Journey in Life: 2015

Thursday, December 31, 2015

Các hãng hàng không cắt giảm chi phí như thế nào?

Photo courtesy Marcel Oosterwijk.

Trong những năm 1980, phi hành đoàn của hãng American Airlines nhận thấy hầu hết hành khách của họ đều thích thú ngấu nghiến món salad được phục vụ trong bữa tối trên chuyến bay nhưng có tới ba phần tư trong số này bỏ lại quả olive thường có trong salad. Robert Crandall, giám đốc của hãng khi đó đã nhanh chóng quyết định rằng món salad sẽ không cần đến olive nữa. Lý do chính là hãng hàng không này trả tiền cho nhà cung cấp thực phẩm dựa trên thành phần của món salad. 60 xu cho món có bốn thành phần và 80 xu cho món có năm thành phần. Thành phần thứ năm chính là olive. Việc này đã giúp hãng tiết kiệm tới 40.000 USD một năm. Năm 1994, theo đề nghị của một tiếp viên, hãng Southwest Airlines quyết định không in logo của công ty lên túi rác và tiết kiệm được 300.000 USD một năm. Trong một ngành kinh doanh mà các khách hàng khó tính và biên độ lợi nhuận thấp, làm thế nào để các hãng hàng không hiện đại cắt giảm chi phí mà không giản tiện quá mức hay vi phạm các luật lệ?

Ban đầu, họ bắt chước các siêu mẫu ăn uống kiêng khem, những người để ý cân nặng của mình tới tận từng gram. Họ vứt bỏ các cuốn tạp chí dày cộp, đặt thảm mỏng hơn và phục vụ thức ăn trong hộp giấy nhẹ. Một số hãng bỏ lại các thiết bị an toàn khi hạ cánh khẩn cấp trên mặt nước khi họ không phải bay qua vùng biển. Ghế ngồi đã trở nên nhẹ hơn. Bên trong chiếc Airbus A321của mình, hãng hàng không Air Mediterranée của Pháp gần đây đã thay 220 ghế hạng phổ thông, mỗi chiếc nặng tới 12kg, bằng những chiếc ghế mỏng hơn chỉ nặng khoảng 4kg nhờ làm từ vật liệu nhẹ như titan. Hãng hàng không giá rẻ GoAir của Ấn Độ lại chỉ thuê tiếp viên nữ vì họ nhẹ hơn nam giới trung bình từ 10-15 kg. Những tính toán chi li này đã mang lại hiệu quả. Nhiên liệu chiếm tới một phần ba chi phí của các hãng hàng không và mỗi kilogam trọng lượng giảm được sẽ tiết kiệm 100 USD chi phí nhiên liệu hằng năm của một chiếc máy bay.

Các điều chỉnh nhỏ trong thiết kế của các máy bay hiện đại không ngốn nhiều nhiên liệu như trước cũng tỏ ra hiệu quả. Hãng Southwest Airlines ước tính đã tiết kiệm được gần 205 triệu lít nhiên liệu mỗi năm sau khi các máy bay của hãng được lắp đặt cánh nhỏ hoặc đầu cánh được điều chỉnh chếch lên để giảm lực cản. EasyJet, một hãng hàng không giá rẻ khác, sử dụng sơn siêu mỏng giúp loại bỏ các lỗ khí siêu nhỏ trên thân máy bay để giảm ma sát với không khí và vì thế đốt ít nhiên liệu hơn. Trên toàn thế giới, các phi công đều được chỉ dẫn không cất cánh ở hết tốc lực và đạt đến độ cao hành trình ngay lập tức. Khi hạ cánh trên đường băng dài, phi công nên cho máy bay chậm lại theo quán tính thay vì hướng luồng khí ra phía trước (reverse thrust). Một số hãng hàng không giá rẻ như SpiceJet của Ấn Độ lại có cách làm khá quyết liệt. Với những chiếc phản lực chong chóng Q400 Bombardier phục vụ các thành phố loại 2, phi công thường bay nhanh hơn để tiết kiệm thêm vài phút ở mỗi chuyến bay và do đó cho phép họ có thể xoay xở thêm một chuyến bay bổ sung mỗi ngày. Doanh thu từ chuyến bay thêm đó bù đắp được lượng nhiên liệu mà nó tiêu tốn. Ít ghế ngồi hơn giúp giảm chi phí vận hành và cho phép thời gian quay vòng chuyến nhanh hơn.

Tuy nhiên, dù các hãng hàng không sẵn sàng chấp nhận tất cả những áp lực đó, chỉ tính riêng ở châu Âu việc trì hoãn bay cũng khiến họ mất tới 1 tỉ USD mỗi năm. Hãng Airbus cho rằng họ đã tìm ra giải pháp. Tháng trước hãng này đã giành được bằng sáng chế cho việc thiết kế một cabin di động có cách sắp xếp chỗ ngồi giống như trong một chiếc máy bay. Hệ thống này, chờ sẵn ở các cửa ra, chở hành khách cùng với hành lý của họ, sau đó được hạ thẳng xuống một chiếc máy bay trống giống như cách khay đựng diêm trượt khít vào vỏ hộp. Sau khi hạ cánh, cabin có thể tháo rời này sẽ được thay thế bởi một cabin mới, chở đầy các hành khách đã sẵn sàng để cất cánh. Thiết kế của tương lai này có thể tốn tiêu tới vài tỉ đô la và sẽ mất nhiều năm để phát triển. Trong khi chờ đợi, các hãng hàng không và các nhà sản xuất máy bay sẽ vẫn cần mẫn bỏ đi những quả olive thừa thãi.

Minh Thu
The Economist

Món quà dành tặng mẹ

by Mít ướt, shared via Truyện cười Việt Nam.
-----
Ba người con trai đi xa nhà lập nghiệp và tất cả 3 anh em đều thành đạt. Một hôm họ bàn với nhau về những món quà mà họ có thể dành tặng cho người mẹ già của mình.
– Anh sẽ xây cho mẹ một tòa nhà biệt thự lớn – Người con trưởng nói.
– Còn em sẽ gửi cho mẹ một chiếc Mercedes và một tài xế để mẹ có thể đi du lịch – Người con thứ hai nói.
– Các anh có còn nhớ là mẹ chúng ta thích đọc Kinh thánh như thế nào không. Mà bây giờ mắt mẹ không được tốt lắm. Bởi vậy em sẽ gửi cho mẹ một con vẹt đặc biệt, nó có thể đọc thuộc lòng toàn bộ Thánh kinh. Những người cao tuổi ở nhà thờ đó đã mất mười hai năm để dạy nó. Mẹ chỉ cần nêu tên chương mục là con vẹt sẽ đọc cho mẹ nghe – Người con thứ ba nói.
Sau đó không lâu, người mẹ gửi cho họ những bức thư cảm ơn như sau:
"William, tòa biệt thự của con xây quá rộng. Mẹ chỉ ở mỗi một phòng, nhưng lại phải lau dọn cả ngôi nhà".
"Arnold, mẹ quá già để đi du lịch. Mẹ gần như ở nhà suốt ngày nên rất hiếm khi mẹ dùng chiếc Mercedes. Còn gã tài xế đó rất thô lỗ, hắn là một nỗi khổ tâm của mẹ!"
"Nhưng David, con gà đó thì rất ngon".

"Get your hands on sth" nghĩa là gì?

'Get/lay your hands on something' nghĩa là thu hồi được, giành được, động đến (to succeed in obtaining something).

Ví dụ
How to get your hands on Adele tickets?

As a kid I read anything I could lay my hands on.

Kingfisher, once India's second-biggest airline, provides an illuminating example. The company was grounded in 2012 with debts of over $1.5 billion. But it was not until February of this year that its long-suffering creditor banks got their hands on its former headquarters in Mumbai.

If you're a fan of her look then Christmas has come early this year because Kate is donating pieces from her wardrobe to raise money for charity. And that means, if you're feeling generous, you could get your hands on a pair of her Stella McCartney sunglasses, or one of her many cool scarves. Kate has even donated some make-up so you can recreate her smoky rock chic look.

Phạm Hạnh

Wednesday, December 30, 2015

Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn


đẩy mạnh, đẩy mạnh, đẩy mạnh... :D, 
shared from Brandon Weber.

Bài trước: Đánh giá một bản sơ yếu lí lịch

"Clarified butter" nghĩa là gì?

Ghee Masala. Photo courtesy Chun Yip So.

'Clarified butter' nghĩa là bơ đã được đun chảy và loại bớt cấn sữa (butter made clear by heating and removing the sediment of milk solids); bơ loãng (ghee), bơ gạn.

Ví dụ
Zarda is made of rice cooked in pure desi ghee (clarified butter) and sugar.

Food safety officials on Monday collected samples of cow milk's 'desi ghee' manufactured by Patanjali after allegations (luận điệu, lời cáo buộc) were levelled by locals in Haridwar about the presence of fungus (nấm) in a bottle of ghee (clarified butter).

Tuesday afternoon, Chef Michael Ludwig was busy prepping Thursday evening's Fox and Sac dinner. While the Ghee (also known as clarified butter) and raspberry (quả mâm xôi) port wine reduction simmered (sôi, sủi, ninh nhỏ lửa), Ludwig continued peeling (gọt vỏ) sweet potatoes (khoai lang) that just arrived in time for Thursday's event.

Phạm Hạnh

"Loan stock" nghĩa là gì?

Photo courtesy GotCredit.

'Loan stock' nghĩa là cổ phiếu vay nợ (loan stock is shares in a business that have been pledged as collateral for a loan. This type of collateral is most valuable for a lender when the shares are publicly traded on a stock exchange and are unrestricted, so that the shares can be easily sold for cash).

Ví dụ
Revaluation and other changes reduced their loan stock by a further HUF 7 bln.

Three directors of tech-focused investment firm Tern (LON:TERN) have converted unsecured loan stock into Tern shares.

M J Gleeson Group PLC’s subsidiaries are engaged in provision of bid management; construction services; house building, housing regeneration and strategic land trading; investment in equity shares and loan stock of project companies delivering services under the Government’s private finance initiative; commercial property development; house building and housing regeneration; strategic land trading, and house building and housing regeneration.

Phạm Hạnh

"Watered stock" nghĩa là gì?

Vì sao luật phá sản của Ấn Độ rối rắm đến vậy?

Flight Details: IT 7 / Chhatrapati Shivaji International Airport (BOM) - London - Heathrow (LHR). Photo courtesy Kurush Pawar.

Ngạn ngữ xưa có câu ‘CHỦ NGHĨA TƯ BẢN không có phá sản cũng như Kitô giáo không có địa ngục vậy’. Tại Ấn Độ, thậm chí giải quyết phá sản là một vấn đề đau đầu, mệt mỏi. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, để đóng cửa một công ty yếu kém ở Ấn Độ phải mất hơn bốn năm, gần gấp đôi thời gian so với ở Trung Hoa. Tỉ lệ thu hồi nợ cũng chỉ ở mức 25,7%, gần như thấp nhất trong các nền kinh tế mới nổi. Kingfisher, hãng hàng không lớn thứ hai của Ấn Độ một thời, là ví dụ điển hình. Năm 2012, công ty này phá sản để lại khoản nợ hơn 1,5 tỉ USD. Nhưng phải đến tháng Hai năm nay, các ngân hàng chủ nợ mới thu hồi được trụ sở cũ của công ty này ở Mumbai. Gần 60.000 trường hợp phá sản đang chờ được giải quyết ở các tòa án vốn quá tải của Ấn Độ. Vì sao luật phá sản của Ấn Độ phá sản?

Không có một bộ luật phá sản duy nhất, Ấn Độ chỉ có các luật khác nhau liên quan đến khả năng mất thanh toán. Một số luật đã lỗi thời quy định bên vỡ nợ phải ngồi tù nếu không trả nổi số tiền nhỏ đến mức chỉ là 500 rupee (8USD). Các chủ nợ cũng có quyền tịch thu tài sản nếu con nợ không trả được món nợ chỉ 300 rupee. Không ngạc nhiên khi có lần một thương gia Hindu không thể trả nợ, ông ta đặt một chiếc đèn đốt bơ loãng bên ngoài cửa nhà, cùng gia đình bỏ trốn trong đêm và chỉ đến sáng hôm sau cả làng mới biết. Khi đó, dân làng sẽ thương tiếc vì mất đi một người bạn và đành lòng đứng nhìn các chủ nợ tịch thu nhà của ông ta.

Thủ tục phá sản hiện hành của Ấn Độ không quá chặt chẽ, nhưng cũng không hiệu quả. Hệ thống này vận hành cực kì chậm khi tòa án cố gắng giải thích một loạt các luật chồng chéo nhau liên quan đến khả năng mất thanh toán. Ví dụ, một số luật cấm chủ nợ thực hiện bất kì hành động pháp lí nào đối với bên phá sản trước khi có kế hoạch tái cấu trúc; mà có thể mất đến vài năm. Trong khi đó, chủ sở hữu của các công ty yếu kém vẫn giữ quyền kiểm soát quản lý hằng ngày và thường cố tình kéo dài thủ tục tố tụng trong khi các chủ nợ đứng nhìn giá trị tài sản của họ tụt dốc - nếu chúng may mắn chưa bị đánh cắp. Điều phổ biến là bên phá sản thường mở một doanh nghiệp khác dưới tên họ hàng và bòn rút hoạt động kinh doanh từ công ty cũ. Đối với bên nợ, việc bảo vệ khả năng thanh toán cũng có khiếm khuyết tương tự. Phải đến khi giá trị tài sản giảm một nửa, các công ty mới được coi là "yếu kém". Một số luật quá thiên về bảo vệ quyền lợi của chủ nợ đều chú trọng đến việc giải thể những công ty này thay vì tái cơ cấu chúng. Một vài luật khác xung đột với các quy định về đất đai và lao động gây cản trở việc thanh lý tài sản hoặc tạm thời sa thải công nhân tại các nhà máy.

Tháng này, Bộ Tài chính Ấn Độ đã đề xuất cải cách luật phá sản nhằm loại bỏ những rối rắm hiện nay và tạo ra một hệ thống thống nhất để giảm thiểu xung đột giữa các chủ nợ. Ngoài ra, bên cạnh các ngân hàng và tổ chức tài chính, lần đầutiên luật phá sản xếp hạng những tổ chức cho vay không tài sản bảo đảm là đối tượng được chi trả trước tiên, trước cả chính phủ. Một cuộc cải tổ toàn diện như vậy không thể diễn ra quá nhanh. Tài chính của nhiều công ty và các ngân hàng tài trợ cho họ đang ở trong tình trạng tồi tệ. Khoảng 12% tất cả các khoản vay được giải ngân từ ngân hàng thuộc khu vực công của Ấn Độ đều có vấn đề. Đây là con số khá lớn do các ngân hàng khu vực công chiếm 70% cổ phiếu vay nợ (loan stock). Trong bối cảnh đó, sẽ có ích nếu dự luật mới đề xuất đẩy nhanh tốc độ phục hồi và rút ngắn quy trình tái cơ cấu. Dự thảo luật mới đưa ra thời hạn cố định 180 ngày để quyết định số phận của một công ty yếu kém và thêm 90 ngày nếu các chủ nợ mong muốn. Thế nhưng toà án không phải cơ quan duy nhất tụt hậu. Khi đệ trình dự luật cải cách phá sản lên quốc hội vào cuối tháng này, chính phủ Ấn Độ cần phải tự đặt ra thời hạn chặt chẽ nếu muốn dự luật mới được ban hành.

Phương Thùy
The Economist

Tuesday, December 29, 2015

Vì sao phải học Văn?

Photo courtesy Tambako The Jaguar.

Until the lion learns how to write, every story will glorify the hunter.
~ African proverb

"Chừng nào con sư tử còn chưa học cách viết văn, bất kì câu chuyện nào cũng sẽ vinh danh gã thợ săn."

Mark Zuckerberg đọc sách 'Trật tự thế giới' cho con gái vừa chào đời


không hiểu Mark đã có trên tay bản tiếng Việt chưa nhỉ? :)

Bài trước: Giáo sư Đoàn Hưng Quốc bình sách 'Trật tự thế giới'

Những chiếc máy ATM: Trong mắt có tiền*

Istanbul. Photo courtesy FaceMePLS.

Ai mà không thích một chiếc máy phun ra tiền?

Theo quan điểm của Paul Volcker, cựu chủ tịch Fed, những chiếc máy này là sự đổi mới sáng tạo về tài chính hữu ích duy nhất trong một vài thập kỉ gần đây. Đáng mừng hơn, những máy rút tiền (cashpoint, người Mỹ gọi là ATM) vẫn đang phát triển. Tuần này, Citibank đã công bố một chiếc ATM có thể xác định danh tính chủ tài khoản chỉ bằng cách quét mống mắt, do đó không còn cần phải dùng mã số và thẻ để xác minh tài khoản. Khách hàng yêu cầu rút tiền bằng điện thoại trước khi phải xác nhận danh tính bằng máy quét.

Đã gần nửa thế kỉ kể từ khi ATM được đưa vào sử dụng, nguồn gốc của chúng vẫn còn là điều gây tranh cãi. Ngân hàng Barclays của Anh được cho là ngân hàng đã lắp đặt chiếc máy ATM đầu tiên tại chi nhánh Enfield của mình vào năm 1967. Nhưng tương lai của ATM cũng không chắc chắn: những người coi thẻ tín dụng và điện thoại di động ngày càng phổ biến đang thay thế tiền mặt trong giao dịch cho rằng tiền giấy và ATM hầu như không cần thiết.

Trong thực tế, số lượng ATM vẫn đang được nhân lên. Hãng tư vấn RBRLondon của Anh cho biết gần 200.000 máy đã được lắp đặt vào năm 2014, nâng tổng số ATM trên toàn cầu lên hơn 3 triệu chiếc. Phần lớn số lượng máy tăng lên này diễn ra ở các thị trường mới nổi; tại châu Âu và Mỹ số lượng hầu như không tăng. Tuy nhiên, hai công ty Mỹ Diebold và NCR cùng với Wincor Nixdorf của Đức vẫn là những nhà sản xuất ATM chủ yếu.

Một số ATM có những chức năng mới lạ như bán vàng hoặc bán vé các trận đấu bóng đá. Một số có chức năng giao dịch cổ phiếu hoặc cho phép người sử dụng rút tiền ảo bitcoin. Sân bay có các máy dùng để rút tiền đi du lịch và thường tính phí rất cao. Một tiệm bánh ở New York, Sprinkles, đã tạo ra một chiếc máy mà cửa hàng này gọi là cây ATM bánh nướng. Nhưng khi nói đến các máy ATM, “tiền mặt vẫn là vua”. Hầu hết các ATM chỉ có một số chức năng nhất định nhưng ngày càng tinh vi, như chuyển đổi ngôn ngữ hoặc cho phép khách hàng chọn mệnh giá tiền mà họ muốn.

Nhìn lại, các ATM thường hé lộ những ưu tiên mà về sau mới trở nên phổ biến. Ở Mỹ, ban đầu nhiều ngân hàng chỉ để máy ATM hoạt động trong giờ làm việc bình thường, cũng giống như hầu hết các siêu thị ngày nay sử dụng máy tự trả tiền. Tuy nhiên, năm 1978, một trận bão tuyết đã khiến Citibank quyết định để các máy ATM hoạt động 24/24 do các nhân viên thu ngân phải rất vất vả mới tới được nơi làm việc. Năm đó, khẩu hiệu của ngân hàng là "Citi không bao giờ ngủ" đã cho thấy rõ ràng rằng, trước đó, khách hàng đã phải kìm nén nhu cầu của mình để khớp với giờ ngân hàng làm việc. Liệu công nghệ quét mống mắt có trở nên phổ biến? Citibank đang thực hiện một tầm nhìn dài hạn.

Tuấn Minh
The Economist


* chơi chữ: "The eyes have it" -> "The ayes have it" = those who voted in favour of something have won: những người ủng hộ đã chiến thắng.

Sunday, December 27, 2015

"Be up a tree" nghĩa là gì?

Up a tree. Photo courtesy Randy.

'Be up a tree' nghĩa là bối rối, không rõ ràng (confused; without an answer to a problem; in difficulty); say rượu, quắc cần câu (intoxicated); và nghĩa khác là ở vào một tình huống rất khó khăn, không có lối thoát, bị dồn vào chân tường (in a difficult situation without escape, helpless; cornered).

Ví dụ
Only two glasses of booze and he was up a tree for sure.

In situations like that, if I am up a tree, or whatever, I have this mantra, a sort of loop of safety checks: ‘what will I do if such and such happens?’ A lot of people get into trouble and lose their lives in natural environments because something happens that they didn’t see coming.

"I would like to know if my being a black man would have anything to do with the action of (his predecessor). I would like to know if my being a pugilist has had anything to with the denial of the application. ... I am up a tree as to why I should be denied and other men released, men whose criminal records are almost as black," Johnson wrote, "as the ace of spades."

Phạm Hạnh

Saturday, December 26, 2015

"Make out like a bandit" nghĩa là gì?

Taylor Swift 2013 RED Tour. Photo courtesy Jana Beamer.

'Make out like a bandit' có từ bandit là kẻ cướp, tên cướp -> tạo ra như một tên cướp và nghĩa là thu được lợi lớn từ một hoạt động nào đó (profit greatly from an activity).

Ví dụ
Obama: Gun Manufacturers ‘Make out like bandits’ after mass shootings (xả súng bừa bãi).

Taylor Swift's acts get paid well, but the promoter can really make out like a bandit with all those extra revenue streams.

Jeb Bush’s tax plan axes taxes for pretty much everyone, but especially for really, really rich people. Including, coincidentally, Jeb Bush. The Republican presidential candidate would make out like a bandit under his own plan. According to my quick-and-dirty, back-of-the-envelope calculations based on Bush’s 2013 tax return, his liability for that year would have fallen by about $800,000, or about a quarter of what he paid Uncle Sam.

Phạm Hạnh

Friday, December 25, 2015

"Acts belie words" nghĩa là gì?

Yasukuni shrine. From the Boshin War (1868 - 1869), where the war dead asleep. Photo courtesy Toshihiro Gamo.

'Acts belie words' (hành động không đúng với/ngược lại lời nói) nghĩa là nói một đằng, làm một nẻo.

Ví dụ
In what way had Newman's acts belied his words since he had joined the Church of Rome?

After visiting the shrine, Abe made a "pledge for everlasting peace", claiming "Japan must never wage a war again." However, Honzawa said the prime minister is lying. "If the prime minister really means what he says, what he has to do is to maintain the current pacifist constitution," rather than revising it, he said. "Abe's acts belie his words." "If the prime minister had taken the feelings of the Chinese and Korean peoples into consideration, he would not have paid a visit to the shrine," the expert added.

Phạm Hạnh

Thursday, December 24, 2015

Giáng sinh độc đáo cho cư dân Vinhomes Times City

ta lại đi ăn quán Nhật Bản... :)

Nhật Bản và quá khứ: Lịch sử chưa thể nguôi ngoai

Cho dù là nạn nhân hay kẻ xâm lược, đất nước này vẫn cảm thấy khó khăn khi đối diện với quá khứ

Tại Tokyo, chìm trong giấc ngủ, nhiều người đã không nghe thấy tiếng máy bay ném bom B-29 của Mỹ gầm rú. Khi được cha lay gọi dậy,
Photo credit: The Economist.
khu phố dưới tại Tokyo nơi Katsumoto Saotome sinh sống đang bốc cháy. Không thể thoát hiểm theo đường kênh rạch vì dầu nhớt paraffin trong các quả bom đã biến nước thành lửa. Ông nói, một khi bị dính nhớt paraffin vào người, da thịt sẽ cháy mãi, "tới tận xương".

Ông Saotome, giờ đây 83 tuổi, sắp sửa tham dự lễ kỉ niệm trận ném bom cháy tại Tokyo năm 1945. Chỉ trong một đêm giữa ngày 9 và 10 tháng 3, khoảng 100.000 người đã thiệt mạng. Do nhiều đàn ông đã đi chiến đấu ở chiến trường xa (mà kết quả cũng rất tệ hại), hầu hết các nạn nhân là phụ nữ, trẻ em và người già.

Đêm hôm đó, mức độ thương vong không nặng nề như vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945, nhưng lớn hơn nhiều so với thiệt hại từ quả bom hạt nhân được thả xuống Nagasaki ba ngày sau đó. Và trận ném bom cháy không chỉ giới hạn riêng ở thủ đô. Giữa tháng 11 năm 1944 và tháng 8 năm 1945, gần 70 thành phố đã chỉ còn là đống đổ nát và có lẽ 300.000 người , chủ yếu là dân thường, đã thiệt mạng - một chiến dịch có sức tàn phá lớn hơn bất kì chiến dịch nào diễn ra ở châu Âu (xem bảng).
Photo credit: The Economist.

Nhưng nếu vụ đánh bom Dresden của Vương quốc Anh xảy ra một tháng trước vụ đánh bom Tokyo gây được chút quan tâm của dư luận ở châu Âu, phe Đồng minh hầu như không tỏ ra chút kinh hãi nào đối với việc giết hại nhằm vào dân thường Nhật Bản trên quy mô chưa từng có như vậy. Thậm chí ngày nay, thật kì lạ khi vụ ném bom cháy đó cũng không mấy khi được nhắc tới. Lễ kỉ niệm lần thứ 70 vụ đánh bom Dresden diễn ra vào tháng Hai trên khắp châu Âu. Tuy nhiên, tại Tokyo, thậm chí còn không có nổi một bảo tàng do nhà nước tài trợ để kỉ niệm cơn bão lửa năm đó và dự kiến chỉ lác đác có vài người sẽ tham dự lễ kỉ niệm cùng ông Saotome. Nỗ lực chính thức nhằm lập hồ sơ những người thiệt mạng chỉ mới được bắt đầu từ năm 2009 và vẫn chưa được hoàn thành, mặc dù một đài tưởng niệm đã được dựng lên tại một góc công viên Yokoamicho làm minh chứng cho những người đã khuất, bên cạnh một ngôi nhà mồ với tro tàn lẫn lộn của hàng ngàn người chết. (Công viên này cũng tưởng niệm những người đã thiệt mạng trong trận động đất và hỏa hoạn với sức tàn phá khủng khiếp tại Tokyo năm 1923.)

Bret Fisk, tiểu thuyết gia chuyên viết về các cuộc tấn công năm 1945, nói: sau chiến tranh, Tokyo thiếu các nguồn lực tình cảm và tài chính để có thể thể hiện niềm thương tiếc với các nạn nhân một cách thỏa đáng. Và mong muốn nói chuyện phải trái với Mỹ, đồng minh mới của Nhật Bản trong Chiến tranh lạnh, cũng không hề tồn tại. Một dự án bảo tàng đã bị sa lầy vào những năm 1990. Đảng Bảo thủ cho rằng, kế hoạch đó, bao gồm việc miêu tả các tội ác chiến tranh, là không yêu nước và mang tính "tự hành xác" (masochistic).

Nếu khó thừa nhận sự đau khổ của người dân, những người theo chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản sẽ càng khó chấp nhận những tội ác do quân đội hoàng gia Nhật Bản gây ra trên khắp châu Á. Đã thành lệ, mỗi Thủ tướng trong thời kì tại nhiệm đều đưa ra một bản tuyên bố về cuộc chiến tranh này vào mỗi lần kỉ niệm tròn một thập kỉ sự thất bại của Nhật Bản, diễn ra vào ngày 15 tháng 8. Năm 1995, ông Tomiichi Murayama, thủ tướng thuộc Đảng Dân chủ Xã hội, đã đưa vấn đề đi xa nhất. Ông bày tỏ "sự hối hận sâu sắc" về "chế độ thực dân và xâm lược" của Nhật Bản. Năm 2005, ông Junichiro Koizumi, một người theo chủ nghĩa dân tộc thuộc Đảng Dân chủ Tự do, đảng nắm quyền trong hầu hết thời hậu chiến, đã nhắc đi nhắc lại gần như từng từ một những cụm từ quan trọng trong phát biểu của ông Murayama.

Ông Shinzo Abe, Thủ tướng đương nhiệm, sẽ nói gì vào ngày kỷ niệm lần thứ 70 là đề tài khiến nhiều người bàn tán. Có lẽ ông Abe biết ông đang nghĩ gì. Trong quá khứ, ông đã từng truy vấn định nghĩa về sự xâm lược của Nhật Bản, chỉ trích công lý của bên thắng cuộc trong phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh Tokyo, và đặt câu hỏi về nội dung của lời xin lỗi năm 1993 của Chánh văn phòng nội các khi đó là Yohei Kono đối với "các phụ nữ giải khuây" bị ép buộc quan hệ tình dục với những người lính quân đội hoàng gia. Tuy nhiên, giờ đây ông đã thành lập một ủy ban tư vấn gồm những người có óc xét đoán, gồm các nhà sử học, nhà báo và những người khác. Ủy ban này có buổi họp lần đầu tiên vào ngày 25 tháng 2.

Nhiều chính trị gia Nhật Bản, và cả những người thân Nhật ở Washington, cùng nhất trí rằng ông Abe phải nhắc lại rõ ràng lời xin lỗi của những người tiền nhiệm. Trung Hoa và Hàn Quốc sẽ theo dõi sát sao bất kì thay đổi nào. Ông Abe đã nói ông sẽ giữ tinh thần chung lời tuyên bố của ông Murayama. Tuy nhiên, những dấu hiệu gần đây cho thấy các cụm từ quan trọng về Nhật Bản và về cuộc chiến có thể sẽ được thay đổi.

Chắc chắn ông Abe muốn nhấn mạnh đến thành tích thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng kể từ thời hậu chiến của Nhật Bản và việc thành tích này sẽ được duy trì như thế nào. Tuy nhiên, như một chính trị gia cấp cao của Đảng Dân chủ Tự do đã hối thúc tháng trước, cách chắc chắn nhất để vị thủ tướng đương nhiệm có thể làm nổi bật tương lai đầy hứa hẹn của Nhật Bản sẽ là vẫn kế thừa các tuyên bố trước đây về quá khứ mà không có sự né tránh nào.

Tuấn Minh
The Economist

"Charnel house" nghĩa là gì?

Unknown Man, Diane Maclean, 1988. Photo courtesy Spitalfields_E1.

'Charnel house' nghĩa là nhà xác, nhà để hài cốt (a building or vault in which corpses or bones are piled); và nghĩa bóng là nơi gắn với những cái chết bạo lực (a place associated with violent death).

Ví dụ
Europe in the immediate postwar period had become a charnel house.

The charnel house of Gallipoli might have been avoided through an allied landing on Turkey’s Mediterranean coast, but that would have upset France’s postwar plans for a Syrian colony and was vetoed.

To a certain extent that narrative functions as a device that enables us to see more of the charnel house chaos of Auschwitz-Birkenau (where part of Nemes' family was killed) than we would otherwise encounter, a skeleton key, in effect, to different circles of hell.

Phạm Hạnh

"Anointing of the sick" nghĩa là gì?


'Anointing of the sick' nghĩa là xức dầu bệnh nhân (Anointing of the Sick is a sacrament of the Catholic Church that is administered to a Catholic "who, having reached the age of reason, begins to be in danger due to sickness or old age", except in the case of those who "persevere obstinately in manifest grave sin").

Ví dụ
Father Jack Vu, rector of the Cathedral, came to give him the anointing of the sick.

All were listened to and prayed for, and Catholics who asked for the sacramental anointing of the sick were marked with holy oil.

I was barely hanging on at some points, thinking about death far more frequently than I had before, and was given the anointing of the sick.

Phạm Hạnh


"Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha." 
– (James 5:14-15)

Xức dầu bệnh nhân là bí tích được nhận bởi những ai đang mang bệnh hay trong cảnh đau đớn. Qua việc xức dầu thánh và lời cầu nguyện của linh mục, toàn thể Giáo Hội đồng phó thác những người bệnh cho Chúa Kitô. Người bệnh nhận được món quà của sức mạnh, niềm tin, niềm an bình, và sự can đảm từ Chúa Thánh Thần, và đau khổ của họ sẽ được kết hợp với sự đau khổ của Chúa Kitô trong quá trình xây dựng Giáo Hội (Giáo Lý của Giáo Hội [CCC], nos. 1520 -23).

Qua Bí Tích Xức Dầu, Giáo Hội thi hành sứ mệnh tình thương và chữa lành bệnh nhân của Chúa Giêsu. Anh chị em đau bệnh cũng có thể làm việc tông đồ cho người khác. Bằng cách kết hợp sự đau khổ của mình với Đức Kitô, những người đau bệnh có thể trở thành dấu hiệu của đức tin và chứng nhân của sự Sống Lại của Chúa Kitô cho toàn thể cộng đồng (Giáo hoàng John Paul II, Christifideles Laici [Ơn Gọi và Sứ Mệnh của Tín Hữu trong Giáo Hội và Thế Giới ], no. 54).

Những kết luận bất ngờ

(basic sale&marketing), hat tip to Lytra Do.
-----
Le Jour ni l’Heure 4463. Photo courtesy Renaud Camus.

1. Chàng yêu nàng từ thuở nàng mười lăm mười sáu tuổi. Cả hai lén lút đi lại, quan hệ, quậy gia đình, trốn nhà đi, dọa chết nếu không được chấp nhận.
Nếu mối quan hệ ấy kéo dài được một năm, được gọi là phạm pháp, dụ dỗ trẻ em vị thành niên, có nguy cơ ra tòa thụ án !
Nếu mối tình ấy kéo dài được ba năm, được gọi là yêu trộm, nhớ thầm và là tình yêu oan trái !
Nếu mối tình kéo dài được sáu bảy năm, sẽ được gọi là tình yêu đích thực, vượt núi trèo đèo, vượt qua bao nhiêu khó khăn để yêu nhau !

Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm được trong… bao lâu!

2. Một nàng cave, nếu ngủ với thợ thuyền hoặc lao động ngoại tỉnh, thì bị gọi là đối tượng xã hội.
Nếu ngủ với đại gia lừng lẫy, thì được gọi là chân dài !
Nếu ngủ với một ngôi sao sân cỏ hoặc màn bạc, sẽ được đàng hoàng lên báo kể chuyện “nghề nghiệp” và trưng ảnh hở da thịt giữa công chúng và không ai có ý định bắt nàng !

Kết luận: Bạn làm gì chả quan trọng, quan trọng là bạn làm điều đó với ai!

3. Phòng tắm công cộng bỗng dưng bị chập điện gây hỏa hoạn lớn, vô số chị em chạy túa ra ngoài đường mà không kịp mặc gì ?
Những cô nàng thông minh là những người không lấy tay che thân thể, mà lấy tay che… mặt !

Kết luận: Hãy quan tâm tới mấu chốt của mọi vấn đề.

4. Một cô gái ế chạy tới đồn cảnh sát tố cáo: “Tôi đã cẩn thận để tiền trong áo lót, thế mà thằng cha đẹp trai đứng cạnh tôi ở trên xe bus đông đúc, đã móc lấy mất tiền của tôi!”. Cảnh sát ngạc nhiên: “Tại sao nó có thể móc tiền được ở một vị trí “nhạy cảm” như thế, mà cô lại không phát hiện ra?”. Cô nàng gái ế thút thít: “ Tôi đâu có ngờ được là nó chỉ muốn moi tiền?”

Kết luận: Một nhà kinh doanh tài ba là người moi được tiền của khách hàng trong lúc đang khiến cho khách hàng ngất ngây sung sướng !

5. Nhân viên vệ sinh của công ty rất buồn phiền vì các quý ông thường lơ đãng khi vào nhà vệ sinh.
Để giải quyết những vũng nước vàng khè dưới nền toilet, Công ty đã cho dán lên tường, phía trên bệ xí nam một tờ giấy: “Không tiểu tới bô chứng tỏ bạn bị ngắn, tiểu ra ngoài bô chứng tỏ bạn bị… ủ rũ!”.
Ngay từ ngày hôm sau, toilet nam sạch bóng và không còn quý ông nào lơ đãng nữa.

Kết luận: Hãy chứng minh cho khách hàng thấy vấn đề một cách cụ thể và có ấn tượng.

6. Bố mẹ nàng mở cuộc thi tuyển con rể :
Chàng A nói, trong tài khoản có một triệu đô !
Chàng B khoe, có biệt thự hai triệu đô. Bố mẹ nàng có vẻ ưng lắm !
Chàng C nói, cháu chả có gì cả, thưa hai bác. Cháu chỉ có mỗi một đứa con, hiện đang nằm trong bụng của con gái các bác!

Kết luận: Muốn cạnh tranh với đối thủ, cần có tay trong!

Bài trước: Con mèo đi hoang

Tuesday, December 22, 2015

10 kiểu sinh viên chỉ cần tốt nghiệp là thất nghiệp

shared from Đức Anh Quách.
-----
Có những kiểu sinh viên được dự đoán một khi tốt nghiệp chắc chắn sẽ thất nghiệp. Bạn có thuộc một trong những loại được nêu trong bài viết này?

1. Kiểu sang chảnh
Kiểu này là những bạn luôn tin tưởng rằng mình tốt nghiệp đại học nên mình phải làm những công việc "xứng tầm". Luôn tự động viên bản thân là "mình mất 4-5 năm đèn sách, giờ lại phải làm cái việc tay chân cỏn con như mấy đứa thất học sao?". không bao giờ chấp nhận làm từ việc nhỏ, luôn coi những việc hàng ngày là việc lặt vặt tầm thường.

Xin thưa với các tiểu thư công tử là khi việc nhỏ làm còn không xong thì không ai giao cho các bạn việc lớn đâu.

2. Kiểu ảo tưởng sức mạnh
Chẳng có mấy kinh nghiệm, chẳng biết làm việc gì, nhưng luôn có một niềm tin mãnh liệt rằng "lương dưới 10tr em không làm".

Dù có thủ khoa Ngoại Thương hay từ Anh, Mỹ trở về thì kiểu này cũng chẳng bao giờ qua được vòng phỏng vấn. Doanh nghiệp không trả tiền cho bằng cấp hay kiến thức của bạn, mà trả tiền cho những gì bạn có thể đóng góp được.

3. Kiểu lười biếng
Tuổi đời thì trẻ, kinh nghiệm thì không có, nhưng luôn muốn tìm những công việc nhẹ nhàng nhàn hạ. Phải ở lại làm thêm hoặc cuối tuần phải đi làm là tỏ ra khó chịu và cho rằng "bị bóc lột".

Thông minh tài năng mà lười thì đã đành, gần đây rất nhiều các ứng viên vừa không có gì xuất sắc vừa chẳng chăm chỉ. Làm việc được 1-2 hôm đã kêu và sau đó các bạn được cho nghỉ luôn.

4. Kiểu thiếu thực tế
Nhóm này luôn có một niềm tin mãnh liệt về 1 thứ gọi là "công việc ổn định", đáng tiếc là trong thời đại mọi thứ thay đổi chóng mặt thế này thì chẳng còn có công việc nào gọi là "ổn định" hết, ngay cả vào nhà nước bây giờ cũng không ổn định.

Và cùng với niềm tin đấy, nhiều bạn đã tốt nghiệp 3-4 năm rồi mà vẫn ở nhà ăn bám bố mẹ và ngày ngày đi tìm kiếm những "cơ hội tốt".

5. Kiểu chém gió
Nói rất nhiều, nói rất hay, phân tích lập luận đều vào hàng siêu đẳng, kinh tế vĩ mô hay vi mô, Việt Nam hay Thế giới đều có đàm luận ở mức cao thâm; nhưng đến khi bắt tay vào làm thì chẳng được việc gì.

Thời gian chỉ ra rằng trời chỉ cho mỗi người 1 sở trường, thằng giỏi ba hoa thường không còn sở trường nào khác.

6. Kiểu đứng núi này trông núi nọ
Làm cho công ty này nhưng tâm hồn lại ở các công ty khác. Chưa đóng góp được gì cho công ty mà chỉ luôn bận tâm tìm xem công việc nào trả lương cao hơn, có cơ hội thăng tiến tốt hơn và nhanh chóng chuyển việc.

Các bạn chẳng bao giờ học và làm được điều gì đến nơi đến chốn vì chưa bao giờ dành đủ tâm huyết cho công việc. Và chẳng có mấy doanh nghiệp muốn nhận những người mau mau chóng chóng học hết mọi thứ rồi ra.

7. Kiểu thụ động
Cứ phải cầm tay chỉ việc, từ cái việc bé li ti như con kiến, giao việc xong còn phải thúc vào mông thì mới chịu làm, không ai nói gì thì ngồi facebook cả ngày. Sức ì lớn như xe lu, khen chê thưởng phạt các kiểu cũng không suy xuyển.

Kiểu này mà cho ra chiến trường để cản xe tăng thì tốt phải biết, còn trong công ty thì chẳng xếp vào vị trí gì được.

8. Kiểu không có chí tiến thủ
Không ham học hỏi, ngại tiếp xúc với cái mới, luôn sợ bị người khác chê cười, lòng tự trọng to như con voi mà tinh thần cố gắng to như con kiến. Dễ chấp nhận, nhanh thoả mãn. Không thích bị người khác nhắc nhở nhưng lại chẳng chịu học hỏi vươn lên.

Các bạn này vào công ty sau 1 thời gian không bị đuổi cũng tự xin nghỉ vì thấy tất cả bạn bè giờ đã lên sếp hết, mỗi mình mình còn lẹt đẹt với sự uất hận vì bị "đánh giá không công bằng", "không được ghi nhận…"

9. Kiểu con cưng
Sinh ra đã được chiều chuộng bao bọc, chăm sóc từ chân đến răng, ở nhà là "con cưng", ra đường cũng là "con cưng", có việc gì xảy ra là y như rằng bố mẹ xuất hiện để "che chở", đi đâu cũng có "ba là tấm vé xe cho con bay thật xa" và "mẹ là xập đô la cho con cài lên ngực".

Không chịu được khó, không chịu được khổ, chẳng thể tự lập được mà lúc nào cũng phải dựa vào cha mẹ hoặc không thể làm trái ý cha mẹ.

10. Kiểu gà công nghiệp
Sinh viên gà công nghiệp có đặc trưng không tự quyết định được gì vì bố mẹ đã làm hết cho họ khi ra quyết định. Ngờ nghệch và lúng túng là hai thái độ sinh viên gà công nghiệp mắc phải trong đường đời. Bên cạnh đó họ cũng thường thiếu kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc. Tự chủ luôn luôn là yếu tố cần thiết cho mọi lao động thành công.

Kết luận: Khi tuổi đời còn trẻ thì kiến thức là thứ có thể học được, kỹ năng là thứ có thể luyện tập được. Nhưng tính cách và tinh thần là cái cần rất nhiều thời gian để vun đắp, nếu bạn thấy hình ảnh của mình ở đâu đó trên kia, hãy lên kế hoạch rèn luyện bản ngay hôm nay.

"Little things amuse little minds" nghĩa là gì?

unReality Show. Photo courtesy Marco Bellucci.

'Little things amuse little minds' nghĩa là những kẻ tầm thường chỉ nghĩ đến những việc tầm thường (people who are not intelligent are pleased by trivial things; implies that the person you are talking about is not intelligent).

Ví dụ
Jill: Nathaniel's been awfully cheerful today.
Jane: Yes, his favorite TV show is on tonight.
Jill: Little things please little minds, they say.

"I couldn't hear him; I don't speak that language, whatever he was speaking," Pronger said. "I don't know, apparently it got him upset. So I guess it worked. I guess little things amuse little minds."

Well I'm doing time inside a grapevine
Little things amuse little minds
Well, nothin's free except a little bit of bad advice
On how to live on only water, bread and rice

Phạm Hạnh

Monday, December 21, 2015

"Cost an arm and a leg" nghĩa là gì?


'Cost an arm and a leg' nghĩa là rất đắt, đắt vô cùng (to be very expensive); cụm từ này có thể do truyền thống tính giá tranh vẽ hồi

xưa, tranh chân dung chỉ đầu và vai là rẻ nhất, rồi thêm tay, và tranh cả người (tay + chân) là đắt nhất; hoặc có thể do giữa thế kỉ XX, rất nhiều báo chí Mỹ đưa tin về những người lính Mỹ bị thương tật trên chiến trường, mất chân, tay -> nói đến cái giá quá đắt của chiến tranh.

Ví dụ
I welcome any benefit, especially if they don't cost an arm and a leg.

In fact, giving to charity doesn't need to cost an arm and a leg at all.

It looks like something from a James Bond movie and the giant fan in Karen and Sean Baker's pool cost an arm and a leg to boot.

Based on Glassdoor information, HTC engineers make about NT$51,500 (about US$1,560) to NT$57,077 (about US$1,730) a month, so we guess the headset wouldn’t cost an arm and a leg, hopefully. In any case this huge breakthrough is expected to be demoed at CES 2016, so do check back with us then for more info!

Phạm Hạnh

Sunday, December 20, 2015

"The gift of the gab" nghĩa là gì?

Blarney Castle. Photo courtesy LWYang.

'The gift of the gab' có từ gift là năng khiếu và gab là tán gẫu huyên thuyên, chuyện phiếm, vì thế cụm từ này nghĩa là tài ăn nói (an ability to speak easily and confidently and to persuade people to do what you want).

Ví dụ
Muhammad Ali proves he's still got the gift of the gab.

There remained something of the salesman in his work: Dan Fante was passionate, persuasive and had the gift of the gab.

The castle is of course home to the famous Blarney Stone that attracts tourists from all over the world each year, all looking for the gift of the gab. The story behind the stone is much debated but one thing is for sure, anyone who plants a kiss on its flat, cold surface hovering high above the grounds in the castle’s battlements (tường có lỗ châu mai) will acquire the gift of eloquence (tài hùng biện).

Phạm Hạnh

Saturday, December 19, 2015

Hệ thống tư pháp méo mó của Nhật Bản

In Japan, crime rates are low and the state incarcerates far fewer people than in other rich countries. But when people are accused of a crime they are almost always convicted.

"Cut the price to the bone" nghĩa là gì?

Món ruột của em. Photo courtesy Tran.Bao.

'Cut the price to the bone' nghĩa là giảm giá/hạ giá tới mức tối thiểu.

Ví dụ

"I order big volumes which allow me to sell cheaply," he says. "For example, I take 400,000 bottles of our Spanish red, Viña Decana, and another 400,000 of their rosé, which is a significant amount. We cut the price to the bone and rarely discount; what you see is what you get. One of my pet hates is seeing a wine 'reduced' from £7.99 to £3.99. How can consumers judge its real value?"

I must admit we haven't felt "constantly" scammed in Viet Nam. Most of the people we dealt with were honest and helpful, I admit not being into bargaining down to the last dong because I felt that even paying over the odds that a local would it was win-win, I still got it cheaper than I would pay at home and the vendor made a little extra that day. If I had wanted to cut the price to the bone I would have. We were ripped off by one taxi of all those we took, caught by the pineapple ladies our first time in Ha Noi and scammed for a ride in Sa Pa once (I knew it at the time but silly me left it up to my DH :-) ). I found the vendors at the Hai Van Pass annoying and another one in Da Nang as well, and the cyclo guys in Hue can be pests, but otherwise the market people are not nearly as in your face as they are in Hong Kong, for instance.

Phạm Hạnh