Journey in Life: 05/25/15

Search This Blog

Monday, May 25, 2015

Ảnh hưởng của Quốc hội Mỹ đối với chính sách đối ngoại

Barack Obama - Enjoying a Cuban. Photo courtesy DonkeyHotey.

Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã bỏ phiếu trao cho Quốc hội Hoa Kỳ thẩm quyền đưa ra quyết định cuối cùng về bất kỳ thỏa thuận hạt nhân nào với Iran; Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ đã quyết định rằng Quốc hội bỏ phiếu thuận hoặc chống đối với Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương, một thỏa thuận thương mại tự do giữa Mỹ và nhiều quốc gia Thái Bình Dương. Hầu hết người nước ngoài, và một vài người Mỹ, mặc nhiên cho rằng tổng thống là người nắm quyền lèo lái chính sách đối ngoại của quốc gia. Không hẳn là như vậy. Nhưng cũng không có nghĩa là Quốc hội nắm trọn vẹn quyền hành. Cơ quan lập pháp này đôi khi mong muốn có tiếng nói nhất định trong khi từ chối chuẩn thuận các thỏa hiệp mà chính sách đối ngoại thường đòi hỏi. Cơ quan lập pháp này thực sự có ảnh hưởng gì đối với hoạt động đối ngoại của Mỹ?

Theo Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan tuyên bố chiến tranh, phê chuẩn các điều ước quốc tế và có quyền quyết định đối với ngân sách. Điều đó đáng lẽ khiến cơ quan này nắm quyền cao nhất trong vấn đề đối ngoại. Trên thực tế, các tổng thống nắm rất nhiều quyền hành khi họ phải đưa ra những quyết sách đối với các sự kiện diễn ra nhanh chóng. Một ví dụ gần đây là chiến dịch ném bom chống lại tổ chức Nhà nước Hồi giáo, đã được Nhà Trắng tiến hành theo thẩm quyền cho phép sử dụng vũ lực được thông qua ngay sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001. Các đại biểu Quốc hội đã phàn nàn về điều này, và Nhà Trắng đã thăm dò khả năng giành được một nghị quyết cập nhật hơn. Tuy nhiên, Quốc hội không muốn tham gia vào vấn đề này. Các thành viên Đảng Cộng hòa thường lo ngại rằng câu chữ trong nghị quyết quá lỏng lẻo, trong khi các thành viên Đảng Dân chủ cho rằng có khả năng nghị quyết không có kết luận rõ ràng, và do đó tổng thống là người chịu trách nhiệm với chiến dịch này.

Nhưng thỏa thuận hạt nhân với Iran là trường hợp khác. Đó là một quá trình chậm chạp, khiến chính quyền của tổng thống khó có thể tuyên bố rằng chính phủ phải đáp ứng các sự kiện một cách nhanh chóng, kịp thời. Và thỏa thuận này sẽ kết thúc bằng một hiệp ước. Tuy nhiên, tiền lệ không rõ ràng: hầu hết các thỏa thuận quốc tế của Mỹ đều đã trở thành luật sau khi Nhà Trắng ban hành sắc lệnh hành pháp chứ không phải sau khi được Quốc hội phê chuẩn. Tuy nhiên, những điều ước lớn, gây tranh cãi thường được trình lên Quốc hội. Nhánh lập pháp từ chối phê chuẩn Hiệp ước Versailles hồi cuối Thế chiến I, và gần đây hơn, là lệnh cấm hoàn toàn đối với các vụ thử hạt nhân, do George H.W. Bush ký vào năm 1992 nhưng chưa thực sự có hiệu lực pháp luật.

Theo quan điểm phổ biến, những tổng thống đương chức ở nhiệm kỳ hai thường tìm kiếm các thành tựu trong chính sách đối ngoại khi họ không còn có bất kỳ khả năng nào để tạo ra thay đổi gì lớn ở trong nước. Cho đến nay, Quốc hội đã ngăn cản một số chính sách mà Tổng thống Barack Obama coi là di sản của mình, bao gồm việc đóng cửa nhà tù Vịnh Guantanamo, trong khi thất bại trong các vấn đề khác, chẳng hạn như việc bình thường hóa quan hệ với Cuba. Giữa Tổng thống và Quốc hội sẽ có nhiều tranh cãi khác nữa trong năm nay. Trong nhiều vấn đề, có một cách dễ dàng hơn nhiều (và thật buồn là đáng tin cậy hơn nhiều) để hiểu Quốc hội sẽ chọn vấn đề nào để “đối đầu” với tổng thống: bằng cách xem những bất trắc (contretemps) khó khăn sẽ khiến hình ảnh của tổng thống ra sao trong mắt người dân. Khi nói đến vấn đề đối ngoại, chính điều này chứ không phải con số chính xác những máy ly tâm hay mức giảm thuế quan đối với xuất khẩu thịt bò, mới thật sự là mấu chốt.

Phương Thùy
The Economist

Tranh cãi về luật đất đai ở Ấn Độ

Farmers on the street. Photo courtesy Johan Bichel Lindegaard.

Hôm nay, sau một kỳ nghỉ ngắn, Quốc hội Ấn Độ đã tiếp tục họp trở lại. Chính phủ của ông Narendra Modi đang cố gắng để một dự luật sửa đổi về đất đai năm 2013 được quốc hội thông qua, nơi đa số đại biểu phản đối dự luật này. Theo dự luật hiện hành, bất kỳ vụ cưỡng chế đất đai nào cũng phải có sự chấp thuận của ít nhất 70% chủ sở hữu bị ảnh hưởng và cũng phải vượt qua được bài kiểm tra tác động xã hội. Mức bồi thường được ấn định ở mức gấp đôi giá trị thị trường đối với đất đô thị và gấp bốn lần đối với đất nông thôn. Những quy định của dự luật này là lý do hàng đầu khiến các dự án đầu tư đang giậm chân tại chỗ. Trong tháng Mười Hai, chính phủ của ông Modi đã ban hành một sắc lệnh tạm thời trong đó không áp dụng điều khoản kể trên đối với một số dự án nhất định. Dự luật sửa đổi dự định đưa thay đổi này thành cố định lâu dài. Nhưng Đảng Quốc đại đối lập khẳng định rằng xóa bỏ điều khoản này sẽ chỉ mang lại lợi ích cho các công ty và làm phương hại đến lợi ích của nông dân nghèo. Hôm qua dự thảo luật sửa đổi đã thu hút một cuộc biểu tình phản đối lớn ở Delhi. Vì sao việc thu hồi đất lại là vấn đề gây tranh cãi đến vậy ở Ấn Độ?

Ở bất kỳ đâu trên thế giới, việc cưỡng chế thu hồi đất là hành vi vi phạm quyền sở hữu đất của chủ sở hữu. Sao không đơn giản để người mua và người bán tự thỏa thuận giao dịch với nhau, không ràng buộc gì? Các nhà kinh tế gọi đó là "nan đề cố thủ" (hold-out problem). Vấn đề này nảy sinh bất kỳ khi nào một người mua duy nhất phải liên tục thương lượng với nhiều người bán để mua các lô đất liền kề nhau mà họ cần, chẳng hạn cho một dự án cầu vượt hay một nhà máy. Một thỏa thuận khiến tất cả mọi người đều có lợi có thể tồn tại trên nguyên tắc, nếu giá trị xã hội của dự án lớn hơn số tiền cần để thuyết phục tất cả chủ sở hữu bán lô đất của mình. Nhưng trên thực tế, khi người mua mới mua được một vài mảnh đất, những chủ đất còn lại có động cơ giữ đất của họ để đòi giá cao hơn. Hành vi “cố thủ” này có thể khiến bất kỳ dự án nào trở nên không khả thi. Ngay cả khi những chủ đất không quá đòi hỏi, chi phí cho việc thương lượng với từng chủ đất một có thể giết chết một dự án. Đặc biệt là ở Ấn Độ, thậm chí một rủi ro thấp nhất phải đối mặt với tòa án cũng có thể dẫn đến một sự chậm trễ tốn kém tai hại.

Đó là lý do vì sao ngay cả các nền kinh tế thị trường thân thiện, như Hoa Kỳ, cũng có luật quy định về cưỡng chế bán đất. Nhưng dự luật của Ấn Độ đặc biệt gây lo ngại, kể cả các điều khoản hào phóng rõ ràng. Chính trị là một lý do. Đảng Quốc đại (và nhiều đảng phái khác có ghế trong thượng viện) đã thua một cách tệ hại trong cuộc bầu cử năm ngoái ở Ấn Độ; họ nhận thấy con đường trở lại là biến đảng của ông Modi trong mắt người dân là đảng không vì lợi ích của người nghèo và nông dân. Hành động tô vẽ của họ chủ yếu dựa trên mối lo lắng sâu rộng về sự bất công trong việc bồi thường đối với đất bị thu hồi. Mức tiêu chuẩn bồi thường được ấn định dựa trên những giao dịch mua bán đất cùng thời kỳ ở địa phương. Nhưng những giao dịch như vậy, dù lạc quan lắm cũng rất hiếm và thường ở mức giá bị dìm thấp. Việc bán đất nông nghiệp trực tiếp cho các công ty cũng bj cấm (bề ngoài là để bảo vệ nông dân), vì thế loại bỏ một loạt người mua tiềm năng và dìm giá xuống thấp. Chi phí công chứng cao cũng có tác dụng tương tự. Những nông dân sở hữu đất đai màu mỡ thường có cảm giác bị lừa khi các chuyên gia thẩm định không xem xét đầy đủ những thay đổi về chất lượng đất đai của họ.

Có cách nào tốt nhất để đảm bảo rằng nông dân không thể bị gạt? Hai giáo sư kinh tế Maitreesh Ghatak thuộc trường Kinh tế London và Parikshit Ghosh thuộc trường Kinh tế Delhi gợi ý mời chào bán từ cả các chủ đất trong các khu vực cần phát triển nhất định và từ các chủ đất ở gần đó. Bất kỳ nông dân nào trong phạm vi của dự án phát triển được đề xuất không chấp nhận mức giá đấu giá có thể được giao bồi thường bằng một mảnh đất gần đó. Đề xuất bồi thường bằng đất thay thế này có thể tránh được vấn đề “cố thủ” giữ đất để đòi giá cao vì trong trường hợp này không ai có vai trò quá quan trọng đối với dự án cả. Dù không phải là một giải pháp hoàn hảo, nhưng với những vấn đề hiện tại thì thị trường đất đai của Ấn Độ còn lâu mới đạt mức hoàn hảo.

Phương Thùy
The Economist

Những ai sẽ phải nộp "thuế biệt thự"?

Wollaton Hall exterior*. Photo courtesy Duncan.

Người ta thường nói ngôi nhà của một người Anh chính là lâu đài của anh ta. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi viễn cảnh Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland sẽ đánh thuế đối với tài sản trị giá hơn 2 triệu bảng (3 triệu USD) khiến những chủ biệt thự giàu có cực kỳ giận dữ phản đối (up in arms). Ngay cả những người nổi tiếng cũng lên tiếng phản đối đề xuất này; những ngôi sao như Sol Campbell, cựu cầu thủ bóng đá, và Myleene Klass, một ca sĩ, cũng đã chỉ trích đề xuất nêu trên. Nhưng họ không thể ngăn cản cả hai Đảng Lao động và Đảng Dân chủ Tự do bao gồm chính sách thuế này trong tuyên ngôn tranh cử của mình. Đảng Lao động cho hay thuế (được dự tính sẽ mang lại khoảng 1,2 tỷ bảng một năm) sẽ là thuế lũy tiến. Những người sở hữu nhà có giá trị hơn ngưỡng này đôi chút sẽ chỉ phải đóng khoảng 3.000 bảng mỗi năm, và chủ sở hữu của ngôi nhà bị đánh thuế theo quy định nhưng có mức thu nhập thấp sẽ có thể hoãn việc nộp thuế cho đến khi họ bán ngôi nhà. Mức giá trị nhà chịu thuế có thể cũng sẽ tăng theo thời gian phù hợp với mức tăng trung bình của giá bất động sản giá trị cao. Nhưng những người phản đối chính sách thuế này cho rằng nó sẽ chủ yếu ảnh hưởng đến những cư dân sống trong những ngôi nhà khiêm tốn ở London đắt đỏ, chứ không phải những người sống trong các "biệt thự". Họ nói rằng, điều đó là không công bằng đối với những người định cư lâu dài, dù là triệu phú trên giấy tờ, không cần giá nhà của mình tăng vút. Vậy những ai sẽ phải nộp "thuế biệt thự"?

Tạp chí The Economist nghiên cứu số liệu trong các vụ giao dịch bất động sản ở Anh và xứ Wales từ năm 2009 đến năm 2014 để ước tính số lượng các "biệt thự" trong mỗi khu vực. Tổng cộng, khoảng 91.000 bất động sản tại Anh và xứ Wales sẽ là đối tượng chịu thuế này nếu ngưỡng chiu thuế được ấn định ở mức 2 triệu bảng. Khoảng 74.000 (81%) trong số này ở London, và khoảng hơn 11.000 ở khu vực đông nam. Ngược lại, chúng tôi ước tính chưa đến 100 bất động sản ở miền đông bắc, và chỉ 12 bất động sản ở xứ Wales, có giá trị hơn 2 triệu bảng.
Các khu vực bầu cử theo tỷ lệ biệt thự, Anh và xứ Wales. Photo credit: The Economist.

Không có gì ngạc nhiên khi Kensington, nơi ở của các nhà ngân hàng và tài phiệt đầu sỏ (oligarch), là nơi có số biệt thự nhiều nhất với một phần ba số hộ gia đình sẽ phải nộp loại thuế này. Bên ngoài London, Beaconsfield ở quận Buckinghamshire, vùng ngoại ô giáp ranh của thủ đô - có nhiều biệt thự nhất. Hơn một nửa số khu vực bầu cử của Anh và xứ Wales - 317 trong tổng số 573 khu - không hề có biệt thự nào. Bản đồ của chúng tôi cho thấy ước tính số tài sản trị giá hơn 2 triệu bảng ở mỗi khu vực bầu cử.

Sự phân bố không đồng đều này không có gì là bất ngờ. Thu nhập và do đó tổng thu thuế thu nhập ở phía đông nam là cao nhất; và chẳng mấy người coi điều này là bất công. Tương tự như vậy, giá tài sản cao là do nhu cầu và sự khan hiếm của chúng; các nhà kinh tế đo lường sự giàu có bằng giá cả, chứ không phải bằng diện tích sử dụng. Một người sống trong một ngôi nhà ở London - dù mua nó ở bất kỳ thời điểm nào - cũng đang sử dụng một trong những tài sản giá trị của xã hội. Tuy nhiên, việc phân bổ ngân sách theo khu vực địa lý (geographical transfer) là một vấn đề nhạy cảm ở Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Sự lớn mạnh của Đảng Dân tộc Scotland đồng nghĩa với việc sau cuộc bầu cử tháng Năm, một chính phủ thiểu số của Đảng Lao động sẽ chỉ có thể ban hành luật thuế biệt thự này với sự ủng hộ của của Đảng Dân tộc Scotland. Những cư dân ở Anh ủng hộ Đảng Bảo thủ, gần như chắc chắn sẽ phản đối những nhà dân tộc chủ nghĩa Scotland nếu họ ban hành một loại thuế có tác động thiên lệch như vậy. Suy cho cùng, vị trí là tất cả.

Phương Thùy
The Economist


* The mansion house built in 1580 by Robert Smythson [who also did Hardwick Hall] for Sir Francis Willoughby. Now open to less aristocratic types too...

"Keep afloat" nghĩa là gì?

Photo credit: nypost.com.

'Keep afloat' có từ afloat thịnh vượng, sôi nổi, hết sạch nợ, lênh đênh trên nước; vì thế cụm từ này nghĩa là sống sót, giữ cho khỏi chìm (survive, buoy up), thường được dùng để nói về một tổ chức nào đó đang nguy ngập về tài chính và cần tìm mọi cách để tồn tại, qua cơn sóng gió.

Ví dụ
Basketball club requests financial help to keep afloat.

As the steel industry collapsed in early 1980s, William Loeffler fought to keep afloat the family business, the galvanized steel company Hanlon-Gregory Industries in Lawrenceville, which treated the railings for Three Rivers Stadium.

That same weekend, a different kind of storm was battering New York City. Like many institutions (tổ chức) on Wall Street, Lehman Brothers was heavily leveraged and highly exposed to the faltering housing market. On September 10 the firm had announced its worst-ever financial loss, $3.9 billion in a single quarter. Confidence in Lehman vanished. Short-sellers, traders seeking to profit from declining stock prices, had helped drive Lehman stock from $16.20 to $3.65 per share. There was no way the firm could survive the weekend. The question was what role, if any, the government should play in keeping Lehman afloat.

Phạm Hạnh

Popular Now