Journey in Life: June 2014

Monday, June 30, 2014

Sáp nhập ngân hàng địa phương: xu thế tất yếu ở Nhật Bản

Quảng cáo của Suruga Bank ở cầu Nihonbashi. Ảnh chụp 1:44 chiều 2/9/2009.

Các ngân hàng Nhật Bản vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính lần này một cách bình yên vô sự (unscathed) phần lớn do họ đã tránh xa (steer clear of) các loại tài sản độc hại (toxic assets) đã khiến các ngân hàng Mỹ và Châu Âu gặp khó khăn. Tuy nhiên Cục Dịch vụ Tài chính (Financial Services Agency) – cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng Nhật Bản – không ‘ngủ quên trên vòng nguyệt quế’ (rest on its laurels). Khi truy tìm các nguy cơ bất ổn trong tương lai, cơ quan này đặc biệt chú ý (home in on) tới hơn 100 ngân hàng địa phương. Các ngân hàng này nắm giữ tổng cộng xấp xỉ 40% các khoản vay, tương đương với 5 tập đoàn tài chính lớn nhất Nhật Bản, bao gồm Mizuho, Mitsubishi UFJ và Sumitomo Mitsui.

Nhìn thoáng qua, sự lưu tâm của Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản dường như đặt nhầm chỗ. Các ngân hàng địa phương thường có quan hệ mật thiết với các công ty trong vùng, đồng thời cũng là ngân hàng chủ chốt tại thị trường địa phương đó. Điều này giúp cho nhiều ngân hàng địa phương có được tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (net interest margin - chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn) cao hơn đôi chút so với các ngân hàng thuộc các thành phố lớn. Một số ngân hàng, như Suruga Bank của thành phố Numazu, tỉnh Shizuoka trở thành những nhà cho vay sáng tạo. Suruga thu được tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao gần hai lần so với các ngân hàng địa phương khác bằng cách cung cấp các khoản vay tiêu dùng tới những người khó tìm được nguồn tín dụng ở nơi khác, chủ yếu là các bà nội trợ. Đa số các ngân hàng địa phương không mấy sáng tạo thế nhưng sự bảo thủ của các ngân hàng này cũng đồng nghĩa với việc họ chịu ít rủi ro hơn.

Tuy nhiên, thực tế các ngân hàng địa phương đang bị lung lay. Tỷ lệ lãi suất thấp ở Nhật Bản khiến hoạt động cho vay của các ngân hàng này không mấy sinh lời kể cả khi họ nắm thị phần khống chế. Hơn nữa, dân số già nhanh chóng cũng là vấn đề lớn. Bản báo cáo tháng Năm từ Hội đồng Chính Sách Nhật Bản (Japan Policy Council) – một tổ chức nghiên cứu – khẳng định với chiều hướng hiện nay, khoảng 900 đô thị vùng – (tương đương) một nửa số đô thị hiện nay ở Nhật Bản – sẽ biến mất hoặc không còn hoạt động vào năm 2040, do phụ nữ ở độ tuổi sinh nở di cư đến các thành phố lớn. Sự tăng trưởng không ngừng của Tokyo, Osaka và Nagoya tạo cơ hội cho 5 ngân hàng lớn mở rộng kinh doanh trong nhiều năm tới, dù đó có thể là lấy đi lượng khách hàng cần thiết từ các ngân hàng địa phương. Trong khi các ngân hàng lớn đang thu được lợi nhuận kếch sù (handsome) từ thị trường quốc tế để có thể bù đắp (offset) nhu cầu vay thấp trong nước thì các ngân hàng địa phương lại không có khả năng theo đuổi khách hàng doanh nghiệp khi họ xây dựng nhà máy ở nước ngoài. Tệ hơn nữa, các ngân hàng địa phương yếu kém nhất luôn quản lý lỏng lẻo và ít vốn (thin cushions of capital).

Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản cho rằng hợp nhất là giải pháp cần thiết. Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe cũng đồng tình với quan điểm này. Tháng Năm vừa qua, Đảng Dân chủ Tự do của ông Shinzo Abe đã đề xuất chiến lược tăng trưởng trong đó kêu gọi xem xét toàn bộ tài chính địa phương. Đảng của ông cho rằng các ngân hàng này góp phần duy trì các công ty theo kiểu ‘xác chết biết đi’ (zombie company) thay vì buộc các khách hàng doanh nghiệp của họ phải kiện toàn (shake up) công tác quản lý. Báo cáo trên cũng cho rằng khuynh hướng sợ rủi ro (risk-averse behavior) của các ngân hàng này cũng khiến cho các doanh nghiệp khởi sự (start-up) không thể vay đủ vốn. Tác giả báo cáo trên - ông Yasuhisa Shiozaki còn khẳng định sự thận trọng này khiến bản thân các ngân hàng địa phương cũng chỉ thu được lợi nhuận thấp.

Lãnh đạo cấp cao một ngân hàng địa phương thừa nhận rằng Nhật Bản thực ra có quá nhiều ngân hàng, khiến hạn chế lãi cận biên của chính họ. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng ngân hàng địa phương không phải thủ phạm (culprit) duy nhất, ngoài ra đó là hàng lớp các ngân hàng hợp tác xã nhỏ dưới các ngân hàng địa phương và các đơn vị cho vay nhà nước như Ngân hàng Phát triển Nhật Bản. Tổng cộng các đơn vị cho vay của chính phủ chiếm tới 20% số vốn vay trên toàn quốc.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản. Ảnh chụp từ vỉa hè Bảo tàng Lịch sử Tiền tệ.

Các ngân hàng địa phương thì cho rằng tương lai không như những gì mà Chính phủ và Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản dự đoán. Ông Isao Kubota, Giám đốc Nishi-Nippon City Bank, một ngân hàng địa phương nổi tiếng ở thành phố miền Nam Nhật Bản Fukuoka cho hay chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản nhằm chấm dứt tình trạng giảm phát đã tiếp tục giữ lãi suất dài hạn ở mức thấp và khiến hoạt động cho vay ít lợi nhuận. Khi mọi thứ trở lại bình thường và lạm phát tăng trở lại, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chắc chắn sẽ dồi dào hơn (fatten). Nếu kế hoạch khôi phục kinh tế của ông Abe có hiệu quả, cầu về vốn vay và chênh lệch lãi vay thậm chí còn tăng mạnh hơn nữa.

Ryoji Yoshizawa thuộc Standard & Poor’s tại Tokyo cho rằng khó có thể thực hiện sáp nhập trong vài năm tới vì Cục Dịch vụ Tài chính Nhật Bản không thể cưỡng chế thi hành và hầu hết các ngân hàng địa phương vẫn có lãi. Mỗi ngân hàng, thường là ngân hàng được ghi danh duy nhất ở địa phương của mình sẽ tự coi là trung tâm mà nền kinh tế địa phương phải xoay quanh. Một nhà phân tích tại Tokyo còn cho hay các giám đốc ngân hàng được đối xử như vị thánh (near-gods) ở địa phương. Vì vậy, khó có thể bắt họ tự nguyện chia sẻ quyền lực với đối tác sáp nhập trừ khi họ không còn lựa chọn nào khác. Trong những năm gần đây mới chỉ có duy nhất ngân hàng Bank of Fukuoka (trụ sở ở Fukuoka) đã mua hai đối thủ ở hai tỉnh lân cận và trở thành Tập đoàn Tài Chính Fukuoka vào năm 2007.

Thế nhưng các ngân hàng địa phương yếu kém cũng sẽ chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc sáp nhập một khi họ kinh doanh không có lãi. Các ngân hàng mạnh nhất, như Tập đoàn Tài chính Fukuoka, hiện đang tăm tia các mục tiêu béo bở nhất (juiciest target). Khi tiến trình sáp nhập bắt đầu, hẳn không một lãnh đạo ngân hàng nào muốn đứng ngoài cuộc chơi.

Phương Thùy
The Economist

Nhà là nơi bình yên nhất

Home*. Photo couretsy Randen Pederson.

A man travels the world over in search of what he needs and returns home to find it.
~ George Moore

"Chúng ta đi khắp thế giới để tìm những thứ chúng ta cần và chỉ lúc về nhà mới nhận ra nó…"

Home is where...
the heart is
wifi connect automatically
bra comes off ;)
you poop most comfortably :D (don't need to close the toilet door)

* But every house where Love abides,
And Friendship is a guest,
Is surely home, and home-sweet-home:
For there the heart can rest. (Van Dyke)

Previous post: Making your passion your career

Netsuke ở Bảo tàng Anh: Nét đẹp trong sự nhỏ bé

Netsuke. Photo courtesy Erich Ferdinand.

Netsuke - những chiếc móc treo (toggle) chạm khắc cầu kì (intricately carved) được dùng để treo vào đai lưng (sash) bộ kimono của đàn ông lại đang trở thành mốt nhưng không phải như một đồ vật thanh nhã để trang trí, mà như các bảo vật được yêu thích vì sự tinh xảo và những điều nó hé lộ về lịch sử Nhật Bản. Được cổ vũ từ danh tiếng của cuốn ‘The Hare with the Amber Eyes’ (Chú thỏ có đôi mắt màu hổ phách), cuốn hồi ký giành nhiều giải thưởng của Edmund de Waal về bộ sưu tập netsuke mà ông được thừa hưởng, viện Bảo tàng Anh đang tổ chức một cuộc triển lãm nhỏ nhưng ấn tượng về các tác phẩm điêu khắc nhỏ bé như một phần trong chuỗi các buổi trưng bày miễn phí nhằm giới thiệu thêm (cast a fresh light) với công chúng về bộ sưu tập này.

Bảo hàng hiện có gần 2.300 chiếc netsuke, phần lớn được các nhà sưu tập trao tặng trong hơn 150 năm qua nhưng chỉ có năm chiếc được trưng bày cùng với loại kimono và phụ kiện tương ứng giống như ở Nhật Bản trong thời kì Edo (1615-1868). Bảo tàng dự định giới thiệu chúng giống như khi được sử dụng với mục đích ban đầu trước khi trở thành các món đồ lưu niệm được giới sưu tập ưa thích khi Nhật Bản kết thúc chính sách bế quan tỏa cảng và văn hóa phương Tây xuất hiện ở đây.

Như hầu hết các món đồ thời trang có lịch sử lâu dài, netsuke được chạm khắc từ gỗ, bạc, ngà voi và đôi khi là sứ, ban đầu có công dụng nhất định. Trong khi kimono của phụ nữ có các túi nhỏ trong tay áo thì đàn ông thuộc mọi đẳng cấp buộc các đồ dùng cá nhân như túi tiền, đồ viết, tẩu và hộp thuốc lá vào một dải lụa. Dải lụa này được giữ bởi một chiếc netsuke gắn vào chiếc đai lưng dày quanh vùng eo của chiếc kimono.

Đầu thế kỉ 18, Edo (Tokyo ngày nay) là một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Giao thương phát triển giúp các thương nhân ngày càng có khả năng bắt chước và thậm chí vượt qua (emulate) lối sống và phục trang của những người thuộc tầng lớp trên họ trong trật tự xã hội khắt khe (strict social hierarchy) thời bấy giờ. Luật cấm xa hoa lãng phí (sumptuary laws) ban hành bởi chính quyền quân sự Mạc phủ (shogunate) nhằm ngăn cản sự thăng tiến giai cấp bằng cách giới hạn chi tiêu cá nhân và quy định từng đẳng cấp nào được mặc cái gì. Các tầng lớp dưới (lower echelons) bị cấm không được mặc vải thêu cầu kì và chỉ được mặc đồ bằng lụa tối màu hoặc vải bông với họa tiết đơn giản.

Phụ kiện là một cách lách luật kín đáo (discreet) trước các quy định về ăn mặc (sartorial rules) này. Netsuke đủ nhỏ để giấu trong bàn tay hoặc nhét (tuck into) vào nếp gấp của kimono và đã trở thành một cách khoe của và khoe ‘gu’ ngày một được ưa chuộng. Thiết kế tinh xảo (elaborate design) của nó thể hiện niềm vui có được từ việc phá luật (flouting the rules), sự kết hợp tinh tế giữa nhu cầu thực tế và nghệ thuật điêu khắc với các sắc thái đa dạng từ hài hước, trào phúng (grotesque) đến gợi dục (erotic) và châm biếm (kitsch). Các netsuke được chọn cho lần triển lãm này – một đôi vợ chồng hoàng gia Trung Hoa đang thổi sáo, một con rùa, một con chuột đang ngủ, một con cá vàng tròn trịa (bulbous) và một chú bé đang nhảy – là biểu hiện của sự đa dạng ấy. Tuy vậy, chúng gần như luôn có hình tròn với hai lỗ để xỏ dây và các cạnh trơn để không làm rách bộ kimono.

Trang phục thường bị coi là không quan trọng (dismissed as unimportant) và thời trang chỉ là người em phù phiếm (frivolous younger sibling) của nghệ thuật nhưng bộ kimono màu xám nhạt cùng với các phụ kiện (được trưng bày) có một sự cộng hưởng mạnh mẽ (striking resonance) với hiện tại – nơi sự khác biệt trong trang phục của giới kinh doanh thường được thể hiện qua phụ kiện như giày và đồng hồ. Mục đích sử dụng có thể được dùng làm cái cớ (ostensibly practical purpose) để che chắn người dùng khỏi các cáo buộc xa hoa, lãng phí: chúng là hiện thân của sự theo đuổi cả tính thoải mái và thể hiện cái tôi cá nhân, những điều vốn luôn có ảnh hưởng tới các ăn mặc. Tương tự như vậy, “các vụ nổ nho nhỏ về tính chính xác” (“small explosions of exactitude”) – netsuke theo miêu tả của de Waal có thể ấn tượng và quyến rũ (beguiling) trong từng chi tiết nhưng câu chuyện lớn hơn mà nó kể cũng không kém phần thú vị.

Đăng Duy
The Economist

"Cast in stone" nghĩa là gì?

Tượng ở Bảo tàng ngoài trời Hakone, Nhật Bản. nh chụp 9:31 sáng 26/8/2009.

'Cast in stone' có một từ mới là cast nghĩa là đổ một chất lỏng như kim loại hay thạch cao vào khuôn cho đông cứng lại để đúc một đồ vật. Vì thế cast in stone dùng để chỉ một kế hoạch hay một quyết định cứng nhắc, không thể thay đổi được.

Ví dụ
My boss is very rigid (cứng nhắc). Once he E-mails the agenda (nghị trình) for a meeting, he doesn’t make any changes. It’s cast in stone.

People used to order (gọi đồ ăn thức uống trong nhà hàng) white wine (rượu chát) only with fish and red wine only with meat. Today that practice (thông lệ) is no longer cast in stone. Feel free to drink whatever wine you want with your meal.


Huyền Trang
VOA

Giải cứu nợ xấu: Những bài học từ TARP của Mỹ

bài của Thân Hoàng Dung trên vietstock.

Phần 1: TARP – Quy mô, phạm vi và thực hiện
Phản ứng lại cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ đỉnh điểm vào năm 2008, Quốc hội, Cục Dự trữ Liên bang (Fed), Bộ Tài chính, Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) đã độc lập và cùng với các cơ quan khác thực hiện một loạt giải pháp để ổn định lại thị trường tài chính, và một trong những trọng tâm là Chương trình Giải cứu Tài sản xấu (TARP, Troubled Asset Relief Program) kéo dài trong hai năm đến ngày 03/10/2010.

TARP ra đời dựa trên đạo luật “Ổn định khẩn cấp nền kinh tế” (Emergency Economic Stabilization Act – EESA) vào tháng 10/2008. Đạo luật này cho phép Bộ Tài chính Mỹ sử dụng tối đa 700 tỷ USD từ ngân sách liên bang để mua hoặc bảo hiểm những tài sản tài chính có mức độ rủi ro cao của các tổ chức tài chính trong nước.

Sau đó, Đạo luật Dodd-Frank (Đạo luật cải cách Wall Street và bảo vệ người tiêu dùng) ra đời ngày 21/07/2010 đã hạn chế hoạt động của TARP và giảm số tiền tổng thể xuống còn 475 tỷ USD.

Ý tưởng và thực hiện trên thực tế
Ý tưởng chính ban đầu của chương trình TARP là mua lại các tài sản liên quan đến thế chấp bị tổn hại (mortgage-related toxic assets) để làm sạch bảng cân đối kế toán của các tổ chức tài chính, giúp giảm bớt bất ổn và quan ngại đang lan rộng trên thị trường.

Ngay khi ra đời, chương trình này đã gặp phải sự phản đối đầu tiên bởi định nghĩa tài sản xấu/tổn hại hay tổ chức tài chính là quá rộng lớn và mơ hồ.

Trên thực tế, TARP đã được triển khai dưới một loạt các chương trình khác chứ không chỉ dừng lại đơn thuần ở khái niệm mua lại những tài sản liên quan đến thế chấp bị tổn hại. Những chương trình này có thể được phân loại vào bốn chương trình lớn, bao gồm: hỗ trợ ngân hàng, thị trường tín dụng, bất động sản và các chương trình khác như trong bảng dưới đây.

Hỗ trợ ngân hàng (Bank Support Programs)
• Capital Purchase Program (CPP): Chương này không mua các chứng khoán phái sinh dựa trên khoản thế chấp (MBS, Mortgage Backed Securities) mà là mua cổ phần ưu đãi ở các ngân hàng. Mục đích là cấp vốn cho các ngân hàng để vượt qua ảnh hưởng tiêu cực từ các tài sản xấu, và các tài sản này vẫn còn nguyên trên bảng cân đối kế toán. Số dư giải ngân đến giữa tháng 5/2012 là 11.6 tỷ USD, hiện chương trình đã đóng.

• Targeted Investment Program (TIP): Mua cổ phần ưu đãi đặc biệt ở ngân hàng Citigroup và Bank of America. Chương trình này đã đóng và đã hoàn trả lại số tiền giải cứu.

• Asset Guarantee Program (AGP): Chương trình hỗ trợ đặc biệt cho Citigroup và Bank of America. Đã hủy và không giải ngân.

• Community Development Capital Initiative (CDCI): Mua cổ phiếu (ưu đãi) với cổ tức thấp ở các ngân hàng cho vay các doanh nghiệp nhỏ, nhằm tăng mức độ tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp này. Chương trình hiện đã đóng với số dư giải ngân chỉ 0.57 tỷ USD.

Thị trường tín dụng (Credit Market Programs)
• Public-Private Investment Program (PPIP): Cung cấp tín dụng và đảm bảo cho các nhà đầu tư tư nhân mua chứng khoán có liên quan đến thế chấp (mortgage-related securities) của các ngân hàng. Chương trình hiện vẫn đang thực hiện, số dư giải ngân 18 tỷ USD, trong tổng số tối đa 21.9 tỷ USD.

• Term Asset-Backed Securities Loan Facility (TALF): Chương trình do Fed điều hành để hỗ trợ thị trường chứng khoán phái sinh dựa trên tài sản đảm bảo (ABS, Asset Backed Securities). Số dư giải ngân 0.1 tỷ USD trong tổng số ngân sách 4.2 tỷ USD. Dự báo sẽ không giải ngân thêm.

• Section 7(a) Securities Purchase Program: Mua các chứng khoán do Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ bảo đảm để tăng mức độ tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ. Số dư giải ngân bằng không và chương trình hiện đã đóng.

Các chương trình khác (Other Programs)
• Trợ giúp AIG (Systemically Significant Failing Institution Program): Mua cổ phần ưu đãi tại AIG do là một định chế “quá lớn không thể sụp đổ” (too big to fail), mức tối đa có lúc nắm đến 92% cổ phần. Bộ Tài chính Mỹ đã bắt đầu bán ra số cổ phần này và hiện còn nắm giữ 61% AIG. Chưa rõ kế hoạch thoái vốn. Số dư giải ngân là 30.4 tỷ USD và khó giải ngân thêm.

• Hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô: Ban đầu là khoản tín dụng cấp cho General Motors và Chrysler, sau đó chuyển thành mua cổ phần ưu đãi dưới tên công ty chuyên cấp tài chính cho ngành công nghiệp ô tô GMAC (hiện đã đổi tên thành Ally Financial). Chính phủ Mỹ sau đó bán cổ phần ra công chúng và bán cho Fiat, giảm tỷ lệ sở hữu. Số dư giải ngân là 37.1 tỷ USD, không giải ngân thêm.

Các chương trình hỗ trợ bất động sản (Housing Programs)
Tất cả các chương trình này vẫn đang có hiệu lực và số vốn được phép giải ngân còn rất lớn.
• Home Affordable Modification Program (HAMP): Hoàn trả cho các công ty dịch vụ thế chấp nếu giảm chi phí tài chính (lãi vay) cho người mua nhà. Số dư giải ngân 2.85 tỷ USD, trong số vốn tối đa 29.9 tỷ USD.

• Hardest Hit Fund (HHF): Hỗ trợ tài chính cho các công ty tài chính bất động sản của các tiểu bang có tỷ lệ thất nghiệp cao và giá nhà đất sụt giảm mạnh. Số dư giải ngân 0.9 tỷ USD, trong số vốn tối đa 7.6 tỷ USD.

• FHA Short Refinance: Chương trình khuyến khích tái cấp vốn cho các khoản vay thế chấp mà giá trị tài sản đảm bảo thấp hơn số nợ vay, nếu chủ nợ đồng ý xóa một phần nợ thế chấp. Số dư giải ngân 0.06 tỷ USD, trong số vốn tối đa 8.1 tỷ USD.

Quy mô giải ngân: Ngân hàng, ô tô và AIG đứng đầu bảng
Bảng bên dưới cho thấy sự phân bổ kinh phí quỹ TARP tập trung nhiều nhất vào chương trình hỗ trợ ngân hàng với gần 60% ngân quỹ toàn bộ chương trình; tiếp theo là hỗ trợ tài chính cho ngành công nghiệp ô tô và AIG, rồi sau đó mới đến thị trường tín dụng, thị trường bất động sản.
Riêng kinh phí dành cho chương trình thị trường tín dụng (bao gồm cả PPIP) chỉ mới giải ngân được 18.42 tỷ USD, so với con số dự kiến là 26.52 tỷ USD.

Tính đến ngày 15/05/2012, kinh phí giải ngân thực tế cho các chương trình TARP đạt 414.88 tỷ USD, thấp hơn so với con số dự kiến là 470.12 tỷ USD.

Nhiều khả năng dòng vốn từ quỹ TARP trong thời gian tới sẽ tiếp tục chảy vào các chương trình còn nhiều dư địa như bất động sản hay thị trường tín dụng.

Bài viết có sử dụng thông tin từ báo cáo về chương trình TARP của Quốc hội Mỹ.

Phần mềm vẽ đồ thị Toán học hay


Phần mềm Geogebra 3.2 liệu có vẽ được như này không... :))

Hướng dẫn rõ ràng


ngoài tóc trên đầu và râu ở cằm, nếu muốn cạo các phần khác cơ thể, bạn nhớ kéo căng vùng da ở đó nhé... :D

Bài trước: Diaper names

Sunday, June 29, 2014

"A sob story" nghĩa là gì?

Đắng lòng trẻ đến trường trong tuyết lạnh. Photo courtesy U.S. Army.

'A sob story' có một từ mới là sob nghĩa là khóc nức nở. Vì vậy a sob story là một câu chuyện cảm động khêu gợi nỗi buồn rầu và thương cảm cho người nghe hay người đọc. Một câu chuyện như vậy có thể là thật mà cũng có thể là giả.

Ví dụ
Carol gave me a ridiculous (vô lý) sob story after she didn’t turn in her homework assignment (bài tập về nhà). With tears in her eyes (mắt em rướm lệ), she told me she had written it, but her dog ate it! For that sorry excuse (lời xin lỗi đáng buồn, không có giá trị) she got ‘0’.

When the police stopped Jay for speeding (lái xe quá tốc độ), he got very emotional (hết sức xúc động). He had to get his wife to the delivery room (phòng sinh) right away, he explained. Then he started to cry as he talked about losing their first child. The officer felt badly after hearing this sob story (câu chuyện thương cảm) and let him go. A half hour later Jay’s new baby boy was born!

Huyền Trang
VOA

Saturday, June 28, 2014

Transform_Jun 28



Think of Zen, of the Void, of Good and Evil, and you are bound hand and foot. Think only and entirely and completely of what you are doing in the moment and you are free as a bird. 

Assignment: Today, find three activities with which you will practice thinking only, entirely, and completely of what you are doing in the moment.

meditation? movies? economics for parrots?
history? english?

Transform_Jul 28

"Make a long story short" nghĩa là gì?

The mosque Hassan II at dawn, Casablanca, Morocco. Photo courtesy Milamber.

'Make a long story short' nghĩa là rút ngắn lại một câu chuyện dài, tức là tóm tắt những điểm chính cho mọi người hiểu, thay vì kể lể dài dòng văn tự.

Ví dụ
John and I thought about getting married, but to make a long story short, his parents didn’t like me. Now that you know the most important reason, you understand why we aren’t seeing each other anymore.

‘Casablanca’ is a classic (tuyệt tác) film about lost love, honor (danh dự), duty (bổn phận), self-sacrifice and romance (chuyện tình lãng mạn). Although it involves the lives of many characters, to make a long story short, it’s about two men who compete (tranh đua nhau) for the same woman during World War II.

Huyền Trang
VOA

Biến đam mê thành nghề

The sky is not the limit. Photo courtesy ufv.

Don't let life randomly kick you into the adult you don't want to become.
~ Chris Hadfield, astronaut

Đừng để cuộc sống một cách ngẫu hứng "đá" bạn thành người mà bạn không muốn trở thành.

Ngọc năng giũa năng sáng


Previous post: Danh ngôn về lời khuyên

Friday, June 27, 2014

Vì sao giá nhà ở London lại đắt như vậy?

Photo courtesy Donna Rutherford.

Không mấy ai hy vọng thị trường nhà ở tại Vương quốc Anh có thể phục hồi (quick rebound) sau đợt sụt giảm năm 2008 nhanh như vậy. Sau đợt đổ vỡ giá bất động sản gần nhất năm 1989, phải mất gần 10 năm sau giá nhà ở mới trở về mức trước đó (dù mới tính theo giá danh nghĩa, chưa điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát). Tuy nhiên, thời gian phục hồi sau đợt suy trầm 2008 lần này chỉ bằng nửa giai đoạn trước. Tại London, giá nhà ở đã cao hơn mức giá đỉnh điểm năm 2008 là 25% và đang gia tăng ở mức 18% một năm. Một ngôi nhà bình thường ở thủ đô London có giá 450.000 euro (760.000 usd); một số khu khác, giá nhà trung bình cao gấp 10 lần thu nhập bình quân. Điều gì dẫn đến sự phục hồi ngoạn mục này và vì sao giá nhà ở tại London tăng cao đến vậy?

Một trong các nguyên nhân là tài chính. Giá nhà ở rơi vào vòng xoáy giảm sút trong thời gian suy thoái, các ngân hàng không còn cung cấp những khoản vay mua nhà hào phóng như trước, mà chỉ những người có lượng lớn tiền gửi ổn định mới vay được từ ngân hàng. Tuy nhiên, kể từ khi suy thoái xảy ra, một phần nhờ các khoản trợ cấp từ Chính phủ, các khoản vay thế chấp mua nhà với số tiền vay tới 95% giá trị tài sản (95% loan-to-value mortgage, người mua chỉ cần đặt cọc 5%) đã xuất hiện trở lại. Số lượng các khoản vay mới đã tăng 1,5 lần trong năm ngoái. Trong khi đó, nhờ vào chính sách của Ngân hàng Trung ương Anh, lãi suất thấp tạo điều kiện cho người dân vay được những khoản vay giá trị lớn. Tuy nhiên, vấn đề là, các khoản vay lãi suất thấp (cheap money) có ở khắp nước Anh còn giá nhà thì không phải ở đâu cũng tăng. Giá nhà tại London và các khu vực giàu có phía Đông Nam đang tăng rất cao, còn khu vực miền Bắc nước Anh vẫn thấp hơn nhiều so với mức năm 2008.

Hiện tượng giá nhà tăng cao ở London là do cung hạn chế trong khi cầu tăng mạnh. Ở miền Bắc nước Anh, kinh tế tăng trưởng chậm, tỷ lệ gia tăng dân số thấp cùng với việc các nhà mới liên tục được xây dựng khiến nhà ở dư thừa trong khi cầu về nhà ở không cao. Trái lại, ở London và miền Đông Nam với quy định chặt chẽ về quy hoạch đô thị và diện tích đất eo hẹp, số lượng nhà được xây mới không nhiều dù kinh tế phát triển nhanh và gia tăng dân số cao khiến cho nhu cầu về nhà ở tăng. ‘Các vành đai xanh’ – các khu vực cấm xây dựng – quanh London và các thành phố nhỏ như Oxford và Cambridge khiến việc xây dựng các khu ngoại ô mới trở nên khó khăn. Các tòa chung cư cao tầng bị hạn chế (constrict) bởi luật nhằm duy trì cảnh quan đường chân trời, cũng như khó khăn và chi phí tốn kém trong việc thu hồi đất (acquiring land) và giải phóng mặt bằng (demolishing existing homes). Luật cho phép xây dựng trên các khu đất bỏ hoang hay khu công nghiệp, thương mại không được sử dụng (brownfield land) song chi phí xây dựng đắt đỏ và người mua cũng không mấy mặn mà với nhà ở tại những khu đất này. Do vậy, dù giá nhà ở tại London đã cao hơn mức đỉnh điểm năm 2008 là 25%, số lượng nhà mới được xây vẫn ở mức dưới 20% so với năm 2008. Giáo sư Paul Cheshire thuộc Đại học Kinh Tế London cho hay trong 5 năm 2008-2013, số lượng nhà mới được xây ở Doncaster và Barnsley – hai khu đô thị ảm đạm (struggling) ở miền Bắc - cao gấp hai lần so với hai thành phố thịnh vượng (thriving) là Oxford và Cambridge.

Điều này cho thấy nếu không được xây thêm thì giá nhà tại London và khu vực Đông Nam sẽ tiếp tục tăng, nhất là khi lãi suất còn ở mức thấp, dân số tiếp tục tăng nhanh và không có khủng hoảng tài chính nào khác. Điều đó cũng có nghĩa là giá nhà sẽ tăng dẫn đến nguy cơ bong bóng khi mọi người cùng cố đoán mức tăng “hợp lý”, và suy tính nên mua nhà sớm hay muộn. Trước đây, chính phủ nỗ lực đảm bảo giá nhà tiếp tục tăng nhằm làm hài lòng các cử tri là chủ sở hữu bất động sản. Nhưng khi giá nhà tại miền Đông Nam nước Anh ngày càng tăng tới mức không hiểu nổi (sillier) và số người sở hữu bất động sản giảm, quan điểm chính trị về nhà ở đang thay đổi. Nhiều nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu thảo luận biện pháp để chấm dứt tình trạng bong bóng này.

Phương Thùy
The Economist


"Keep a straight face" nghĩa là gì?

Photo courtesy Pedro Diniz.

"Keep a straight face" (shared via VOA) có một từ mới là face nghĩa là gương mặt, bộ mặt. Vì thế keep a straight face có nghĩa là tự kiềm chế để giữ một bộ mặt bình thản, không cười.

Ví dụ
Linda has such a strange (kì lạ) voice but loves to sing. Everytime she sings at office Christmas parties, it’s difficult for her colleagues to keep a straight face (khó nín cười).

Just as my grandfather was saying grace (cầu nguyện tạ ơn trước bữa ăn) at the dinner table, our dog ran into the room. Somehow she had found his false teeth (hàm răng giả) and had them in her mouth. It was so funny (buồn cười) we started to laugh. We could no longer keep a straight face.

Straphangers (hành khách đứng trên xe buýt/tàu hỏa tay bám vào cái quai treo ở trần) are picking out their best pair of underwear for Sunday’s annual No Pants Subway Ride. The event started in 2002 by Improv Everywhere as a prank (trò tinh quái) by seven guys. No Pants Subway Ride has grown in popularity and takes place around the world every January. There’s only two rules — you must be “willing to take pants off on subway” and “able to keep a straight face about it.”

"In college, I was one of the few engineering students to still use the slide rule; a lot were using calculators at that point," he said. Then his hand goes to his shirt pocket, which is empty. "I was the last pocket protector engineer," he said. When he started his job, he ruined two shirts because of mechanical pencils. "I'm more scared of my wife than fashion," he said, not able to keep a straight face.

Danh ngôn về lời khuyên

Never trust the advice of a man in difficulties.
~ Aesop



Previous post: Tiếng hát con tàu

Tiếng hát con tàu


Previous post: Do not judge by appearances

Thursday, June 26, 2014

Nhật Bản và nô lệ tình dục thời chiến

Nhìn lại trong phẫn nộ
Photo: japantrends.

Khi còn là một anh lính quân y trẻ tuổi phục vụ trong thời kì quân đội hoàng gia Nhật Bản chiếm đóng Trung Hoa từ năm 1943 đến năm 1945, ông Masayoshi Matsumoto được lệnh tham gia kiểm tra những phụ nữ Triều Tiên xem có mắc các bệnh hoa liễu (venereal disease) hay không. Ông nói những người phụ nữ này được chuyển tới tiền tuyến để phục vụ lính Nhật. Trong khi đó, ở những vùng nông thôn xa xôi không có nhà thổ quân sự, phụ nữ địa phương bị dồn bắt (round up) và đưa vào các nhà thổ tạm bợ (makeshift brothel). Ông Matsumoto kể họ bị đối xử như nhà vệ sinh công cộng – binh lính xếp hàng chờ đến lượt cưỡng bức họ. ‘Họ không dám kháng cự vì biết điều gì sẽ xảy ra nếu chống lại,’ ông tiếp lời.

Những gì ông Matsumoto mắt thấy tai nghe xảy ra cách đây đã bảy thập kỷ, thế nhưng tranh cãi xoay quanh những người mà phía Nhật gọi là ‘phụ nữ giải khuây’ (comfort women) – hàng nghìn phụ nữ châu Á (phần đông đến từ Triều Tiên, ngoài ra còn có Miến Điện, Trung Hoa, Indonesia, Philippines, Đài Loan và các nơi khác) bị lùa tới những nhà thổ quân sự thời chiến của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai vẫn còn nhức nhối (fester). Hàn Quốc và Nhật Bản – những đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở châu Á – đến nay vẫn gần như không thể đối thoại, điều khiến Tổng thống Mỹ Barack Obama phiền lòng, bởi bất đồng về vấn đề lịch sử này.

Các chính trị gia bảo thủ ở Nhật đã nhiều lần gây phẫn nộ (inflame) dư luận Hàn Quốc khi tuyên bố những người phụ nữ đó là gái mại dâm tự nguyện “giải khuây” cho binh lính ở mặt trận. Tuy nhiên, Tổng thống Obama tuyên bố rõ ràng (made it crystal clear) rằng ông không nghĩ như vậy. Trong khi né tránh (steer clear) chủ đề này khi đến Tokyo trong chuyến công du châu Á vào tháng trước, Tổng thống Obama lại gần như ngay lập tức lên án chế độ nô lệ tình dục (sexual enslavement) trong chuyến thăm hai ngày ở Seoul, coi đây là điều ‘khủng khiếp, vi phạm nghiêm trọng (egregious) nhân quyền, đáng căm phẫn’ ngay cả trong thời chiến.

Tổng thống Obama cũng kêu gọi 'một sự đánh giá chính xác và rõ ràng về những gì đã xảy ra'. Tuyên bố của ông khiến chính phủ Nhật Bản ngạc nhiên. Phó Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản - ông Katsunobu Kato thừa nhận ‘những nỗi khổ đau không đo đếm được’ của các nạn nhân nhưng cho rằng vấn đề ‘không nên bị biến thành một chủ đề chính trị hay ngoại giao’.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đương nhiên biết rõ rằng đây là điều không thể. Hồi tháng Ba, ông đã có những động thái hạ nhiệt các tranh cãi (take some of the sting out) khi tuyên bố chính phủ của ông sẽ không xét lại lời xin lỗi từng được một quan chức nội các đưa ra vào năm 1993 – lần đầu tiên thừa nhận vai trò của quân đội Nhật Bản trong việc thiết lập các nhà thổ thời chiến. (Chính phủ trước đó đã phủ nhận sự tồn tại các nhà thổ này). Vào ngày 16 tháng Tư, và thêm một lần nữa vào tuần này, các quan chức ngoại giao cao cấp Nhật Bản và Hàn Quốc đã gặp gỡ để bàn về cách thức Nhật Bản có thể đền bù thỏa đáng hơn (more fully make amends). Hàn Quốc yêu cầu một lời xin lỗi chính thức và các khoản bồi thường xứng đáng. Nhưng họ cũng tỏ ra cảnh giác về mức độ chân thành của Nhật Bản. Như lời một quan chức cao cấp trong chính phủ Hàn Quốc: Chính phủ của ông Abe đã cam kết sẽ ‘xem xét’ cuộc điều tra dẫn đến lời xin lỗi năm 1993, một động thái rõ ràng không mang nhiều ý nghĩa, chủ yếu nhằm xoa dịu (sop) phe bảo thủ vốn từ lâu đã chỉ ra các mâu thuẫn trong lời khai (testimony) của các nạn nhân Hàn Quốc.

Các bằng chứng đầu tiên xuất hiện khi một số phụ nữ, sau nhiều thập niên ô nhục, đã phá vỡ sự im lặng vào đầu thập niên 1990. Giờ đây chỉ còn 55 người phụ nữ giải khuây Hàn Quốc còn sống. Cách để thoát khỏi bế tắc (impasse) lịch sử này có lẽ là chuyển trách nhiệm chứng minh (shift the probe) sang thủ phạm (perpetrator). Nhiều năm qua, các cựu binh Nhật từng tham gia Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề nô lệ tình dục. Ông Matsumoto, từng đóng quân ở tỉnh Shanxi (Sơn Tây), Trung Hoa là người gần đây nhất và có lẽ cũng là người cuối cùng bước ra ánh sáng. Ông gọi những nỗ lực phủ nhận thời kì phụ nữ giải khuây là ‘nhục nhã’: ‘Tôi đã chứng kiến tận mắt (with my own eyes) những điều này. Những ai không nghiêm túc nhìn lại những gì đã xảy ra trong quá khứ sẽ lặp lại lịch sử.’ Ở tuổi 92, ông nói sức khỏe đang sa sút và thời gian cũng cạn dần. Rất nhiều nhà báo từ Hàn Quốc, Trung Hoa và Nhật Bản đã ‘hành hương’ tới nhà ông ở phía tây Tokyo để nghe chuyện. Tuy nhiên, chính phủ của ông thì vẫn chưa đoái hoài gì.

Đăng Duy
The Economist

Khía cạnh kinh tế của lễ hội âm nhạc Glastonbury

Glastonbury 2013. Photo courtesy Ben K Adams.

Vào ngày 25 tháng Sáu, khoảng 120.000 người sẽ tập trung ở Worthy Farm, Somerset để tham gia lễ hội âm nhạc Glastonbury. Được tổ chức lần đầu năm 1970, lễ hội này chỉ có chưa tới 1.500 người tham dự. Giá vé thời đó là 1 bảng (tương đương 2.40 đôla ngày nay) và nhóm nhạc diễn chính The Kinks thậm chí còn không xuất hiện. Kể từ ngày đó, Glastonbury đã trở nên ngày một chuyên nghiệp và nổi tiếng: dù chưa tiết mục nào được chốt vào thời điểm này nhưng tất cả vé của lễ hội năm nay với giá 210 bảng (355 đôla) một chiếc đã được bán hết sạch trong chưa đầy một tiếng rưỡi. Thành công của lễ hội này là biểu hiện của một xu hướng lớn hơn trong ngành công nghiệp âm nhạc. Đó là các buổi diễn trực tiếp ngày càng trở nên quan trọng hơn. Vì sao vậy?

Vào đầu thiên niên kỉ mới, khoảng 2/3 thu nhập của giới nghệ sỹ đến từ các bản thu âm trong khi 1/3 còn lại bao gồm nguồn thu từ biểu diễn trực tiếp, sản phẩm ăn theo và hợp đồng quảng cáo. Ngày nay, tình thế đã đảo ngược. Nhạc số - cả hợp pháp lẫn bất hợp phát – đã làm giảm lượng đĩa bán ra. Biểu diễn trực tiếp và sản phẩm ăn theo đã thay thế đĩa hát để trở thành nguồn thu nhập chính của các nghệ sỹ ở Anh. Vé xem biểu diễn mang lại lãi cao (juicy markup) trong khi áo thun, poster và những sản phẩm tương tự giúp làm đầy thêm túi tiền của các ban nhạc (boost bands’ coffers). Những tên tuổi như Rolling Stones, nhóm nhạc có tour diễn đầu tiên hơn 50 năm trước, hiện bán vé VIP với giá hơn 1.000 đôla.

Các địa điểm tổ chức hòa nhạc đều được lợi từ sự thay đổi thị trường này nhưng rõ ràng là các lễ hội đặc biệt thành công. Theo Cơ quan quản lý về biểu diễn và phổ biến tác phẩm âm nhạc (Performing Rights Society), năm 2011, các sân khấu lớn (arena) thu về 396 triệu trong thị trường nhạc sống trị giá 1.6 tỉ bảng của Anh. Các lễ hội cũng đạt được con số tương tự. Tuy nhiên, do vé của lễ hội đắt hơn nên chỉ cần 272 sự kiện là có được doanh thu trên so với 1.000 buổi biểu diễn ở các sân khấu lớn. Lễ hội cũng đem lại lợi ích cho các nghệ sỹ: khán giả đông hơn trong khi họ chỉ phải diễn ít hơn so với những lịch đi tour mệt mỏi và tốn kém. Khán giả cũng được lợi, được xem thỏa thích các ban nhạc trong không khí thoải mái hơn hẳn so với ở các sân khấu chật chội (cramped gig venue). (Cũng phải nói đây có thể là một trải nghiệm tốn kém vì không có nhiều lựa chọn để mua đồ ăn, nước uống). Mùa lễ hội ở Anh vì thế đã kéo dài hơn, hiện nay là từ tháng Năm cho tới suốt tháng Chín. Việc chính phủ loại bỏ các quy định về biểu diễn trực tiếp năm 2012 đã thúc đẩy các lễ hội nhỏ do người tổ chức không còn phải hoàn thành hàng đống giấy tờ thủ tục nữa.

Tuy nhiên thành công của các lễ hội cũng tạo ra vấn đề cung cầu của riêng nó. Chris Carey, giám đốc Media Insight Consulting, cơ quan luôn theo sát ngành công nghiệp âm nhạc, nhận xét các lễ hội đều đang phải tranh giành những tên tuổi hàng đầu, mà số lượng những nhóm này thì có hạn. Kết quả là những ‘ban nhạc lão thành’ (doddery “heritage bands”) được đưa trở lại sân khấu. Chi phí cao vút cho sự xuất hiện của các siêu sao khiến cho chẳng còn bao nhiêu tiền để trả cho những nhóm ít tên tuổi hơn. Rất nhiều lễ hội nhỏ đã phải hủy bỏ vào giờ chót vì không bán được vé. Thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày một quyết liệt từ châu Âu: rất dễ bắt máy bay giá rẻ để tham gia các lễ hội ở Croatia và Latvia, nơi bia ngập tràn, các ban nhạc chất lượng và thời tiết tốt. Những người tham gia Glastonbury cũng sẽ được đảm bảo ít nhất 2 điều đầu tiên còn về điều thứ ba, có lẽ họ nên mang theo ủng đi mưa (welly, wellington): đúng như truyền thống, giai đoạn thời tiết tốt ở phía nam nước Anh được dự báo sẽ chuyển mưa vào đúng dịp cuối tuần này.

Đăng Duy
The Economist

Hội chợ Thế giới ở Chicago chào mừng ‘Một thế kỷ phát triển’

"Give it to someone straight" nghĩa là gì?

"The game of life is a lot like football. You have to tackle your problems, block your fears, and score your points when you get the opportunity."--Lewis Grizzard. Photo courtesy Rakib Hasan Sumon.

'Give it to someone straight' có nghĩa là nói thẳng thắn và chân thật với một người nào đó, về một vấn đề gì, nhất là khi vấn đề đó không tốt đẹp.

Ví dụ
Everyone in our company waited to hear about possible layoffs (sa thải, mất việc). The manager decided to give it to us straight. She told us directly that the plant (nhà máy) was going to close because labor was cheaper overseas (hải ngoại).

The doctor looked at my knee injury (chấn thương đầu gối). It was really bad, so I wanted to know if I’d be able to play football again. He gave it to me straight: I would have to miss half of the season, but that’s all!

Huyền Trang
VOA

Formosa Hà Tĩnh đòi lập đặc khu Vũng Áng

by Nguyễn Vũ via thesaigontimes.

Formosa đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng (Ban quản lý trực thuộc Văn phòng Chính phủ) nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện....

Với đặc khu này, Formosa đề xuất một loạt biện pháp ưu đãi như được Chính phủ thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép, được Chính phủ ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh, được vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài, được miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn..., miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu...

“đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt 15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần đặc khu.

Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa đang được triển khai xây dựng và dự kiến bắt đầu vận hành giai đoạn 1 vào năm 2015 với tổng công suất khoảng 22,5 triệu tấn thép/năm.

Rắc rối mới trong quan hệ Mỹ - Trung

shared from fb Xê Nho Nvp.

Phải công nhận mấy ông nghị ở Mỹ chơi trò tiểu xảo mang tính biểu diễn cho dân chúng khoái chí là chính nhưng dĩ nhiên nghe rất đã. Ví dụ Ủy ban Phân bổ Ngân sách Hạ viện Mỹ khi thông qua dự luật ngân sách dành cho Bộ Ngoại giao Mỹ đòi kèm theo một điều khoản: Đổi tên đường trước mặt Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington DC thành “Quảng trường Lưu Hiểu Ba”.

Cái này còn phải chờ toàn thể Hạ viện thông qua, rồi đưa lên Thượng viện và Tổng thống Obama phê chuẩn.

Nhưng trước mắt mấy ông nghị đã đạt được mục đích: cho Trung Quốc xấu mặt chơi. Lưu Hiểu Ba như cái gai trong mắt nhà cầm quyền Trung Quốc, nhất là sau khi ông này được giải Nobel Hòa bình năm 2010, nay Trung Quốc bắt buộc phải ghi trên thư từ địa chỉ Đại sứ quán của họ nằm ở số 1 Quảng trường Lưu Hiểu Ba – cha ai không tức. Haha.

fb Giang Le: Thực ra việc đổi tên đường trước đại sứ quán Trung Quốc ở Washington DC mới chỉ được House Appropriations Committee (một ủy ban trong hạ viện) bỏ phiếu thuận thôi, còn phải qua full House, Senate, và Obama ký nữa.

Người đưa ra đề nghị này là nghị sĩ Frank Wolf thuộc đảng Cộng hòa, nên chưa rõ Senate do đảng Dân chủ nắm đa số và Tổng thống Obama sẽ phản ứng thế nào. Ông nghị sĩ này "đính kèm" yêu cầu đổi tên vào một dự luật quan trọng hơn phê chuẩn ngân sách cho bộ Ngoại giao Mỹ. Vì đảng Dân chủ cần thông qua ngân sách nên họ buộc phải chấp nhận yêu cầu của Frank Wolf. Politics ở Mỹ là vậy.

Một điều thú vị là năm 1984 Quốc hội Mỹ đã từng đổi tên một đoạn phố trước cổng đại sứ quán Liên Xô thành Andrei Sakharov.

Do not judge by appearances


Previous post: Everything on the Earth has a purpose

Wednesday, June 25, 2014

Các quỹ hưu trí tư nhân đang biến mất?

Nest Egg of Cash. Photo courtesy American Advisors Group.

Lương hưu – tiền trả cho người già không còn làm việc nữa – xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ 17. Lương hưu do nhà nước chi trả xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 khi Bá tước Otto von Bismarck - Thủ tướng Đế chế Đức tìm cách duy trì lòng trung thành của tầng lớp lao động với Đức hoàng (the German Kaiser). Các quỹ hưu trí doanh nghiệp chỉ mới phát triển hàng loạt sau Thế chiến II dưới hình thức các chương trình hưu trí quyền lợi xác định trước (defined-benefit plan), trong đó thu nhập khi nghỉ hưu tỷ lệ với mức lương cuối cùng người lao động nhận được, tùy thuộc vào số năm làm việc.

Tuy nhiên chi phí cao khiến các công ty đang dần rút khỏi các chương trình hưu trí quyền lợi xác định trước này. Người lao động ngày nay có tuổi thọ cao hơn: trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nam giới ở độ tuổi 65 có khả năng sẽ sống thêm khoảng 17,6 năm nữa so với 12,7 năm vào năm 1960. Trước đây, chi phí này được bù đắp bởi hoạt động thị trường chứng khoán sôi nổi (buoyant), thúc đẩy các công ty cam kết chi những khoản lớn hơn cho hưu trí. Tuy nhiên, kể từ năm 2000, thu nhập từ thị trường chứng khoán giảm sút khiến lợi tức trên trái phiếu cũng giảm theo. Các tranh cãi gần đây về cải cách tiền lương tại Chicago cho thấy nhân viên nhà nước cũng đang phải vật lộn với những vấn đề tương tự.

Khi các chương trình hưu trí quyền lợi xác định trước trở nên quá đắt đỏ, các chủ doanh nghiệp chuyển sang hình thức chương trình hưu trí tiền đóng góp xác định trước (defined-contribution plan), khi quỹ lương do cả chủ doanh nghiệp và người lao động cùng đóng góp. Ở Vương quốc Anh, từ lâu người lao động đã buộc phải mua annuity (tiền trợ cấp hàng năm), thu nhập cho phần đời còn lại của mình. Tuy nhiên, cũng giống các nguyên nhân mà chương trình hưu trí quyền lợi xác định trước trở nên tốn kém (tuổi thọ cao, lợi tức trái phiếu thấp), khoản lương hưu thu được từ mua tiền trợ cấp hàng năm cũng giảm. Nhiều người lao động cũng không hài lòng với hình thức này.

Chính phủ Vương quốc Anh đang bãi bỏ yêu cầu mua trợ cấp hàng năm; còn ở Mỹ, người lao động có quyền tự quyết đối với quỹ lương hưu của mình, kể cả việc mua xe thể thao. Tuy nhiên, vấn đề là chương trình hưu trí tiền đóng góp xác định trước mới này không hẳn là ‘lương hưu’ mà chỉ là những khoản tiền dự phòng (nest egg) na ná tài khoản tiết kiệm hay cổ phần từ việc sở hữu một căn nhà mà thôi. Và, thường thì họ không ngờ mình lại sống thọ hơn 5 năm hay lâu hơn thế so với dự tính.

Phương Thùy
The Economist