Journey in Life: 10/10/18

Wednesday, October 10, 2018

Thịt cá voi có ngon không? Ăn được không?

[ngon chứ]

từ năm 1986, có lệnh cấm trên toàn cầu (global moratorium) săn bắt cá voi vì mục đích thương mại,

nhưng trước đó, từ năm 1946, có hiệp ước quốc tế là có thể săn bắt cá voi vì mục đích khoa học, và nhật bản vẫn "lách luật" bằng cách này, kết quả là cá voi vẫn bị giết (một lượng nhỏ), và một số kết thúc ở bàn ăn trong các nhà hàng sang trọng ở tokyo,

hiện nhật bản đang đe dọa sẽ quay lại với săn bắt cá voi vì mục đích thương mại, có thể học nauy, iceland không tuân lệnh cấm; nhưng sẽ phải giải thích với người dân nộp thuế tại sao vẫn trợ cấp (400 triệu usd/năm kể từ năm 1988) cho ngành đang suy tàn này; và mượn lời báo chí lên án phương Tây cấm cá voi là "chủ nghĩa đế quốc về ẩm thực",
-----

Japan relies heavily on the sea for food and insists it has the right to sustainably hunt everything in it. Britain and the rest of the anti-whaling camp reject that on conservationist and humane grounds.

...Japan could follow Iceland and Norway, which opted out of the global moratorium and continue to hunt whales for profit. But walking away from the IWC would have consequences. It would, for one, further alienate diplomatic allies, including Australia, which took Japan to the ICJ. It would also force Japan to create new regional whaling structures. That would force it to end what at the moment is mainly harmless if noisy annual grandstanding at the IWC and explain to taxpayers why it continues to push for the revival of a dying industry. Outside of a handful of coastal towns, whale meat in Japan is not popular. Yet the whaling programme has cost at least $400m in subsidies since 1988, according to one study. Security for protecting the whaling fleet from militant conservationists has pushed up the price tag for each Antarctic expedition. Rather than debate whether this is good value for money, the Japanese media has settled into a more familiar but entertaining narrative of defending whaling against Western “culinary imperialism”. That seems unlikely to end.


"In the last resort" nghĩa là gì?

vừa gặp ở "chợ tình" cách đây hai tháng... Photo courtesy Dan Lundberg.

'In the last resort' nghĩa là 'như là phương kế sau cùng' (ultimately); 'chỉ còn cách này khả dĩ'.

Ví dụ
For refugees in Germany, religious asylum is the last resort.

Petro Crypto Could be the Last Resort for the Venezuelan Government.

For some women in China, ‘love markets’ are the last resort to find a husband.

Forced blackouts are considered to be the last resort for preventing a massive power outage.

Phạm Hạnh

Tadashi Yanai đã nói gì?

shared from fb Sơn Đức Nguyễn,
-----
Ông chủ của Uniqlo nói thế này.

Làm việc không phải vì tiền
"Chưa bao giờ trong cuộc sống này tôi làm việc vì tiền cả. Tôi không bận tâm tới việc kiếm tiền. Bạn sẽ không có hy vọng nếu tiền là điều đang thúc đẩy bạn. Quá nhiều doanh nhân như vậy, với mục tiêu là đưa công ty của họ lên sàn chứng khoán và kiếm tiền. Nhưng tiền sẽ nhanh chóng mất đi. Bạn có thể kiếm được cả trăm tỷ yen? Nhưng rồi sao?”

Nghĩ hay làm?
"Việc của lãnh đạo chỉ là suy nghĩ chứ không phải những công việc nặng nhọc. Lãnh đạo phải là người nghĩ ra cách biến công ty thành nơi mà nhân viên cảm thấy rất quan trọng, xứng đáng để cống hiến. Tôi chắc đó là cách mà ông chủ Softbank Masayoshi Son cũng đang làm. Chúng tôi nghĩ trong suốt 24 giờ làm việc mỗi ngày".
Làm việc chăm chỉ thôi chưa đủ. "Nếu nỗ lực nhưng sai hướng, bạn sẽ mãi trong một vòng luẩn quẩn".

Thời gian làm việc
Không làm quên ăn quên nghỉ
Yanai luôn thức dậy vào lúc 5 giờ sáng và tới công ty vào đúng 6h45 phút. Yanai rời văn phòng vào lúc 3 hoặc 4 giờ chiều. Thậm chí ông đang lên kế hoạch sẽ rời văn phòng sớm hơn nữa trong tương lai.
Nguồn: cafebiz

Chia sẻ trên thật là thu hút. Nhưng đừng quên mấy điều sau.

Tôi làm việc không vì tiền.
Nếu bạn đang phải lo ăn từng bữa, nói câu này đồng nghĩa cuộc sống của bạn sẽ tiếp tục lo ăn các bữa tiếp theo.

Suy nghĩ quan trọng hơn hành động.
Vâng điều này chỉ đúng với những người đã hành động 1000 lần trước đó. Việc của lãnh đạo chỉ là suy nghĩ chứ không phải những công việc nặng nhọc. Nhưng chẳng ai thành lãnh đạo mà trước đó không trải qua đủ thứ việc cu li cả.

Rời văn phòng lúc 3h chiều.
Ok chúc buổi chiều vui vẻ. Xin nhớ rằng ông chủ Uniqlo rời văn phòng 3h chiều nhưng trí óc ông ta làm việc có thể đến 12h đêm.

Kết luận
Chân lý nhiều khi không phải nói cái gì, mà là ai nói.

Mr BrandSon


Chạy để... thay đổi chính mình

[tăng giá trị bản thân,
và giá trị doanh nghiệp]

các công ty có tgđ yêu thích chạy (marathon) thì giá trị công ty cao hơn, các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường tin tưởng và thích mua công ty có tgđ chạy marathon,

các tgđ tham gia các môn giải trí không phải là trốn tránh việc quản lý (hằng ngày), và điều quan trọng ko phải là họ giải trí hay không, mà là như nào, 'serious leisure'
-----

We provide evidence that CEO leisure consumption can benefit shareholders. We measure leisure consumption primarily by CEO marathon participations, which indicate time-consuming investments in physical fitness. Panel and IV regressions as well as stock returns around marathon participations and sudden CEO deaths suggest that CEO leisure consumption has positive net benefits associated with higher firm value. Consistently, we find that professional investors more likely buy firms led by CEOs who run marathons. Our results contrast the widespread view that leisure consumption generally reflects costly managerial shirking and indicate that what matters is not whether CEOs consume leisure, but how.

Keywords: CEO leisure consumption, CEO fitness activities, firm value, mutual fund trades, shirking