Journey in Life: January 2013

Thursday, January 31, 2013

Giải pháp chống khủng hoảng nợ tồi tệ nhất mà một nước có thể nghĩ ra


Buôn bán nô lệ là trọng tâm trong kế hoạch của nước Anh để giải quyết các vấn đề tài khóa. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

Khi nước Mỹ lảo đảo (lurch) đi từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác để giải quyết vấn đề nợ dài hạn của mình, Quốc hội đã thảo luận một số ý tưởng tồi như giảm chi tiêu bừa bãi (indiscriminate) hay đúc đồng bạc platinum 1.000 tỉ USD. Nhiều nước còn áp dụng những cách tồi tệ hơn như phá giá đồng tiền hay tuyên bố vỡ nợ.

Nhưng không có nước nào có thể sánh với nước Anh về sự khéo léo hay đáng khinh (despicableness), khi giải quyết tai họa (woe) tài khóa của nước mình vào đầu những năm 1700. Khi phải đối diện với nợ quốc gia ngày càng phình to (ballooning), các nhà hoạch định chính sách nước Anh đã nghĩ ra kế hoạch hoán đổi cổ phiếu lấy nợ rất phức tạp kết hợp với thúc đẩy buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương (trans-Atlantic).

Nước Anh đã đi tiên phong trong hệ thống tài chính hiện đại trong những năm 1690, bằng việc thiết lập Ngân hàng Trung ương Anh (the Bank of England), hình thành đồng tiền tín dụng được lưu hành chung, thiết lập thị trường cổ phiếu và trái phiếu tinh vi (sophisticated), và áp dụng nợ công dài hạn được đảm bảo bởi tiền thu được từ thuế trong tương lai.

Hệ thống này đã đảm bảo cho nước Anh chiếm ưu thế (prevail) trong cuộc xung đột 20 năm với nước Pháp giàu tài nguyên và đông dân hơn. Nhưng vào năm 1710, nợ quốc gia của Anh đã vượt ngoài tầm kiểm soát và hệ thống tài chính mới đã căng đến quá giới hạn.

Tương tự như ngày này, khả năng của đảng cầm quyền còn giữ được quyền trị vì đất nước phụ thuộc vào khả năng lên kế hoạch tái cơ cấu mà sẽ làm hài lòng thị trường trái phiếu. Mấu chốt vấn đề là khôi phục lòng tin của các nhà đầu tư vào khả năng món nợ sẽ được hoàn trả (adequately serviced and eventually paid off).

Buôn bán nô lệ
Nhận thấy các biện pháp xoa dịu (palliatives) là không đủ, Bộ trưởng Robert Harley của Đảng Bảo thủ (Tory) đã thành lập công ty South Sea vào mùa xuân năm 1711. Công ty mới này được trao quyền hình thành vốn cổ phần 10 triệu bảng, sẽ được bán cổ phiếu ra công chúng để đổi lấy các trái phiếu chính phủ được chiết khấu cao không đảm bảo (deeply discounted unsecured government bonds) đang lưu hành. Để làm cho việc hoán đổi nợ thành cổ phiếu, từ công sang tư này trở nên hấp dn đối với những người giữ trái phiếu, Harley cam kết tiền thu được từ thuế trong tương lai sẽ được dùng để trả món nợ mà công ty gánh chịu (absorb). Và quan trọng hơn, ông trao cho công ty quyền độc quyền của nước Anh về cung cấp nô lệ châu Phi cho các thuộc địa Mỹ của Tây Ban Nha - một hợp đồng đạt được như là chiến lợi phẩm (spoil of victory) trong cuộc chiến tranh với nước Pháp.

Harley hi vọng rằng ước mơ của các nhà đầu tư về lợi nhuận lớn thu được từ buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương sẽ thuyết phục (entice) họ chấp nhận đổi trái phiếu lấy cổ phiếu trong công ty South Sea.

Tín dụng, như thường bị lãng quên, thật ra chẳng là gì hơn ngoài lòng tin (belief, confidence) và sự tưởng tượng. Nếu có số lượng đủ lớn số người tin rằng một lượng giá trị nhất định sẽ được sinh ra trong tương lai hay ở một nơi xa xôi nào đó, giá trị đó có thể được dùng ngày hôm nay, cho tiêu thụ hay đầu tư hoặc tái cơ cấu nợ. Chính khả năng chuyển giá trị xuyên thời gian và không gian này đã mang lại cho tín dụng vẻ thần kì của nó. Tất nhiên, cũng chính khả năng này khiến tín dụng trở nên mong manh (precarious) và khó tránh khỏi bị thao túng (subject to manipulation), dù với ý định tốt hay không.

Các đảng viên đảng bảo thủ của Harley và đảng Uých (Whig, tiền thân đảng Tự do) phe đối lập rõ ràng đã nhận thấy để kế hoạch công ty South Sea thành công, cần có một nhận thức thuận lợi về buôn bán nô lệ. Để định hướng dư luận theo ý mình, mỗi bên thuê một loạt các tác giả để viết sách, báo chí tuyên truyền. Trong khi những người được đảng Uých thuê tìm cách làm suy yếu niềm tin vào kế hoạch này, những dư luận viên được Harley thuê, bao gồm tiểu thuyết gia Daniel Defoe (tác giả Robin Crusoe trên đảo hoang) và Jonathan Swift (tác giả Gulliver du kí), ca tụng (extol) hiệu quả (virtue) và những hứa hẹn của kế hoạch.

Những bài báo tuyên truyền
Defoe đã viết một cách hân hoan (jubilantly) “Đề xuất của Bộ trưởng Harley, về việc thánh toán đủ các khoản nợ công quốc gia, và thành lập buôn bán với công ty South Sea, đã làm tràn đầy trái tim của các công dân tốt với niềm vui sướng.” Swift phụ họa thêm rằng sáng kiến của Bộ trưởng Harley, nếu được quản lý tốt, sẽ trở thành "sự khôi phục và thành lập tín dụng vĩ đại nhất của vương quốc". Không có gì đáng ngạc nhiên, khi c hai không nói gì đến tín dụng của nước Anh giờ đây sẽ dựa trên sự chết chóc và những thống khổ của các tù binh (captive) châu Phi. Và những bài báo tuyên truyền của họ đã thành công trong việc khiến lợi nhuận tương lai của buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương dường như trở nên vô hạn, đóng góp vào thành công của công ty South Sea trong việc khôi phục niềm tin vào hệ thống tài chính của quốc gia.

Vào năm 1715, các trái phiếu chính phủ một lần nữa lại được buôn bán ngang giá (at par) và Bộ Tài chính Anh (Exchequer) đã có thể vay nợ với lãi suất ưu đãi. Chế độ nô lệ, giờ có vẻ như không tương thích với tài chính, trên thực tế đã từng là trung tâm của sự sống còn của nó vào thời kì hình thành chủ nghĩa tư bản hiện đại.

(Carl Wennerlind là phó giáo sư lịch sử tại trường Barnard, Đại học Columbia. Gần đây, ông xuất bản cuốn "Những tổn thất của tín dụng: Cách mạng tài chính nước Anh, 1620-1720. "Casualties of Credit: The English Financial Revolution, 1620- 1720.")

Sơn Phạm
Bloomberg

Bài trước: Điều Facebook nên biết trước khi xây thị trấn công ty

Cha đẻ của tín dụng vi mô
Siêu cơ quan tài chính vi mô ở Thái Lan
Giải pháp chống khủng hoảng nợ tồi tệ nhất mà một nước có thể nghĩ ra
Chơi 'hụi' ở Ấn Độ

Thuế thu nhập âm

Mỗi khi chính phủ lựa chọn một hệ thống thu thuế nào đó, thì nó cũng ảnh hưởng đến phân phối thu nhập. Điều này thể hiện rất rõ trong trường hợp thuế thu nhập lũy tiến, trong đó những gia đình có thu nhập cao phải đóng góp tỷ lệ phần trăm thu nhập lớn hơn dưới dạng thuế so với những gia đình có thu nhập thấp. Sự bình đẳng giữa các nhóm thu nhập là một chỉ tiêu quan trọng trong việc thiết kế hệ thống thuế.

Nhiều nhà kinh tế đã ủng hộ trợ cấp thu nhập cho những người nghèo thông qua việc sử dụng một khoản thuế thu nhập âm. Theo chính sách này, các gia đình sẽ báo cáo thu nhập của mình với chính phủ. Những gia đình có thu nhập cao sẽ nộp một khoản thuế dựa trên thu nhập của họ. Những gia đình có thu nhập thấp sẽ nhận được một khoản trợ cấp. Nói cách khác, họ sẽ "nộp" một khoản "thuế âm".

Ví dụ, giả sử chính phủ sử dụng công thức sau để xác định nghĩa vụ nộp thuế của một hộ gia đình: 

Nghĩa vụ nộp thuế = (1/3 thu nhập) - 10.000 đôla

Trong trường hợp đó, một gia đình kiếm được 60.000 đôla phải nộp 10.000 đôla tiền thuế, còn gia đình kiếm được 90.000 đôla sẽ phải nộp 20.000 đôla tiền thuế. Một gia đình kiếm được 30.000 đôla sẽ không phải nộp một khoản thuế nào. Và một gia đình kiếm được 15.000 đôla sẽ "nợ" -5.000 đôla tiền thuế. Hay nói cách khác, chính phủ sẽ gửi cho gia đình này tấm séc trị giá 5.000 đôla.

Với thuế âm, những gia đình nghèo sẽ nhận được sự giúp đỡ tài chính mà không phải chứng minh sự nghèo khổ. Tiêu chuẩn duy nhất để nhận được sự trợ giúp này là thu nhập thấp. Tùy theo quan điểm của từng người, thuộc tính này có thể là ưu điểm hay nhược điểm. Một mặt, thuế thu nhập âm không khuyến khích việc sinh con bất hợp pháp và chia lìa gia đình như những người phê phán hệ thống phúc lợi chỉ trích. Mặt khác, thuế thu nhập âm lại trợ cấp cho những người lười biếng và, trong con mắt của một số người, họ không xứng đáng nhận được trợ cấp của chính phủ.

Một điều khoản thuế trong thực tế vận hành giống như thuế thu nhập âm là miễn thuế thu nhập kiếm được. Khoản miễn thuế này cho phép người nghèo nhận được một khoản hoàn trả thuế thu nhập lớn hơn so với khoản thuế mà họ đã nộp trong năm đó. Do điều khoản miễn thuế thu nhập kiếm được chỉ áp dụng cho những lao động nghèo, nên nó không làm giảm động cơ lao động của người nghèo như các chương trình chống nghèo khổ khác đã bị phê phán. Tuy nhiên, cũng vì lý do đó nó đã không giúp loại bỏ được tình trạng nghèo khổ do thất nghiệp, ốm đau hoặc không có khả năng lao động.

Mặc cảm

Trong xã hội văn minh ngày nay, tất cả máy móc, cơ khí, điện tử đều được điều khiển bởi chương trình tự động. Nhất là hệ thống vi tính (computer), nếu bạn muốn máy vi tính của bạn chạy được thì phải gắn những chương trình (programmes, logiciels, software) vào. Tâm ý của chúng ta cũng giống như vậy, sau khi được bỏ vào hay gắn vào những vọng tưởng, quan niệm, thành kiến, tập quán, v.v... nó cũng hoạt động theo chương trình mà ta đã thiết lập (một cách vô ý thức). Tâm ý hoạt động theo chương trình là sao? Đó là mỗi khi gặp một ngoại cảnh hay sự việc gì (input) nó liền cho ra một phản ứng (output) tự động khiến ta không kịp suy nghĩ hoặc suy nghĩ không ra.

Hồi nhỏ đi học ở Việt Nam tôi rất sợ bị kêu lên trả bài, vì mỗi khi trả bài không thuộc tôi bị thầy giáo tát hoặc cô giáo nhéo lỗ tai và chửi: "Sao ngu quá vậy"! Trong gia đình thì tôi không bao giờ được quyền nói lên ý kiến của mình, vì ông bà, cha mẹ, cô chú thường nói: "Con nít tụi bay im đi, biết cái gì mà nói". Qua những dữ kiện trên, tâm trí tôi lặng lẽ thiết lập một chương trình: "Tôi là người ngu, im đi, biết cái gì mà nói, nói bậy sẽ bị ăn đòn". Lớn lên tuy đã tốt nghiệp kỹ sư và đi làm lâu năm nên tôi biết rõ công việc của mình, nhưng mỗi khi phải đi họp (réunion, meeting) trong sở thì tôi rất sợ, tim đập mạnh, đầu óc tê cứng, tay chân lạnh ngắt, lúc đó tôi giống như một tù nhân sắp bị đưa ra pháp trường. Trong sở làm, từ chủ hãng cho đến nhân viên, ai nấy đều quý mến tôi vì tôi làm việc tốt và chăm chỉ, lúc nào cũng đối xử đàng hoàng lịch sự với mọi người, nhưng không hiểu tại sao đến các buổi họp là tôi sợ hãi, mặc dù biết sợ như vậy là vô lý làm tôi ăn nói vụng về. Nguyên nhân gây ra sợ hãi chính là cái chương trình cũ (old program) mà tôi đã đưa vào tâm mình năm xưa ở tiểu học, mỗi khi bị đứng ra trước một nhóm người để nói thì chương trình này nhảy ra hoạt động, nó nói: "Tôi là người ngu, im đi, biết cái gì mà nói, nói bậy sẽ bị người ta chửi".

Hồi cô Tám được ba tuổi, cha cô phải đi quân dịch và tử trận bỏ lại hai mẹ con cô bơ vơ. Vài năm sau mẹ cô mắc bệnh qua đời bỏ cô ở lại cho bà ngoại nuôi nấng. Lúc đó tuy hãy còn nhỏ không biết suy nghĩ nhiều nhưng trong tiềm thức bé Tám đã âm thầm đưa vào (set up) một chương trình: "Tôi là người bị bỏ rơi, những người tôi thương trước sau gì cũng bỏ rơi tôi"! Lớn lên lập gia đình, cô không dám lấy người cô thương mà lại lấy một người khác vì sợ nếu lấy người đó thì họ sẽ bỏ cô. Vì lấy chồng mà không thương nên cô không có hạnh phúc, thường buồn bực và bất mãn. Bởi gia đình không hạnh phúc nên cô hay lo sợ là chồng sẽ bỏ cô. Đúng như cô dự đoán mong chờ, sau hai chục năm chung sống chồng cô đã bỏ đi cưới người khác. Tuy không thương yêu gì chồng nhưng cô cảm thấy rất đau khổ, cái chương trình "bị bỏ rơi" lại hiện hành làm cô khóc suốt ngày, người ngoài tưởng cô nhớ chồng nhưng thật ra cô khóc cho thân phận "bị bỏ rơi". Cô Tám có năm đứa con, ba đứa đã lập gia đình, cứ mỗi lần làm đám cưới cho con, bên ngoài cô tỏ vẻ vui mừng nhưng trong lòng đau như cắt vì cảm thấy lại "bị bỏ rơi nữa". Hai đứa còn lại đang ở với cô vì còn đi học và sắp ra trường. Cô rất mong con cái học thành tài nhưng trong thâm tâm cô nơm nớp lo sợ học xong chúng nó sẽ ra ở riêng và cô sẽ sống cô đơn. Mấy đứa lớn tuy đã lập gia đình nhưng ở gần và hàng tuần đều ghé thăm mẹ nhưng cô không thấy được sự hiếu thảo đó mà tiếp tục sống trong hồi hộp lo âu sợ "bị bỏ rơi".

Chúng ta thường sống với những chương trình cũ rích không hợp thời hợp thế, chúng làm ta mắc kẹt không sống an vui hạnh phúc được trong hiện tại.

Tất cả những mặc cảm như tự ti, tự tôn, tội lỗi, v.v... đều là những chương trình nằm sâu trong tiềm thức. Mặc có nghĩa là thầm lặng, cảm là cảm nhận, mặc cảm là sự cảm nhận âm thầm lặng lẽ trong tâm thức. Mặc cảm tự ti (complexe d'infériorité) là âm thầm cảm nhận, cho rằng mình là người ngu, dở, thua kém kẻ khác. Vì bị chương trình tự ti điều khiển nên ta trở thành nhút nhát, sợ hãi, mắc cỡ. Càng nhút nhát, sợ hãi, mắc c thì ta lại càng tự ti, càng thấy mình dở và thua kém. Mặc cảm tự tôn (complexe de supériorité) là âm thầm cho mình là người tài giỏi hơn kẻ khác. Vì bị chương trình tự tôn điều khiển nên ta dễ kiêu mạn, ăn nói phách lối, khinh người. Mặc cảm tội lỗi (culpabilité) là âm thầm cho mình có tội, mỗi khi gặp chuyện không may, dù lớn dù nhỏ xảy ra đều ăn năn hối hận tự trách lỗi tại mình nên mới ra nông nỗi như vậy. Người này thường bị ăn năn hối hận dày vò, sống trong hồi hộp, sợ hãi, sợ bị trừng phạt.

Những mặc cảm này, xem ra có vẻ không nguy hiểm vì không làm hại người khác một cách trực tiếp, nhưng chúng cũng là một loại phiền não vì làm ta khổ sở. Nếu khổ sở, không hạnh phúc thì từ từ ta sẽ ảnh hưởng đến những người xung quanh như vợ chồng, con cháu, cha mẹ, anh em và làm họ khổ lây.

Bài trước: Khổ

"Checkmate" nghĩa là gì?

Anh chàng người Mỹ Matt Gone xăm toàn thân 'tạo dáng' tại lễ khai mạc lễ hội xăm mình 5 ngày ở Venezuela. Ảnh: Juan Barreto.

'Checkmate' (chiếu tướng hết cờ) là từ bạn nói trong môn cờ vua khi bạn tấn công vua của đối phương mà vua không còn nước nào để đi nữa, có nghĩa là bạn thắng ván cờ. Từ này giờ đây được dùng trong các bối cảnh khác nghĩa là 'chiến thắng toàn diện'.

Ví dụ
The rebels surrounded the president's palace. He had no option but to agree to their demands: it was checkmate.
Unless we make some serious changes around this business our competition will catch up and it will be checkmate.
It can also be used as a verb:
Garry Kasparov checkmated the chess computer after a fine series of moves.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với 'stalemate' (bế tắc) mô tả tình huống trái ngược với 'checkmate', cũng ở trong môn cờ vua, khi không có nước nào khả thi.

I could only afford £150,000 for the house but the seller would go no lower than £155,000. We reached a stalemate and called the deal off.

Thực tế thú vị:
Các khuôn hình (pattern) của những hình vuông màu đen và trắng trên bàn cờ được gọi là 'chequered' trong tiếng Anh Anh và 'checkered' trong tiếng Anh Mỹ. Bản thân các hình vuông được gọi là 'cheques' hay 'checks' tương ứng. Tuy nhiên động từ "to check" (chiếu tướng) được viết giống nhau ở cả hai nơi.

Lead and They Will Follow


A Leader is one who can bring people to places where they would not have gone by themselves.

Transform_Jan 31


Faith is like electricity. You can't see it, but you can see the light.
- Author Unknown
Assignment: Today, acknowledge that you are seeing the light.

Wednesday, January 30, 2013

Kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân ở Nhật Bản

...
Vào cuối thập niên 1950 ở Nhật Bản, xuất hiện mẫu người lãnh đạo lý tưởng (nhà chính trị có văn hóa, có đạo đức và tỏ ra có bản lãnh, có lý tưởng vì đất nước) và trí thức, trí tuệ của xã hội đã cùng với người đó làm nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử thế giới: Chỉ trong 10 năm đã biến một nước có thu nhập trung bình và mới vừa phục hồi sau chiến tranh trở thành một nước có thu nhập cao, thay đổi hẳn đời sống của đại đa số dân chúng và sánh vai với các cường quốc kinh tế trên thế giới. Tình hình chính trị, xã hội ở Nhật vào nửa sau thập niên 1950 rất phức tạp vì bất đồng trong dư luận và giữa các chính đảng liên quan đến chính sách ngoại giao với Mỹ.
Ikeda Hayato và John Kennedy (trái)
Về kinh tế, năm 1956 đánh dấu sự thành công của nỗ lực phục hưng hậu chiến. Mức sản xuất đã khôi phục lại mức cao nhất thời tiền chiến. Nhưng cũng trong bối cảnh đó xảy ra tranh luận sôi nổi về hướng phát triển sắp tới. Chưa có ai vẽ ra được viễn ảnh và đưa ra chiến lược có sức thuyết phục.

Trong tình hình dân chúng đang mệt mỏi vì không khí chính trị, xã hội căng thẳng, và không có viễn ảnh về tương lai kinh tế, một chính trị gia kiệt xuất đã xuất hiện. Đó là Ikeda Hayato (1899-1965). Ikeda nguyên là quan chức Bộ Tài chính, làm đến chức thứ trưởng thì ứng cử vào hạ viện. Trong lúc tham gia nội các, giữ các chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Công thương, ông đã quyết chí ứng cử vào chức đảng trưởng đảng cầm quyền LDP (đồng thời là thủ tướng) để thực hiện giấc mơ đưa nước Nhật lên ngang hàng với các nước tiên tiến Âu Mỹ.

Ikeda nguyên là một quan chức mẫu mực, một lãnh đạo chính trị đức độ, thanh liêm. Lúc làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đầu thập niên 1950, ông dẫn đầu một phái đoàn công du sang Mỹ. Trong tình trạng ngân sách nhà nước hạn hẹp, ông đã tiết kiệm kinh phí đến mức chỉ thuê khách sạn ba sao và hai ba người (kể cả Bộ trưởng) ở chung một phòng. Ban ngày đoàn của ông đi làm việc với chính phủ Mỹ, buổi tối mọi người tập trung tại phòng ông để kiểm điểm công việc trong ngày và bàn nội dung làm việc cho ngày hôm sau. Khách sạn nhỏ nên phòng không có bàn, mọi người phải ngồi bệt trên sàn bàn công việc.

Cùng với đức độ và tinh thần trách nhiệm mà nhiều người đã biết, Ikeda đã được dư luận nhất là giới trí thức đánh giá cao qua những phát biểu về nhiệm vụ của người làm chính trị, về phương châm phát triển đất nước mà ông sẽ thực thi nếu được làm thủ tướng. Có mấy điểm đáng chú ý. Thứ nhất, ông cho rằng giai đoạn sắp tới phải là thời đại kinh tế, Nhật phải tận dụng tiềm năng về nguồn nhân lực của mình và hoàn cảnh thuận lợi của thế giới để vươn lên hàng các nước tiên tiến. Thứ hai, triết lý chính trị là vì dân, vì cuộc sống của dân chúng nên mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là phải tăng thu nhập của toàn dân và mở rộng mạng an sinh xã hội để giúp người không theo kịp đà phát triển chung.

Nhưng nguyện vọng, quyết tâm của nhà chính trị phải được cụ thể hóa bằng chiến lược, chính sách, trước mắt là được đồng tình của dân chúng, tiếp theo là phải được thực hiện có hiệu quả. Lúc này Ikeda cần đến trí thức.

Đang suy nghĩ tìm kiếm một ý tưởng chủ đạo của chiến lược phát triển đất nước, Ikeda đọc được bài viết "Luận về khả năng bội tăng tiền lương" của giáo sư kinh tế Nakayama Ichiro đăng trên báo Yomiuri. Trong bài viết đó, Nakayama bàn về khả năng cũng như điều kiện để tăng gấp đôi tiền lương thực chất, cải thiện hẳn mức sống của dân chúng.

Theo gợi ý của giáo sư Nakayama, Ikeda thai nghén một chiến lược phát triển gọi là "Bội tăng thu nhập quốc dân" và lập ra một nhóm bảy người gồm các trí thức tên tuổi và các quan chức, các cộng sự tài giỏi để triển khai cụ thể chiến lược này. Đặc biệt trong số này có Shimomura Osamu (1910-1989), nhà kinh tế vừa giỏi lý luận vừa hiểu thực tiễn và có năng lực hình thành các chính sách cụ thể.

Lúc đó ở Nhật đang có tranh luận sôi nổi về hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Ý kiến chủ đạo lúc đó là trong giai đoạn phục hưng hậu chiến vừa qua, kinh tế Nhật phát triển khá cao (trung bình độ 8%/năm) vì khởi điểm quá thấp, trong giai đoạn tới tốc độ phát triển chỉ có thể bằng mức cao nhất thời tiền chiến (độ 4%) hoặc hơn một chút (5%). Chủ trương của Shimomura thì khác. Ông cho rằng Nhật đã qua thời hỗn loạn hậu chiến, hiện nay tiết kiệm trong dân đang tăng, đất nước đang mở cửa hội nhập với thế giới nên công nghệ nước ngoài sẽ được du nhập dễ dàng; đó là hai tiền đề để đầu tư tích lũy tư bản. Đầu tư có hai hiệu quả là vừa tăng tổng cầu vừa tăng khả năng cung cấp (sản xuất) của nền kinh tế. Do đó có thể nói kinh tế Nhật đang bước vào thời đại bột phát mạnh mẽ. Thời phục hưng hậu chiến phát triển 8% nên thời đại mới ít nhất phải là 10%. Ngoài giải thích về mặt lý luận, Shimomura còn dẫn chứng bằng các kết quả tính toán chi tiết nên rất có sức thuyết phục. Trợ lý cho Shimomura là hai chuyên viên trẻ, hồi đó chưa có máy tính nên việc tính toán rất mất thì giờ. Trong nhóm bảy người còn có các nhà kinh tế nổi tiếng khác như Inaba Shuzo, Takahashi Kamekichi, và một quan chức tài giỏi là Miyazawa Kiichi (sau này cũng làm thủ tướng). Ikeda trực tiếp tham dự nhiều buổi họp thâu đêm của nhóm này.
Tượng của Ikeda Hayato tại Hiroshima
Được nhóm chuyên viên, trí thức triển khai về mặt lý luận và các chính sách cụ thể, Ikeda tự tin và đã quyết định lấy Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân làm cam kết chính trị trong cuộc tranh cử vào vị trí chủ tịch đảng. Ikeda thắng cử và trở thành thủ tướng vào tháng 7 năm 1960.

Cốt lõi của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân là toàn dụng lao động, làm cho dân chúng thấy cuộc sống được cải thiện rõ rệt. Phương châm cơ bản là tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tích cực đầu tư. Công việc của chính phủ chỉ là cố gắng tiết kiệm công quỹ để có thể giảm thuế nhằm kích thích đầu tư, đầu tư xây dựng hạ tầng, và bảo đảm an sinh xã hội. Phát triển là công nghiệp hóa, là phát triển ngành dịch vụ nên lao động phải chuyển dần từ nông nghiệp sang các khu vực phi nông. Do đó Ikeda đã nhấn mạnh phải ra sức giáo dục bậc cao đẳng và hướng nghiệp để quá trình chuyển dịch lao động không bị gián đoạn. Mặc dù Shimomura chủ trương phát triển mỗi năm 10% (thu nhập quốc dân sẽ gấp đôi trong bảy năm), nhưng để dung hòa với nhiều ý kiến khác, trong kế hoạch được công bố, kinh tế sẽ tăng trưởng độ 7,2% và thu nhập quốc dân tăng gấp đôi trong 10 năm (1960-1970).

Khi nhậm chức thủ tướng, ngoài bài phát biểu về kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân, Ikeda còn tuyên bố nhiều ý tưởng được sự đồng tình của dân chúng. Chẳng hạn, "Làm chính trị là nâng cao mức sống của dân chúng. Phát triển kinh tế phải trên tiêu chuẩn tăng thu nhập toàn dân, làm cho mọi người dân cảm nhận thực sự là kinh tế đang phát triển", hoặc "Chính trị mà để người nghèo không được đi học là chính trị tồi".

Ikeda đã thổi vào xã hội một không khí phấn chấn, tin tưởng vào tương lai. Doanh nghiệp tích cực đầu tư, mọi người hăng hái làm việc. Trong bối cảnh đó, đúng như dự đoán của Shimomura, kinh tế phát triển trên 10%, chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân đạt được mục tiêu chỉ trong bảy năm, thay vì 10 năm như kế hoạch ban đầu. Theo giá thực tế năm 2000, tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Nhật vào năm 1960 là 7.700 USD, đến năm 1970 tăng lên 16.600 USD. Mức chi tiêu của một gia đình giới lao động vào năm 1960 trung bình mỗi tháng là 32.000 yen, đến năm 1970 đã tăng lên 83.000 yen. Lương tháng của công nhân trong ngành công nghiệp đã tăng từ 23.000 yen năm 1960 lên 72.000 yen năm 1970. Trừ đi độ trượt giá mỗi năm vài phần trăm, trên thực chất thu nhập của giới lao động đã tăng gấp đôi hoặc hơn. Ngoài ra, số lao động có việc làm tăng nhiều hơn so với kế hoạch và số giờ làm việc mỗi tháng của giới lao động giảm từ 203 giờ còn 187 giờ. Thập niên 1960 cũng là giai đoạn người Nhật chứng kiến nhà nhà có tủ lạnh, quạt máy, máy giặt, TV,…

Ikeda bị bệnh và mất sớm (năm 1965), lúc đương tại chức thủ tướng. Ông không sống đến hết giai đoạn của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân, nhưng đã chứng kiến những thành tựu bước đầu, cụ thể là ba sự kiện xảy ra trong năm 1964: Tổ chức Olympic Tokyo thành công, khai trương đường sắt cao tốc (Shinkansen) Tokyo-Osaka và Nhật trở thành thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), một tổ chức của các nước tiên tiến.

Nhà chính trị Ikeda Hayato và nhóm trí thức cộng tác với ông đã biến giấc mơ của mình thành giấc mơ của toàn xã hội. Họ là những người hiểu được nguyện vọng của người dân và quyết chí đáp ứng bằng trí tuệ và tâm huyết của mình.

Tokyo, Xuân Quý Tỵ 2013
Trần Văn Thọ

Thách thức của ngoại giao trong kỉ nguyên mới


Cựu ngoại trưởng Hilary Clinton (trong 4 năm đã đi hàng triệu cây số, tới thăm 112 nước) đã có buổi 'exit interview' với đài NBC, ngoài nhiều vấn đề, có nói đến 'thử tưởng tượng làm sao có thể như Kissinger hơn 40 năm trước "sneak off" (lén lút) đi Bắc Kinh được khi thế giới hiện nay có điện thoại di động, twitter, facebook, web, everything else...'
-------
Đọc thêm đoạn kể về chuyến đi của Kissinger ở Wikipedia:

Ngày 27 tháng 4/1971, Đại sứ Pakistan chuyển cho Henry Kissinger 1 thông điệp của Chu cho biết "Chính phủ Trung Quốc xác nhận lại sự sẵn sàng đón tiếp công khai ở Bắc Kinh 1 phái viên đặc biệt của Tổng thống Mỹ hoặc Ngoại trưởng hoặc thậm chí bản thân Tổng thống Mỹ".

Để dọn đường cho chuyến thăm chính thức của Tổng thống Nixon, Kissinger mau chóng thu xếp 1 chuyến đi tiền trạm bí mật sang Bắc Kinh nhằm chuẩn bị chương trình và trao đổi quan điểm về tất cả các vấn đề 2 bên quan tâm. Ngày 2 tháng 6, Chu Ân Lai chính thức chấp nhận đề xuất của Mỹ và không lâu sau đó, phi cơ chở Kissinger cất cánh ngày 1/7 năm 1971.

Trạm dừng đầu tiên của Kissinger là Nam Việt Nam và sau đó là Ấn Độ trước khi tới Pakistan ngày 8/7. Tại đây, ông cáo bệnh và lui về nơi nghỉ mát của Tổng thống Pakistan Yahya Khan rồi sau đó lại lén chuồn lên phi cơ của Pakistan và bay thẳng đi Bắc Kinh.

Trong hai ngày rưỡi, ông tiến hành các cuộc họp với Chu Ân Lai và các quan chức cao cấp khác của Trung Quốc. Kissinger cho rằng Chu là "một trong hai hay ba người đầy ấn tượng nhất mà tôi đã từng gặp. Lịch sự, kiên nhẫn một cách dứt khoát, thông minh một cách khác thường, tế nhị, ông ta đã tiến hành các cuộc thảo luận với 1 vẻ uyển chuyển, nhẹ nhàng thấm sâu vào thực chất mối quan hệ mới của chúng tôi."

Cuối cùng, 2 bên trao đổi quan điểm về tất cả các vấn đề nổi bật và ấn định cho cuộc họp cấp cao giữa Nixon và bộ đôi Mao-Chu là năm 1972. Khi rời Bắc Kinh, đánh điện về Mỹ ông Kissinger chỉ ghi 1 chữ duy nhất "Eureka"...

Hồi ký Hillary Clinton

Phúc lợi

Một biện pháp nhằm làm tăng mức sống của người nghèo là chính phủ hỗ trợ cho thu nhập của họ. Cách cơ bản mà chính phủ thường làm là thông qua hệ thống phúc lợi. Phúc lợi là thuật ngữ rộng phản ánh nhiều chương trình khác nhau của chính phủ. Chương trình trợ giúp tạm thời cho các hộ gia đình nghèo (trước đây được gọi là Chương trình trợ giúp những gia đình có trẻ em sống phụ thuộc) là một chương trình nhằm giúp đỡ các gia đình có trẻ em, nhưng không có người lớn có khả năng nuôi sống gia đình. Những gia đình điển hình nhận được loại trợ cấp này thường là không có bố, còn mẹ ở nhà nuôi con nhỏ. Một chương trình phúc lợi khác là phụ cấp an sinh thu nhập (SSI), nhằm trợ giúp những gia đình nghèo ốm đau hoặc tật nguyền. Chú ý rằng trong cả hai chương trình phúc lợi này, một cá nhân nghèo chỉ với thu nhập thấp thì không đủ tiêu chuẩn để được trợ cấp. Cá nhân đó phải chứng minh được rằng anh ta còn có những "tiêu chuẩn" khác, ví dụ có con nhỏ hoặc bị tật nguyền.

Một phê phán phổ biến đối với các chương trình phúc lợi là chúng tạo ra động cơ để mọi người trở nên "túng bấn". Ví dụ, những chương trình đó có thể khuyến khích các gia đình chia lìa nhau, bởi vì nhiều gia đình chỉ đủ tiêu chuẩn nhận được trợ cấp nếu không có ông bố. Chúng cũng có thể khuyến khích việc sinh đẻ không hợp pháp, bởi vì nhiều phụ nữ nghèo chỉ đủ tiêu chuẩn nhận được trợ cấp khi họ có con. Do những bà mẹ nghèo, sống cô độc là một phần quan trọng của vấn đề nghèo khổ và do các chương trình phúc lợi có vẻ như làm tăng số bà mẹ nghèo, sống đơn độc, nên những người chỉ trích hệ thống phúc lợi khẳng định rằng các chính sách đó làm trầm trọng thêm căn bệnh mà chúng định cứu chữa. Do những lập luận như vậy, cuối cùng hệ thống phúc lợi đã được sửa đổi trong một đạo luật vào năm 1996 quy định khoảng thời gian giới hạn có thể nhận trợ cấp của các cá nhân.

Những vấn đề tiềm ẩn nêu trên nghiêm trọng đến mức nào đối với hệ thống phúc lợi? Không một ai biết chắc được điều này. Những người đề xuất hệ thống phúc lợi chỉ ra rằng việc trở thành những bà mẹ nghèo sống cô độc là một hiện thức khó khăn, và họ không tin rằng nhiều người có động cơ để theo đuổi một cuộc sống như vậy. Hơn nữa, những xu hướng qua thời gian đã không ủng hộ cho quan điểm cho rằng sự giảm sút số gia đình có đầy đủ bố mẹ phần lớn chính là triệu chứng của hệ thống phúc lợi, như những người phê phán hệ thống này thỉnh thoảng chỉ trích. Từ đầu những năm 1970, trợ cấp phúc lợi (đã loại trừ lạm phát) đã giảm, song phần trăm số trẻ em sống chỉ với bố hoặc mẹ lại tăng.

Ba cái lọc

Một hôm có một người đến gặp Socrate và nói:

- Này Socrate, tôi phải kể cho anh nghe bạn của anh đã có những hành vi gì!

- Khoan đã! Nhà hiền triết cản lại. Điều mà anh muốn nói với tôi đã được sàng qua ba cái lọc chưa?

- Ba cái lọc là cái gì? Người kia ngạc nhiên hỏi.

- Đúng! Ba cái lọc. Chúng ta hãy kiểm lại xem điều anh muốn kể cho tôi có lọt qua ba cái lọc này không.

- Cái lọc thứ nhất là sự thật. Anh đã kiểm lại điều anh muốn kể có đúng là sự thật không?

- Ơ! Cái này tôi không chắc, vì tôi chỉ nghe kể lại thôi.

- Như vậy thì không lọt qua được cái lọc thứ nhất rồi! Nhưng thôi, anh nghe đây, cái lọc thứ hai là tốt lành. Anh đã kiểm lại điều anh muốn kể, mặc dù không hoàn toàn đúng sự thật nhưng ít nhất nó có tốt lành không?

- Ơ! Ơ! Điều này không có gì hay ho tốt lành cả mà ngược lại ...

- Hừ! Vậy coi thử nó có lọt qua được cái lọc cuối này hay không? Điều anh muốn kể cho tôi có đem lại lợi ích gì không?

- Lợi ích hả? Chắc không quá ....!!!!

- Thôi đủ rồi! Socrate mỉm cười. Điều mà anh muốn kể cho tôi nghe vừa không đúng sự thật, vừa không tốt lành và không đem lại lợi ích gì. Vậy thì tôi không muốn nghe và khuyên anh hãy nên quên nó đi là tốt nhất!

Bài trước:  Là cà rốt, trứng hay cà phê?

Lý lẽ của con tim

Con tim có những lý do của nó mà lý trí không thể biết được.
(le coeur a ses raisons que la raison ne connait point, Blaise Pascal)

How bad do you want it?


When you want to succeed as bad as you want to breath, then you will be successful.
~Eric Thomas


“People often say that motivation does not last. Well, neither does bathing – that is why we recommend it daily.“

from Mr Chan Wei Siang's letter to his trainees in the intermediate course on Private Sector Development & FDI attraction (21-25 Jan, 2013 @VSTC)

"Too close for comfort" nghĩa là gì?

"Pet" emu at the Cottonwood Inn, Arroyo Seco, New Mexico. Photo courtesy Sheila Sund.

'Too close for comfort' có một từ mới là comfort nghĩa là sự thoải mái, dễ chịu. Thành ngữ này có nghĩa là gần sát một cách nguy hiểm.

Ví dụ
“I should have been more careful (thận trọng). Driving home I was answering a phone call. I had only looked away from the road for a couple of seconds. But when I looked up, the car ahead of me had stopped abruptly (bất ngờ). That was too close for comfort. I barely missed (chút xíu nữa) plowing into (lao vào) him.”

“I’ll never skip school (trốn học) again. When I stopped at a restaurant for lunch I saw the assistant principal sitting across from me. Luckily, I managed to slip out the door without being noticed. The risk (nguy cơ) of getting caught (bị bắt quả tang) was too close for comfort. I learned my lesson.”


Huyền Trang
VOA

Bài trước: "Turn up the Heat" nghĩa là gì?

Du học tiếng Nhật tại Nhật Bản


Bạn đang có ý định lên đường du học để chắp cánh cho ước mơ tri thức của mình, đến một đất nước hoàn toàn mới chưa một lần đặt chân " Nhật Bản - Đất nước hoa anh đào", nhưng còn băn khoăn chưa biết bắt đầu tư đâu? Hãy thử ghé qua Go! Go! Nihon.

Chỉ bắt đầu với một tên miền đơn giản và website, Go! Go! Nihon đã trở thành một doanh nghiệp cực kì thành công, tạo cơ hội cho sinh viên khắp thế giới du học ở Nhật Bản.

Đăng kí du học tiếng Nhật, bạn có cơ hội nhận được visa dài hạn, nhiều thời gian để học ngoại ngữ, văn hóa và gặp rất nhiều người thú vị. Vấn đề khó khăn là khi bạn tìm kiếm trên mạng, sẽ không có nhiều thông tin cụ thể, hay rất phức tạp, hoặc chẳng có ý nghĩa gì cả. Những câu hỏi đơn giản như: có những trường nào, trường nào tốt, làm thế nào để có visa sinh viên, điền thủ tục như nào, nếu tôi điền sai thì làm sao v.v... 

Go! Go! Nihon cung cấp dịch vụ dễ hiểu và thân thiện giúp cho những ai muốn trải nghiệm Nhật Bản sâu sắc hơn là một chuyến du lịch thông thường. Vào trang web, bạn  có cơ hội nhìn giới thiệu về các trường mà Go! Go! Nihon là đối tác, thậm chí có cả các video giới thiệu. Go! Go! Nihon giúp bạn các thủ tục cá nhân, đăng kí trường học, hồ sơ visa và các chuẩn bị cần thiết. Và trên hết là, tất cả đều... FREE (miễn phí).

Xem video giới thiệu dưới đây, và ghé thăm Go! Go! Nihon nhé.

Stop Making Assumptions


Photo: tinybuddha

"Joy is what happens to us when we allow ourselves to recognize how good things really are." 
~Marianne Williamson

Vịnh cái bàn là

Ðầu nhọn mình thuôn khéo khéo là
Cắm vào nóng bỏng tấm thân ta
Lớn bé trắng đen đè tất tật
Dụi vào ngoáy ngoáy lại bỏ ra
Kẻ không "ủi " được , lòng đau khổ
Người được "là" ngay , sướng bỏ bà!
Khen ai nắm được hai … bàn ủi
Cái đẩy , cái đè sướng thấy cha!

He he…!!!!

Hồ Thơm

Tuesday, January 29, 2013

Hiệu ứng Streisand

Tòa nhà ở Malibu của Streisand là nguyên nhân đặt tên 

cho hiệu ứng.
Hiệu ứng Streisand là hiện tượng trong đó một nỗ lực để ẩn hay loại bỏ một thông tin nào đó lại có hậu quả không lường trước (unintended consequence) làm cho thông tin đó trở nên phổ biến hơn, thường do nhờ có internet.

Thuật ngữ này được đặt tên sau khi nghệ sĩ Mỹ Barbra Streisand trong năm 2003 nỗ lực ngăn chặn các hình ảnh về nơi ở của mình vô tình làm cho mọi người thêm tò mò và tìm kiếm nhiều hơn.

Mike Masnick của Techdirt đặt ra thuật ngữ này sau khi Streisand thất bại trong việc kiện nhiếp ảnh gia Kenneth Adelman và Pictopia.com về hành vi vi phạm sự riêng tư (violation of privacy). Vụ kiện 50 triệu USD cố gắng (endeavored) để loại bỏ một bức ảnh trên không của biệt thự Streisand từ bộ sưu tập 12.000 bức ảnh bờ biển California được công bố công khai. Adelman kiên quyết cho rằng ông đã chụp ảnh các tòa nhà trên bờ biển để làm tài liệu về xói mòn ven biển như một phần của dự án lập hồ sơ ven biển California (California Coastal Records Project) của Chính phủ. Trước khi Streisand đã đệ đơn vụ kiện của mình, "Hình ảnh 3850" được tải về từ trang web của Adelman chỉ có sáu lần, hai lần trong số đó là từ luật sư của Streisand. Tuy nhiên, từ vụ kiện, công chúng càng biết về bức ảnh nhiều hơn, lên tới hơn 420.000 người truy cập trang web của Adelman trong tháng tiếp theo.

Bạn đọc ở Việt Nam hẳn còn nhớ sự kiện gần đây, khi có lệnh cấm đọc một trang web nào đó thì khiến số views của trang đó tăng đột biến, khiến trang web trở nên 'hot' hơn, đó chính là do hiệu ứng Streisand này vậy, Việt Nam mình có câu là 'càng cấm càng đọc', và 'muốn tin tức gì được phổ biến nhanh nhất chỉ cần... đóng dấu MẬT lên đó'.

Sơn Phạm
Wikipedia English

Hiệu ứng rắn hổ mang

Hiệu ứng rắn hổ mang bắt nguồn từ một giai thoại trong thời kì cai trị của Anh ở thuộc địa Ấn Độ. Chính phủ Anh lo ngại về số lượng lớn loài rắn hổ mang có nọc độc ở Delhi. Do đó, Chính phủ đã trao giải thưởng (bounty) cho mỗi con rắn hổ mang chết. Ban đầu đây là một chiến lược thành công khi một số lượng lớn rắn bị giết để lấy phần thưởng. Tuy nhiên, sau đó, những người có đầu óc kinh doanh (enterprising) bắt đầu nuôi rắn hổ mang để lấy thu nhập. Khi Chính phủ biết được điều này, chương trình phần thưởng đã bị hủy bỏ (scrapped), khiến các nhà nuôi rắn hổ mang thả những con rắn giờ trở nên vô giá trị tự do ra ngoài môi trường. Hậu quả là, số rắn hổ mang hoang dã lại tăng thêm hơn nữa. Giải pháp hiển nhiên cho vấn đề này cuối cùng đã làm cho tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn.

Mới đọc đến đây, bạn có lẽ buồn cười dân Ấn Độ thật là 'cú cáo' :). Nhưng xin bạn đừng cười vội, và đọc trường hợp sau: một sự cố tương tự đã xảy ra tại... Hà Nội, Việt Nam vào thời Pháp thuộc. Chế độ thực dân đã tạo ra một chương trình trả tiền thưởng cho mỗi con chuột bị giết. Để có được tiền thưởng, mọi người sẽ phải nộp đuôi chuột bị cắt đứt để làm bằng chứng. Tuy nhiên, các quan chức thuộc địa, bắt đầu nhận thấy xuất hiện... chuột không đuôi ở Hà Nội. Thì ra, là người dân Việt Nam hồi đó đã bắt chuột, cắt bỏ đuôi, và sau đó lại thả chúng trở lại vào hệ thống cống rãnh (sewers), hay có khi nuôi lén lút trong nhà, để chúng có thể sinh sản và thêm nhiều chuột hơn, do đó tăng doanh thu từ việc bắt chuột.

Các bạn thấy ông, cha ta ngày xưa 'thông minh' không nào? Ai có ví dụ tương tự trong cuộc sống khi những sáng kiến ban đầu có dụng ý tốt nhưng lại trở thành phản tác dụng thì chia sẻ với journeyinlife nhé :)

Sơn Phạm
Wikipedia English

Tác hại của máy móc
Hãy cứu ngành sản xuất X

Luật tiền lương tối thiểu

Các đạo luật quy định mức lương tối thiểu mà các doanh nghiệp có thể trả cho người lao động luôn là một nguyên nhân gây tranh cãi. Những người ủng hộ coi tiền lương tối thiểu là công cụ trợ giúp những người lao động nghèo mà chính phủ không tốn kém gì. Những người phản đối cho rằng đạo luật này có thể làm tổn thương những người mà nó có ý định giúp đỡ.

Có thể dễ dàng hiểu được tiền lương tối thiểu bằng cách sử dụng công cụ cung cầu. Với những lao động thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, mức tiền lương tối thiểu cao sẽ đẩy tiền lương cao hơn mức cân bằng cung cầu. Do vậy nó làm tăng chi phí lao động và giảm lượng cầu về lao động của các doanh nghiệp. Kết quả là thất nghiệp cao hơn ở những nhóm người chịu ảnh hưởng của tiền lương tối thiểu. Mặc dù những lao động vẫn tiếp tục làm việc được lợi từ mức tiền lương cao, nhưng những người lẽ ra vẫn tiếp tục có việc ở mức tiền lương thấp hơn lại bị thiệt.

Quy mô của tác động này phụ thuộc chủ yếu vào hệ số co giãn của cầu. Những người ủng hộ mức tiền lương tối thiểu cao lập luận rằng cầu về lao động giản đơn tương đối ít co giãn, do vậy mức tiền lương tối thiểu cao chỉ làm thất nghiệp tăng nhẹ. Những người phê phán tiền lương tối thiểu lập luận rằng cầu về lao động co giãn hơn, đặc biệt trong dài hạn, khi các doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức sử dụng lao động và sản xuất một cách triệt để hơn. Họ cũng cho rằng nhiều lao động được lợi từ tiền lương tối thiểu lại là những thanh thiếu niên trong các gia đình trung lưu, do vậy việc quy định mức tiền lương tối thiểu cao không phải là chính sách hoàn hảo trong việc giúp đỡ người nghèo.