tiễn bạn lên đường
Thu đến thu đi
Tokyo ngày trở lại
Tag and 7 truths about lovebird21c
Thời trai trẻ
Wanting to Feel Good and Look Good: Why Do We Do What We Do?

Wednesday, March 27, 2013

Sự vươn lên của Ngân hàng Trung ương Trung Hoa

Bắt đầu với những cải cách của Đặng Tiểu Bình vào năm 1978, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa dần dần nổi lên như một cường quốc thế giới. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

by Stephen Bell & Hui Feng / Sơn Phạm dịch

Tính đến tháng 11 năm 2012, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBOC) có tổng tài sản hơn 4,8 nghìn tỉ USD, nhiều hơn cả Ngân hàng Trung ương châu Âu và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. PBOC giờ đây cung cấp hơn một nửa tổng thanh khoản của thế giới và quản lý lượng dự trữ ngoại hối trị giá gần 3,3 nghìn tỷ USD.

PBOC ngày càng trở thành người cho vay cuối cùng trên trường quốc tế, đặc biệt là khi các chính trị gia châu Âu đang cố gắng thuyết phục Trung Hoa mua trái phiếu của họ. Không có gì ngạc nhiên khi Zhou Xiaochuan (Chu Tiểu Xuyên), thống đốc của PBOC, từ lâu đã được gọi là "Thống đốc ngân hàng trung ương của thế giới", người mà những lời nói có thể làm rung động thị trường toàn cầu.

Thật khó mà tin rằng chỉ trong ba thập kỷ trước đây, PBOC chỉ là một tổ chức nhỏ trong mê cung (labyrinth) bộ máy quan liêu của Trung Hoa. Sự vươn lên của ngân hàng này là cả một câu chuyện về quá trình chuyển đổi kinh tế hỗn loạn, sự lãnh đạo khéo léo và, trên tất cả là, chiến lược chính trị không ngoan. Và, những thách thức quan trọng nhất của nó có thể vẫn còn ở phía trước.

Sau cuộc cách mạng cộng sản, PBOC đã được chính thức thành lập vào năm 1949 như là một ngân hàng quốc gia, được ủy quyền là trung tâm tiền mặt, thanh toán bù trừ và tín dụng để phục vụ cho nền kinh tế Trung Quốc.

Trong những năm 1950, PBOC là ngân hàng lớn duy nhất ở Trung Quốc, một hệ thống chung (universal?) thực hiện chức năng ngân hàng trung ương và bán lẻ thô sơ. Tuy nhiên, nó đã bị gạt ra bên lề bởi sự áp chế tài chính và hệ thống phân cấp quan liêu trong nền kinh tế chỉ huy của Trung Hoa. Từ năm 1958 đến 1962, các chi nhánh của PBOC đã được sáp nhập với các Kho bạc địa phương, và từ năm 1968 để 1977, trụ sở chính của nó chỉ có 80 nhân viên hoạt động như một bộ phận nhỏ trong Bộ Tài chính. Ngân hàng này chẳng có hoạt động nào khác ngoài các hoạt động kế toán, thu ngân, và in tiền đơn thuần (mint-master).

Các cải cách của Đặng Tiểu Bình
Sau khi Đặng Tiểu Bình khởi xướng các cải cách kinh tế bắt đầu từ năm 1978, PBOC dần dần trở thành cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của Trung Hoa. Thị trường mới nổi này và sự mở rộng nhanh chóng các giao dịch quốc tế đòi hỏi sự trung gian tài chính phức tạp mà hệ thống chung của PBOC đã không thể đáp ứng.

PBOC tách độc lập khỏi Bộ Tài chính từ năm 1979, và do hàng loạt các ngân hàng nhà nước đã được hồi sinh để tham gia vào kinh doanh thương mại, vai trò của PBOC trong hệ thống mới đã trở thành vấn đề gây tranh luận sôi nổi. Sau nhiều cuộc tranh luận nội bộ kéo dài, vị thế của nó như là ngân hàng trung ương Trung Hoa đã được chính thức xác nhận vào năm 1983 và các hoạt động ngân hàng thương mại của nó đã được trao cho các ngân hàng nhà nước khác.

Các cuộc khủng hoảng lạm phát trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 đã khiến giới tinh hoa có đầu óc cải cách thúc đẩy vai trò của PBOC nhằm duy trì sự ổn định giá cả thông qua Luật Ngân hàng Trung ương năm 1995. Luật này quy định: "Mục tiêu của các chính sách tiền tệ là nhằm duy trì sự ổn định giá trị tiền tệ và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế."

Chính quyền trung ương cũng cơ cấu lại các chi nhánh địa phương của PBOC, cho phép tăng tính tự chủ từ chính quyền tỉnh, vốn là nguồn cơn gây lạm phát do đầu tư tràn lan. Sau khi việc lập kế hoạch tài chính trung ương được loại bỏ vào năm 1998, PBOC đã tìm cách hiện đại hóa bộ máy chính sách tiền tệ và xây dựng các mối quan hệ gần gũi hơn với cộng đồng quốc tế.

Quan trọng hơn, các lãnh đạo của PBOC hình thành quan hệ chính trị với các nhà lãnh cải cách trong đảng, đặc biệt là Zhu Rongji (Chu Dung Cơ), người đã là thống đốc của PBOC từ 1993 đến 1995 và trở thành thủ tướng vào năm 1998. Zhu thiếu sự ủng hộ rộng rãi trong chính quyền trung ương, nhưng PBOC đã mang lại sự ủng hộ chính sách và hành chính về một loạt các vấn đề.

PBOC do đó đã giành được nhiều quyền hơn bằng cách trở thành một đồng minh không thể thiếu của các nhà lãnh đạo chính trị cải cách. Dưới sự lãnh đạo của ông Zhu, ngân hàng này đã lèo lái một cuộc hạ cánh mềm trong năm 1996 sau một đợt lạm phát cao (tới tận 24% vào năm 1993), và chiến thắng nhiều cuộc tranh luận lớn sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, đặc biệt là trong việc theo đuổi chiến lược không phá giá.

Phô diễn sức mạnh (Flexing Muscles)
Với thẩm quyền mới này, PBOC đã bắt đầu thể hiện sức mạnh của mình trong những năm 2000, đặc biệt dưới sự chỉ đạo của Thống đốc Zhou Xiaochuan, một nhà kinh tế có quan hệ mật thiết với các lãnh đạo chính trị. Mặc dù đảng vẫn kiểm soát khu vực tài chính, ngân hàng này đã và đang thăm dò một cách thận trọng các công cụ mới theo cơ chế thị trường nhiều hơn để thiết lập một chính sách tiền tệ đáng tin cậy và duy trì ổn định giá cả.

Từ năm 1979 đến 1994, tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 10,1% trong khi lạm phát trung bình ở mức 7,7%. Từ năm 1995 đến 2011, tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 9,9% trong khi lạm phát giảm xuống ở mức trung bình chỉ là 3,1%. Thành tích này đã mang lại cho PBOC thẩm quyền lớn hơn và nhiều dư địa hơn để quản lý kinh tế vĩ mô.

PBOC cũng đóng một vai trò trung tâm trong việc tự do hoá tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong năm 2005 và một lần nữa vào năm 2010, bất chấp sự phản đối gia tăng trong nội bộ. Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực ngân hàng ổn định để thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương này cũng đã dẫn đầu trong cuộc cải cách ngân hàng gần đây nhằm cải thiện quản trị doanh nghiệp và kỷ luật thị trường. Theo Zhou, ngân hàng này cũng đã hoạt động tích cực trong việc cải cách chứng khoán, bảo hiểm và thị trường trái phiếu, quốc tế hóa đồng renminbi (nhân dân tệ), và thành lập hệ thống thanh toán hiện đại.

Tuy nhiên, PBOC vẫn còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Trong ngắn và trung hạn, nó sẽ phải giải quyết các rủi ro nợ xấu, đặc biệt là tỷ lệ ngày càng tăng các 'ngân hàng trong bóng tối' (shadow banking) và rủi ro bất động sản và nợ chính quyền địa phương. Về lâu dài, nó sẽ phải đảm bảo sự ổn định khi Trung Hoa chuyển hướng thành nền kinh tế định hướng nội địa hơn. Điều làm cho các nhiệm vụ này trở nên khó khăn (daunting) đối với PBOC là nó phải liên tục thương lượng và đàm phán với các cơ quan nhà nước khác và với các lãnh đạo đảng. Nó cũng phải thực hiện một chính sách tiền tệ theo định hướng thị trường nhiều hơn trong khi bị hạn chế bởi các di sản của quá khứ cộng sản, chẳng hạn như sự kiểm soát của nhà nước đối với các lĩnh vực tài chính quan trọng.

Tuy nhiên, tương lai của ngân hàng này phụ thuộc không chỉ riêng ở sự vận động chính trị khéo léo. Nó phải ngăn chặn các thảm họa tài chính đã bao vây Mỹ và châu Âu trong những năm gần đây. Và điều này có lẽ lại là những thách thức khó khăn nhất.

(Stephen Bell là giáo sư kinh tế chính trị và Tiến sĩ Hui Feng là nhà nghiên cứu tại Trường Khoa học Chính trị và Nghiên cứu Quốc tế tại Đại học Queensland. Cuốn sách mới nhất của họ là "Sự nổi lên của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa: Quan điểm chính trị của sự thay đổi thể chế." - "The Rise of People's Bank of China: The Politics of Institutional Change."

Bloomberg

Popular Now