Journey in Life: October 2013

Thursday, October 31, 2013

Xây dựng đường sắt

Động cơ hơi nước được sản xuất vào năm 1930. Nguồn: Thư viện hạt Springfield-Greene.

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc ngày 4 tháng Mười Hai năm 1932, công ty đường sắt Wisconsin Central Railway tuyên bố phá sản. Dù đã có được khoản cứu trợ khẩn cấp 5 triệu USD từ Tập đoàn Tài chính Tái thiết Liên bang, công ty vẫn sẽ phải vi ước 44 triệu USD trái phiếu.

Đây là công ty đường sắt thứ chín đệ đơn tái cấu trúc kể từ năm 1929, và khó khăn của nó là triệu chứng của một ngành công nghiệp một thời hùng mạnh đã thất bại trong việc thích ứng với nền kinh tế đổi thay từng ngày, và giờ lâm vào khủng hoảng khi cuộc Đại Khủng hoảng trở nên trầm trọng.

Các công ty đường sắt đã suy giảm trong nhiều thập kỷ trước đó. Tổng thống Woodrow Wilson đã tạm thời quốc hữu hóa các công ty này trong Thế chiến I để đối phó với các sai lầm vận chuyển thảm khốc. Năm 1920, đạo Luật Giao thông Vận tải phục hồi quyền tư hữu và giao Ủy ban Thương mại Liên bang nhiệm vụ quy hoạch các vụ hợp nhất hiệu quả, nhưng những nỗ lực này đều thất bại.

Khi Đại Khủng hoảng xảy ra, lưu lượng giao thông và doanh thu của ngành đường sắt suy giảm do sự cạnh tranh gia tăng từ các doanh nghiệp vận tải đường bộ - được hưởng lợi từ ngân sách nhà nước dành cho việc xây dựng và bảo trì đường cao tốc. Do phải đối mặt với chi phí cố định lớn và các khoản thanh toán lãi suất bắt buộc từ nợ trái phiếu, các nhà quản lý đường sắt cắt giảm mạnh chi phí và giá cả trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm thanh toán tài khoản của họ.

Năm 1932, khi tai họa của ngành đường sắt càng thêm trầm trọng, chính phủ một lần nữa phải can thiệp.

Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã kêu gọi quy hoạch đường sắt quốc gia trong một bài phát biểu vận động, cho rằng 'trong thời kỳ thụ động chính trị và tư nhân thắng thế hậu chiến, chúng ta đã thường xuyên dò dẫm chứ không phải là giải quyết tới cùng vấn đề ngành đường sắt.' Giờ là lúc giải quyết chúng. 'Bất kỳ lợi ích kinh tế lớn nào trên cả nước cũng cần có sự hoạt động liên tục hiệu quả của các tuyến đường sắt', ông nói.

Trong tháng Chín, một liên minh các ngân hàng và công ty bảo hiểm, nắm giữ 11 tỷ USD trái phiếu đường sắt của nước Mỹ, đã nhóm họp Ủy ban Giao thông Quốc gia đề đề xuất đạo luật nhằm giải quyết các vấn đề của ngành công nghiệp này. Hội nghị do cựu Tổng thống Calvin Coolidge chủ trì và bao gồm các nhà đầu tư Bernard Baruch và cựu Thống đốc New York Alfred E. Smith.

Trong tháng Mười Một, các đề xuất gửi tới 'Hội đồng quản trị đường sắt' đề nghị sửa đổi căn bản các luật giao thông vận tải, từ việc điều tiết các công ty vận tải đường bộ và mức giá họ thu từ các xe có động cơ sao cho tương ứng với phần chi phí đường cao tốc của họ. Những người khác đề nghị mua lại các tuyến đường sắt không có lợi nhuận và chuyển chúng thành đường cao tốc hoặc tích hợp tuyến vận chuyển New England và phía Nam vào hệ thống quốc gia.

Vào đầu tháng Mười Hai, có tin đồn rằng Hội đồng đang lập kế hoạch để tổ hợp chung các cơ sở đường sắt, điều phối tất cả các cơ quan giao thông vận tải và thực hiện những thay đổi đầy tham vọng khác. Các thành viên Hội đồng cũng 'lên án mạnh mẽ' các giám đốc điều hành đường sắt vì 'đã không sớm nhận ra rằng họ không còn độc quyền nữa', tờ Wall Street Journal đưa tin.

Dẫn lời một nhà sản xuất ở miền Trung Tây, người đã lưu ý rằng tất cả các khách hàng trong khu vực đều yêu cầu giao hàng bằng xe tải, tờ báo cảnh báo rằng ngành đường sắt 'sẽ không bao giờ có thể lấy lại được công việc này từ các nhà cung cấp vận chuyển cạnh tranh.'

Các nhà quản lý đường sắt đề xuất cắt giảm tiền lương, chứ không phải là tái cơ cấu. Tuy nhiên, William Atterbury, Chủ tịch công ty đường sắt Pennsylvania Railroad, có cái nhìn rộng hơn. Là sinh viên tốt nghiệp Đại học Yale, người đã thăng tiến từ công việc một xưởng đường sắt lên chức vụ quản lý, Atterbury cho rằng việc điều phối và đổi mới sáng tạo có thể khôi phục lợi nhuận.

Ông cho rằng, điều phối sẽ kiểm soát cạnh tranh và loại bỏ lãng phí. Đổi mới sáng tạo nghĩa là tìm kiếm những cách thức mới để tích hợp các tuyến đường sắt thành một hệ thống giao thông hiện đại; ví dụ, công ty đường sắt Pennsylvania Railroad, đã bắt đầu vận chuyển đường dài các bộ phận xe tải có thể tháo rời được, mà sau đó sẽ được bắt vít lại thành khung để giao hàng cuối cùng.

Các ý tưởng lần lượt xuất hiện tại các phiên điều trần lần hai của Hội đồng đường sắt vào ngày 7 tháng Mười Hai, nhưng phải mất bao lâu thì các bế tắc chính sách của thập niên vừa qua mới được tháo gỡ?

Sơn Phạm
Bloomberg


"Feast or Famine" nghĩa là gì?

Famine Memorial - Dublin. Photo courtesy William Murphy.

'Feast or Famine' có một từ mới là famine nghĩa là đói kém. Thành ngữ này dùng để chỉ sự thay đổi quá độ giữa giàu sang và nghèo khó, giữa thành công và thất bại.

Ví dụ
I love playing in a jazz band. But I can’t rely on (dựa vào) it for a full-time salary. During the spring and summer, we get hired a lot to play at weddings, outdoor concerts (buổi hòa nhạc ngoài trời) and festivals. Then, once the cooler temperatures set in (khi trời trở lạnh), we don’t get that many jobs at all. It’s feast or famine (khi thì quá dư giả, khi thì đói kém).

Cape Cod has always been a popular destination for tourists in the summer who enjoy activities like going to the beach, fishing or whale watching (xem cá voi). For providers of goods and services there, business used to be rather feast or famine. But people are now living in the area year-round. So business is more constant.

Huyền Trang
VOA

Bài trước: Ngáp sái quai hàm

Ngáp sái quai hàm

Yawn one's head off
Photo courtesy Linda Tanner.

Bài trước: "Fast and furious" nghĩa là gì?

"Two heads are better than one" nghĩa là gì?
Xổ số cuộc đời

Wednesday, October 30, 2013

Tâm An thích trứng chim cút

Tâm An_7m3w3d (30/10/2013)

Điều cần tránh khi vận động tranh cử trong thời kỳ Đại Khủng hoảng

Chiến dịch tranh cử của Franklin D. Roosevelt ở Atlanta năm 1932. Nguồn: Thư viện Tổng thống Franklin D. Roosevelt

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc cuối tháng Tám năm 1932, George Foster Peabody, một nhân vật quan trọng trong ngành đường sắt và điện lực, đã viết thư cho tờ New York Times, chỉ trích đối sách của Tổng thống Herbert Hoover ứng phó với cuộc Đại Khủng hoảng. Peabody kết luận chắc nịch: 'Vì vậy, tôi tin chắc rằng Tổng thống Hoover không đủ năng lực.'

Trong khi đó, sự ủng hộ dành cho Thống đốc bang New York Franklin D. Roosevelt, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ, đang tăng nhanh. Tờ The Economist viết: 'Ông Roosevelt đã dũng cảm lao vào chiến hào và khơi dậy sự nhiệt tình bằng các cuộc tấn công cá nhân đầy nhiệt huyết của mình lên các phòng tuyến của đối phương.'

Tờ New York Times lặp lại quan điểm này: 'Ứng cử viên đảng Dân chủ đang ở thế tấn công... Ứng cử viên đảng Cộng hòa vẫn chưa huy động được trọng pháo của họ.'

Hoover đã dự định chiến dịch tranh cử từ Nhà Trắng, nhưng sự thành công của chiến dịch phía Tây của Roosevelt đã buộc ông phải rời khỏi Washington. Cho tới khi chỉ còn năm tuần trước ngày bầu cử, Hoover mới có bài phát biểu chiến dịch tranh cử đầu tiên của mình tại quê nhà, bang Iowa, vào ngày 4 tháng Mười.

Sau khi nhắc qua tới việc ông đã được sinh ra trong thời kỳ suy thoái năm 1874, Hoover đã đi sâu vào bản chất vấn đề của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay:
Chúng ta đã chiến đấu một cuộc chiến vô tận chống lại ảnh hưởng của các tai họa này giáng lên đầu chúng ta... Chúng ta đã chiến đấu để cung cấp nguồn cung tín dụng cho các thương nhân, nông dân và các ngành công nghiệp. Chúng ta đã chiến đấu để kìm hãm việc giảm giá... Hãy đừng để bất kỳ ai nói với bạn rằng tình hình không thể tồi tệ hơn nữa. Tình hình có thể tồi tệ hơn rất nhiều, đến mức mà những ngày bi thảm hiện nay còn có vẻ như là sự thịnh vượng thực sự... Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu.

Những lời lẽ nghiêm khắc được nói ra trong ngôn ngữ hiếu chiến. Nhưng liệu như thế đã đủ?

Trong khi Hoover thể hiện mình như thể quá bận rộn chiến đấu với cuộc Đại Khủng hoảng từ Nhà Trắng đến mức không thể lãng phí thời gian quý báu đó cho việc vận động tái tranh cử, Roosevelt đã theo đuổi cách tiếp cận vận động tranh cử, rong ruổi hàng nghìn dặm và ghi điểm từ các bài phát biểu trước những đám đông lớn.

Trong một bài phát biểu ở Indianapolis ngày 20 tháng Mười, ông tỏ ra bình tĩnh, rõ ràng và tự tin chiến thắng. Ông nói:
Các bạn của tôi, chúng ta đang trải qua không phải một chiến dịch tranh cử bình thường. Tôi tin rằng chiến dịch này đánh dấu sự khởi đầu một nỗ lực mới trong nền chính trị nước Mỹ và việc quản lý của Chính phủ. Người dân Mỹ, bảo thủ và yêu chuộng hòa bình, đã có kinh nghiệm dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng hòa hiện nay mà họ không còn muốn tiếp tục.

Roosevelt nói các chính sách của Hoover như thể 'một loạt trò đánh bạc mang đầy tai họa đối với sự thịnh vượng của quốc gia.' Thay vào đó, ông hứa:
Mục tiêu của chính quyền mới sẽ là lập lại trật tự từ sự hỗn loạn hiện tại, thiết lập các chính sách phù hợp, tiến bộ và nhân đạo, khắc phục những thiệt hại đã xảy ra, và nếu bạn muốn, sẽ là đưa người dân Mỹ trở lại con đường kinh tế lành mạnh và sự thịnh vượng được phân phối rộng rãi hơn.

Tờ The Economist kết luận từ kết quả của cuộc bầu cử: 'Chưa từng có ứng cử viên đảng Cộng hòa nào ở giai đoạn cuối này của chiến dịch tranh cử mà trông thảm bại như Tổng thống Hoover.' Điều đó mới đúng làm sao.

Sơn Phạm
Bloomberg


"Fast and furious" nghĩa là gì?

Photo courtesy karamsingh.

'Fast and furious' (shared via VOA) có một từ mới là furious nghĩa là mãnh liệt. Vì thế thành ngữ này có nghĩa là vừa nhanh, vừa mạnh.

Ví dụ
Ever since my son won the national math competition (cuộc thi toán toàn quốc), requests (thỉnh cầu) have been coming in fast and furious (đến tới tấp). Suddenly hundreds of kids and their parents want his advice (lời khuyên), interviewers (người phỏng vấn) are begging (cầu khẩn xin) for his story, and colleges across the country are offering him four-year scholarships.

The residents in Alaska are used to bad weather in winter. But they weren’t prepared for all the snow they recently got. That’s because the storm (trận bão) moved in (tràn tới) fast and furious (nhanh chóng và mãnh liệt). Within a few short hours, towns became overwhelmed (tràn ngập) by mountains of snow (núi tuyết).

Sorry? What? Fast and Furious 7 has already taken in $392 million. Didn’t it open just 15 minutes ago? As ever, the trade papers are skewing (liếc nhìn) their reports towards the US figures. That $147 million is certainly a huge haul. It obliterates all earlier Fast and Furious debuts (ra mắt). Indeed, it is up a gob-smacking (đáng kinh ngạc) 51 percent on Fast and Furious 6. It’s the biggest debut ever in April. And so on. Take a breath.

Eva Mendes is wanted to appear in Fast and Furious 8: The 41-year-old actress - who starred in 2 Fast 2 Furious in 2003 and also returned for a cameo in Fast Five - is wanted to reprise the role of US Customs Agent Monica Fuentes in the eagerly-awaited New York-based film, the Latino-Review reports.


Phạm Hạnh

Ba chân bốn cẳng

As fast as one's legs could carry one
April 2011 SOSH Run. Photo courtesy West Point - The U.S.

Bài trước: Trên đe dưới búa

"It never rains but it pours" nghĩa là gì?
"Without a Leg to Stand on" nghĩa là gì?
"To give a leg up" nghĩa là gì?

Tuesday, October 29, 2013

Nỗi thất vọng thất nghiệp mùa hè

Mọi người van xin một chỗ làm việc. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc trước khi đổ vỡ thị trường chứng khoán vào tháng Mười năm 1929, chỉ khoảng 3% công nhân Mỹ bị thất nghiệp - 1,5 triệu trong số lực lượng lao động 50 triệu người.

Vào năm 1932, tổng cộng tới 12 triệu người - 24% lực lượng lao động - không có việc làm.

Rất ít dấu hiệu tuyển dụng mới trong mùa hè thứ ba cuộc Đại Khủng hoảng, kể cả khi giá nông sản và cổ phiếu công ty hồi phục. Thậm chí 'sinh viên đại học và học sinh tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp cũng không thể có một chỗ làm', luật sư Benjamin Roth bang Ohio viết trong cuốn 'Nhật ký Đại khủng hoảng'

Những người thất nghiệp sẽ phải làm gì, và cộng đồng và chính quyền sẽ hỗ trợ họ như thế nào?

Những người Mỹ thất nghiệp đã thử hai chiến lược lớn: chuyển chỗ và trang bị lại. Từng người một đến ngành đường sắt và đường bộ để tìm kiếm cơ hội mới. Một số người miền Nam bị sa thải di cư về phía đồng bằng gần New Orleans, đóng nhiều nhà thuyền đơn giản với nhau thành những ngôi nhà nổi.

'Những người này nói rằng họ có thể canh tác một khoảnh đất gần đó, tự làm lấy gần như tất cả thực phẩm cho mình, và sống một cách độc lập mà không cần tiền, vì những thuyền này không bị đánh thuế', tờ New York Times đưa tin.

Ở phía Tây, người dân đổ xô đi tìm vàng, với hơn 10.000 người thất nghiệp mang đồ nghề 'để thử vận may tại các bãi vàng.' Tại Washington, Phòng Thương mại Spokane, phối hợp với các trường đại học trong vùng, tổ chức một khóa học ba ngày, được rất nhiều người đăng ký học và tham gia, những người hi vọng có được thu nhập trung bình một đôla mỗi ngày từ việc thăm dò vàng nghiệp dư, tờ New York Times đưa tin.

Những người khác tham gia 'khóa học hè dành cho người thất nghiệp.' Tại New York, những khóa học này giảng dạy cấp tốc cho phụ nữ về trang điểm và y tá, và đàn ông tham gia các lớp học về điện và cơ khí tự động.

Các chương trình đưa người dân thành thị 'về với nông thôn' cũng rất nhiều. Thống đốc bang New York Franklin D. Roosevelt ủng hộ một kế hoạch nhà nước cung cấp đồ, công cụ, hạt giống và các nhu yếu phẩm hộ gia đình. Trong tháng Sáu năm 1932, khoảng 250 gia đình đã được hỗ trợ bởi kế hoạch này, tờ Chicago Defender đưa tin.

Nhưng ngay sau đó, thực tế (khó khăn) lại quay về. Bộ trưởng Nông nghiệp Arthur Hyde lưu ý rằng rất ít việc làm tại các trang trại có lợi nhuận, và làm việc ở đó cũng 'không mang lại nhiều hy vọng, ngoại trừ những người mới đến từ các trang trại,' tờ Wall Street Journal đưa tin.

Trên mặt trận khác, các nhà kinh tế và công đoàn lên tiếng về tuần làm việc năm ngày để chia sẻ bớt các việc làm đang có, nhưng thật ra rất nhiều người đang làm bán thời gian.

Cộng đồng cũng cố gắng trợ giúp. Các hội phúc lợi Georgia tài trợ các dự án đóng hộp, và chính quyền đưa tù nhân tới làm việc ở nhà máy đồ hộp cộng đồng hạt Jenkins, mà sản phẩm làm ra được dùng để cho tù nhân và những người thất nghiệp.

Ở Atlanta và các thành phố khác, các quan chức hạt, Hội Chữ thập đỏ và những người khác tài trợ các vườn công cộng, nơi những người thất nghiệp có thể làm việc hai ngày một tuần để nuôi gia súc lấy thịt đóng hộp và đảm bảo khẩu phần ăn một tuần cho gia đình. Memphis đầu tư 10.000 USD mua các thiết bị đóng hộp, và người dân quyên góp hạt giống đủ để gieo 2.500 chỗ trống trong thành phố.

Ở những nơi khác, Long Islanders tổ chức các giải đánh bài brit và tặng số tiền thu được cho những người thất nghiệp. Với hiệu ứng lớn hơn, các nhà lãnh đạo kinh doanh thành phố Chicago cam kết hơn 4 triệu USD để duy trì hoạt động cứu trợ thất nghiệp trong mùa hè.

Tuy nhiên, số tiền lớn như vậy vẫn chỉ là nước chảy nhỏ giọt so với cuộc khủng hoảng sắp tới. Thậm chí chương trình đường cao tốc liên bang mới trị giá 120 triệu USD tạo ra 250.000 việc làm chỉ có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp 0,5 điểm phần trăm, tờ New York Times đưa tin. Đây thực sự là thời kỳ khó khăn.

Sơn Phạm
Bloomberg


Trên đe dưới búa

Between hammer and anvil
Medieval blacksmith. Photo courtesy Hans Splinter.

Bài trước: Lấy thúng úp voi

"It never rains but it pours" nghĩa là gì?
"Cast in Stone" nghĩa là gì?

"It never rains but it pours" nghĩa là gì?

Photo courtesy Fuzzy Images.

Khi ai đó nói 'it never rains but it pours' (không chỉ mưa mà là mưa rào), nghĩa là ý họ muốn nói nhiều vấn đề xảy ra không phải cách quãng - mà chúng đến dồn dập cùng một lúc (phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí).

Ví dụ
We had nothing to do for weeks, then suddenly we have all this work to do: it never rains but it pours!
I missed my train this morning, lost my wallet and spilt coffee all over myself. It never rains but it pours.

Xin lưu ý
Nếu bạn 'pour cold water' (dội nước lạnh) lên kế hoạch hay ý tưởng của ai, điều đó có nghĩa là bạn đang chỉ trích hay phản ứng tiêu cực về chúng.

I wanted to walk up the mountain but Jane threw cold water on the idea. She insisted on taking the cable car.

Thực tế thú vị:
Làng Debundscha ở nước Cộng hòa Cameroon được cho là một trong những nơi ẩm ướt nhất trên trái đất. Ngôi làng nằm ở chân núi Cameroon, đối mặt với Nam Đại Tây Dương, khiến có một mùa mưa dài và khí hậu rất ẩm với lượng mưa trung bình 10.300 millimetres mỗi năm.

BBC


Monday, October 28, 2013

Sếp tí hon yêu Gogo

Tâm An_7m3w1d (28/10/2013)

Các cuộc bầu cử được đoán trước năm 1932 ở Pháp

Tổng thống Pháp Paul Doumer bị kẻ ám sát bắn, ngày 6 tháng Năm năm 1932. Nguồn: Associated Press.

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc tháng Tư năm 1932, cuộc tranh cãi về chính sách thương mại giữa Pháp và Mỹ đã được tạm hoãn, nhường chỗ cho cuộc bầu cử ở nước Pháp mà sẽ đánh dấu một sự thay đổi đáng kể trong vị trí kinh tế và chính trị của nước này.

Mặc dù nhập khẩu của Pháp so với năm trước đó đã giảm khoảng 40%, xuất khẩu còn giảm xuống hơn nữa, dẫn đến mức thâm hụt gần 1 tỷ franc mỗi tháng. Nước Pháp đã thiết lập mức hạn ngạch đối với hàng hóa nhập khẩu và tăng thuế suất để khuyến khích người dân mua các sản phẩm thay thế trong nước, nhằm trả đũa lại việc nước Mỹ tăng thuế quan vào năm 1930.

Trên đường đến Hội nghị giải trừ quân bị Geneva, Ngoại trưởng Mỹ Henry Stimson dừng chân ở Paris để tham vấn với Thủ tướng Pháp Andre Tardieu. Nhưng không cuộc đàm phán có lợi nào có thể diễn ra cho đến khi cuộc bầu cử Quốc hội kết thúc. Được tổ chức thành hai giai đoạn - vận động bầu cử ngày 1 tháng Năm và bầu cử lại ngày 8 tháng Năm cho hai ứng viên hàng đầu của mỗi quận - các cuộc bầu cử sẽ khẳng định các chính sách hiện hành hoặc vứt bỏ chúng.

Mặc dù kết quả được cho là chắc chắn 'sẽ có ảnh hưởng trên toàn thế giới', chiến dịch này đã trở nên 'hết sức chán ngắt,' tờ New York Times đưa tin. Tờ Times mô tả các ứng cử viên Pháp như bơ phờ, 'giống diễn viên mất hết can đảm trước khán giả lạnh lùng thờ ơ với các nỗ lực của họ.'

Ở các tỉnh, nông dân lo sợ về một tương lai ảm đạm, và thái độ công chúng ở Paris cũng không tốt hơn là bao, tờ Times đưa tin. 'Ngay cả báo chí riêng từng đảng cũng không thể nhiệt tình.'

Nhà lãnh đạo trung tả Edouard Herriot đổ lỗi sự đình trệ (kinh tế) lên chính phủ trung hữu của Tardieu, mà ông cho rằng đã đánh mất niềm tin của nhân dân. Còn Tardieu lại cho rằng một chiến thắng của cánh tả sẽ dẫn đến sự đổ vỡ kinh tế khác.

Kết quả vòng đầu tiên chưa rõ ràng; 217 nghị sĩ chiếm đa số, 600 ghế còn lại cần bầu cử lại. Tuy nhiên, nhiều người đã đi bỏ phiếu nhiều hơn so với dự kiến - khoảng 82 phần trăm số cử tri đủ điều kiện, so với bình thường chỉ là 70 tới 75 phần trăm. Các kết quả cũng cho thấy một sự chuyển hướng thiên tả đang hình thành.

Nhưng trước khi vận động chính trị cho vòng hai đi vào giai đoạn quyết liệt, một tay súng đã ám sát Tổng thống Pháp Paul Doumer, người đứng đầu nhà nước 75 tuổi thờ ơ đối với các ý thức hệ cũng như đối với sự an toàn của bản thân. Tổng thống Doumer, người được rất đông quần chúng yêu mến một phần vì ông đã mất bốn người con trai trong Thế chiến I, đã bị bắn khi rời cuộc triển lãm sách của các tác giả cựu chiến binh.

Kẻ tấn công ông, Paul Gorguloff, được mô tả như là một 'gã điên nước ngoài' và đầu tiên được cho là một điệp viên của Đức, nhưng sau đó được nhận diện là người theo chủ nghĩa quân chủ của Nga, khiến một số người bảo thủ khẳng định hắn 'thuộc về lực lượng Bolshevist chuyên nghiệp', tờ New York Times đưa tin.

Tuy nhiên, cử tri đã lựa chọn hơn 340 đại biểu trung tả và xã hội chủ nghĩa. Sự 'thắng lợi ngoạn mục này của cánh tả' đã làm cộng đồng quốc tế ngạc nhiên, những người trước đây cho rằng những người theo chủ nghĩa dân tộc cứng rắn đáp lại 'Thách thức của Hitler' sẽ thành công ở Pháp.

Thay vào đó, Herriot trở thành Thủ tướng, lãnh đạo một liên minh Xã hội chủ nghĩa cấp tiến, mà tờ Times đưa tin là 'không cấp tiến, cũng chẳng xã hội chủ nghĩa mà là tự do ôn hòa.' Tờ Times khen ngợi nước Pháp vì đã không 'hoảng sợ trước sự khích động.'

Nước Pháp sẽ phải đối mặt với rất nhiều sự khích động trong những năm tháng sắp tới, tuy một phần từ Fuehrer nhưng hầu hết là từ các cuộc xung đột nội bộ sâu sắc. Cánh tả sẽ nắm quyền trở lại, tuyên bố chống lại chủ nghĩa Bolshevik trong khi ngưỡng mộ các công việc mà Adolf Hitler thực hiện ở Đức.

Sơn Phạm
Bloomberg


"Fall by the wayside" nghĩa là gì?

Tỉ lệ kỹ sư thất nghiệp rất cao. Photo courtesy Alexander Strugach.

'Fall by the wayside' có một từ mới là wayside nghĩa là bên lề đường. Thành ngữ này có nghĩa là xuống dốc, chấm dứt, không còn hoạt động được nữa.

Ví dụ
From the time I was a kid, I dreamed of becoming an architect (kiến trúc sư). But my school counselor informed me that the unemployment rate for that choice is quite high. That explains why interest in (số người muốn học) architecture has fallen by the wayside (xuống rất thấp). Maybe I should be investing in (chọn, quan tâm) a more successful career like nursing or teaching.

Her son’s girlfriend broke up with (đoạn tuyệt) him. As a result, he’s been losing interest in his friends and his schoolwork. Apparently, his grades (điểm số) are falling by the wayside (sụt hẳn), which greatly concerns his parents. They understand how difficult the end of relationship can be, but he shouldn’t give up (bỏ cuộc). How can he cope with (đối phó với) much greater challenges? Like losing his health or a loved one?

Huyền Trang
VOA


Sunday, October 27, 2013

Em làm xiếc

Tâm An_7m3w (27/10/2013)








"Squeak by" nghĩa là gì?

Cháu tôi vừa đủ điểm đỗ kỳ thi lái xe. Photo courtesy Land Rover MENA.

Người Mỹ dùng thành ngữ 'to squeak by' khi muốn nói là ai đó là gì chỉ vừa đủ để thi đậu, để thành công, hay để sống còn.

Ví dụ
“I went with my nephew to the Department of Motor Vehicles to take his road test. After he backed up on a curb, I thought the inspector was going to fail him, but he let him try the maneuver again. In the end, he passed by 2 points. Since he received his license by such a narrow margin, I can say that he squeaked by (vừa đủ điểm “lách” qua kỳ thi).”

“I admire my friend Alice. She could have easily chosen a high-paying career. Instead, she took a position with a non-profit organization dedicated to saving endangered tigers. I don’t know how she manages to pay her bills on her meager (ít ỏi) salary. But somehow she squeaks by (xoay sở đủ sống).”

Huyền Trang
VOA


Change We Can Believe In

Photo courtesy Horia Varlan.

Progress is impossible without change; and those who cannot change their minds cannot change anything.
~ George Bernard Shaw

Previous post: Know your real purpose

Transform_May 16
Khen ngợi giải phóng tiềm năng
Transform_Jan 5
Things I’ve learned on my path to No More Little Miss Perfect

Saturday, October 26, 2013

Tâm An - công chúa Ba Tư :)





Hôm qua, bố mẹ đến chơi nhà bác Thu-Mai, được ăn ốc nóng, uống bia, và xem Aladin và cây đèn thần (magic lamp), thấy công chúa Jasmine, tối về nhìn ảnh này của em thật là funny quá, hi hi :)

"Explain away" nghĩa là gì?

Bạn nên chân thật khi khai khoảng trống trong sơ yếu lí lịch. Photo courtesy Daniel Ramirez.

'Explain away' có nghĩa là thanh minh, hay lấy một cái cớ nào đó để bênh vực cho hành động của mình.

Ví dụ
Are you having trouble finding employment because of gaps (khoảng trống, chỗ thiếu sót) in your résumé? Rather than explaining away why you were laid off (sa thải) or took time off (xin nghỉ), consider being honest (chân thật). Let employers know why you lost your job or needed to stop working to raise a family (trông nom gia đình) or tend to a sick relative (săn sóc thân nhân bị bệnh). Often a good reason will help you get hired again.

The daycare worker asked the mother how her child had gotten such a terrible bruise (vết bầm tím). She answered that he’d fallen out of bed. But that didn’t explain away some of the other marks (dấu vết) found on his body. When investigators determined he’d been beaten by his mother, she stopped trying to invent reasons (bịa lí do) for her son’s injuries (thương tích).

Huyền Trang
VOA

Bài trước: Lấy thúng úp voi

Tác hại của máy giặt công cộng


Tội nghiệp ông chồng bị bà vợ "cá voi" hiểu nhầm... :D

WARNING: Divorce incoming.

Bài trước: Tại sao đàn ông ngoại tình?

Bia: lịch sử hình thành
Đời thật công bằng
Chán :)
Trăn trở comple của chồng :D

Friday, October 25, 2013

Tâm An và chong chóng





Nông dân bất mãn đòi 'kỳ nghỉ'

Nông dân đình công để phản đối giá nông sản thấp. Nguồn: Scott Molloy Labor Archives

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc mùa hè năm 1932, các địa phương vùng Trung Tây đã hứng chịu những đáp trả quân sự và đôi khi bạo lực đối với cuộc khủng hoảng nông nghiệp đang ngày càng trầm trọng.

Nông dân trồng lúa lên án các thị trường tương lai (future market) và những chính sách không hiệu quả của Tổng thống Herbert Hoover. Nông dân cung cấp sữa và chăn nuôi gia súc nổi dậy khi thị trường giao ngay (spot market) không được kiểm soát đã 'tàn phá' (savage) lợi nhuận trên vốn đầu tư của họ.

Nông dân nuôi lợn cần bán được 11 cent 1 cân (Anh) để thu hồi vốn sản xuất thịt lợn, nhưng giá thị trường trong tháng Sáu năm 1932 chỉ là 3 cent 1 cân. Các trang trại trồng ngô mất 92 cent để trồng và thu hoạch một giạ (bushel) nhưng chỉ bán được với giá 10 cent, và chủ trại sản xuất bơ sữa (dairymen) mất 62 cent cho một cân bơ nhưng chỉ bán được với giá 18 cent. Trong khi đó, các trại sản xuất bơ sữa ở Iowa cung cấp sữa cho những người đóng chai với giá 2 cent một galông (quart), mà những người tiêu thụ sữa sau đó phải mua với mức chênh lệch (markup) gấp bốn lần.

Tổ chức đóng vai trò trung tâm trong các cuộc nổi dậy của nông dân là Hiệp hội Ngày nghỉ Nông dân của Milo Reno (Farmers’ Holiday Association). Như John Shover đã viết trong 'Đình công của Hiệp hội Ngày nghỉ Nông dân', 'Nếu các ngân hàng có thể làm điều này, tại sao những người nông dân lại không kêu gọi một `kỳ nghỉ', khi ngô, thịt và sữa sẽ được cất giữ ở nhà' cho đến khi giá tăng trở lại?

Ở Iowa, Reno tuyên bố một cuộc đình công tự nguyện bắt đầu ngày 4 tháng Bảy, nhưng kế hoạch đã thất bại (fizzle) khi giá cả được cải thiện vào cuối tháng Sáu.

Một vấn đề lớn hơn đối với các nhà hoạt động là 'sự trì trệ của dân số nông nghiệp', theo tờ New York Times đưa tin. Nông dân sống rải rác, thường mang tính 'địa phương chủ nghĩa' và chỉ biết lợi ích bản thân. Tuy nhiên, khi giá giảm dần (tail off), lời kêu gọi 'giữ lại ngô, giữ lại heo, giữ lại tất cả mọi thứ' càng mãnh liệt.

Một số nông dân giữ lại sản phẩm của họ, nhưng những người khác vẫn đưa chúng ra thị trường. Ở Iowa, tình đoàn kết chỉ là những lời "đầu môi chót lưỡi". Reno kêu gọi sự kiên trì trầm tĩnh, nhưng những người đình công tức giận bắt đầu biểu tình, chặn đường giao thông, đưa ra lời đe dọa và xô đẩy (manhandle) những ai cố gắng xâm nhập 'kỳ nghỉ phong tỏa bán hàng,' tờ Times đưa tin.

Sau khi hơn 2.000 nông dân đứng chặn bảy đường cao tốc vào thị trấn, cảnh sát Sioux City cử (deputize) '100 thanh niên thất nghiệp để bảo vệ đường cao tốc khỏi bị bạo lực bùng phát,' tờ New York Times đưa tin. Trong vòng hai tuần, cuộc đình công thất bại khi giá tiếp tục giảm, nhưng thông điệp 'nông thôn kháng chiến' đã lan tới (percolate) Nebraska, Dakota, Illinois và Minnesota.

Thành công duy nhất của phong trào đến từ những trại sản xuất bơ sữa của Iowa, khi các chủ trại thà đổ hàng nghìn lít sữa vào mương chứ không chịu mức giá thấp đến mức tàn nhẫn như vậy. Họ chiếm ưu thế bởi vì, không như ngô, sữa rất dễ hỏng (perishable), và nguồn cung được bổ sung hàng ngày (chứ không phải theo mùa) và rất tốn kém để vận chuyển đường dài.

Các nhà phân phối đã không thể thay thế mạng lưới nông dân khu vực của họ, những người đã hành động cùng nhau thông qua Hiệp hội Các nhà sản xuất sữa Sioux City. Họ đã giành được mức tăng gần gấp đôi với giá giao sữa lên tới 3,6 cent một galông, lợi nhuận tăng 1 cent đối với người tiêu dùng.

Kỳ nghỉ đã dẫn đến 'một phong trào hành động trực tiếp với cường độ chưa từng có trong lịch sử các cuộc biểu tình của nông dân", nhưng những lời kêu gọi chỉ thúc đẩy được một phần nhỏ dân cư nông thôn ở Mỹ, Shover viết. Tuy nhiên, một trong những lập luận lặp đi lặp lại của Reno gây được tiếng vang (resonate) trong các năm sau đó: 'Khôi phục sức mua của nông dân và các ngài đã thiết lập lại chuỗi thịnh vượng vô tận.'

Tái cơ cấu nông nghiệp sớm trở thành một ưu tiên lớn đối với các ứng cử viên tổng thống khi chiến dịch chạy đua năm 1932 bắt đầu.

Sơn Phạm
Bloomberg


Lấy thúng úp voi

Try to put a quart into a pint pot
Elephant Rock*, Valley of Fire State Park, Nevada. Photo courtesy Ken Lund.
cố đổ một galông (1,134 lít) vào cái l một panh (0,57 lít)
= cố tình che giấu điều sai trái quá lớn và lộ liễu

Người Lào nói: 'au bay bua pịt khỉ xảng' = 'lấy lá sen che phân voi' :)

Bài trước: Mò kim đáy biển

* Elephant Rock is one of the more accessible and memorable features in Valley of Fire State Park. It is depicted in the official park literature and is often used as a symbol of the park.

Valley of Fire State Park is the oldest state park in Nevada, USA. It covers an area of 34,880 acres (14,120 ha) and was dedicated in 1935. It derives its name from red sandstone formations, formed from great shifting sand dunes during the age of dinosaurs. These features, which are the centerpiece of the park's attractions, often appear to be on fire when reflecting the sun's rays.

Valley of Fire is located 50 miles (80 km) northeast of Las Vegas, at an elevation between 2,000–2,600 feet (610–790 m). It abuts the Lake Mead National Recreation Area at the Virgin River confluence. It lies in a 4 by 6 mi (6.4 by 9.7 km) basin.

Complex uplifting and faulting of the region, followed by extensive erosion, have created the present landscape. The rough floor and jagged walls of the park contain brilliant formations of eroded sandstone and sand dunes more than 150 million years old. Other important rock formations include limestones, shales, and conglomerates.

Mò kim đáy biển

Look for a needle in a bottle (bundle) of hay (in a haystack)
Photo credit: phanthidieulinh
Đại hải lao châm (大海捞针 - Dàhǎilāozhēn)

Bài trước: "A pillar of society" nghĩa là gì?

"A pillar of society" nghĩa là gì?

The Hugeness of Ranakpur Temple*. Photo courtesy Girish Suryawanshi.

Nếu bạn là 'a pillar of society' (trụ cột của xã hội), điều đó có nghĩa bạn là thành viên rất quan trọng và giá trị của xã hội, tham gia vào nhiều hoạt động công cộng. Thuật ngữ 'a pillar of...' cũng được sử dụng với các nhóm người hay tổ chức khác.

Ví dụ
Jimmy is a pillar of society. He raised millions of dollars to build a new hospital in the city.
Martin's a great guy. He's the head teacher in our school, runs a local charity, and is known and respected by everyone in town. He's a pillar of the community.
Matilda is a pillar of the church: she's always organising events and tries hard to make people feel welcome there.

Xin lưu ý
Nếu bạn 'move from pillar to post', hay 'are sent from pillar to post' (từ cột này sang cột khác), điều đó có nghĩa là bạn bị buộc phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, nhiều lần.

My friend James grew up in a family which moved around all the time. The poor kid was sent from pillar to post and never had time to settle in one place!

Thực tế thú vị:
Pillars, posts và columns tất cả đều dùng để chống đỡ các tòa nhà hay cầu. Một pillar (cột trụ) là một cột (pole) khỏe để chống đỡ một phần của tòa nhà, và được làm bằng đá, gỗ hay bê tông. Một column cũng tương tự, nhưng thường có các họa tiết trang trí. Một post là một pillar nhỏ được làm bằng kim loại hoặc gỗ.

BBC



* Ranakpur is a village located in Desuri tehsil near Sadri town in the Pali district of Rajasthan in western India. It is located between Jodhpur and Udaipur, in a valley on the western side of the Aravalli Range.

Light colored marble has been used for the construction of this grand temple which occupies an area of approximately 60 x 62 meters. The temple, with its distinctive domes, shikhara, turrets and cupolas rises majestically from the slope of a hill. Over 1444 marble pillars, carved in exquisite detail, support the temple. The pillars are all differently carved and no two pillars are the same. It is also said that it is impossible to count the pillars. Also all the statues face one or the other statue. There is one beautiful carving made out of a single marble rock where there 108 heads of snakes and numerous tails. One cannot find the end of the tails. The image faces all four cardinal directions. In the axis of the main entrance, on the western side, is the largest image.

The temple is designed as chaumukha—with four faces. The construction of the temple and quadrupled image symbolize the Tirthankara's conquest of the four cardinal directions and hence the cosmos.