Journey in Life: September 2016

Friday, September 30, 2016

Nhà hàng hải sản Lã Vọng - 2A, Nguyễn Thị Thập

ăn mừng bảo vệ đề tài khoa học thành công...

Nhà hàng Trúc Nướng - 255 Ngọc Lâm, Long Biên
Trời nắng dê đi uống bia

Vì sao người Đức phản đối thương mại tự do?

Ít có nước nào hưởng lợi từ thương mại quốc tế như nước Đức, theo Viện Ifo, thặng dư tài khoản vãng lai của nước này sẽ đạt kỷ lục cao nhất từ trước đến nay là 310 tỷ USD, nhờ ngành xuất khẩu mạnh và đồng tiền suy yếu (do khó khăn của các nước hàng xóm phương nam). Tuy nhiên, ngày 17/9, khoảng từ 100.000 đến 250.000 người Đức biểu tình rầm rộ ở các thành phố trên khắp cả nước để phản đối Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) đang được Mỹ và EU đàm phán.

Lý do, người dân Đức không muốn thay đổi, họ coi nền kinh tế của nước họ đang ở tình trạng tốt, thay đổi nguyên trạng, ví dụ một hiệp định thương mại mới, sẽ là nguy cơ đối với những quyền lợi đang có hơn là cơ hội để cải thiện số phận, họ cho rằng TTIP sẽ tước đi (curtail) quyền lợi người tiêu dùng, khiến việc bảo vệ dữ liệu và môi trường bị tổn hại (compromised) và làm xấu đi tình trạng lao động. Họ cho rằng tạo ra những tòa án trọng tài quốc tế siêu quốc gia mới để các giải quyết tranh chấp thương mại sẽ trao quyền cho các tập đoàn toàn cầu lớn, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ.

Trong khi các nhà đám phán không nói lên được/nâng cao nhận thức của mọi người về lợi ích của TTIP (như giảm giá hàng hóa, thêm lựa chọn tiêu dùng, hài hòa hóa các tiêu chuẩn/chuẩn mực mang lại lợi ích cho DNNVV, tạo thêm việc làm), các tổ chức chống toàn cầu hóa như Attac còn thổi bùng lên những mối e ngại của người dân, lan truyền email và internet memes các câu chuyện đáng sợ về nhập khẩu hàng loạt gà nhiễm chlorine, hay làm các cửa hàng sách độc lập biến mất, thậm chí còn thuê xe chở người biểu tình...

Thursday, September 29, 2016

Văn hoá an toàn

shared from fb anh Luong Hoai Nam,
-----
Hút thuốc lá trên máy bay đã bị cấm từ lâu, nhưng luật Mỹ và EU vẫn quy định phải lắp gạt tàn trên cửa buồng vệ sinh, ngay dưới các biển cấm hút thuốc lá. Nếu gạt tàn thuốc lá bị mất, máy bay chỉ được phép bay thiếu gạt tàn thuốc lá 3 ngày, sau đó phải dừng bay, chờ khi nào có gạt tàn thuốc lá mới được bay lại.

Có vô duyên không? Đã cấm hút thuốc lá, đã có biển cấm hút thuốc lá, sao lại còn lắp gạt tàn thuốc lá?

Không vô duyên đâu!

Các nhà quản lý chuyên nghiệp biết rằng, ngay cả khi đã cấm hút thuốc lá trên máy bay, vẫn có một số người vi phạm (cố tình hay vô ý).

Cái gạt tàn thuốc lá là dành cho những người vi phạm đó để họ gạt tàn và vứt mẩu thuốc lá đang cháy dở.

Nếu không có cái gạt tàn, khả năng rất lớn là những người vi phạm sẽ gạt tàn, vứt mẩu thuốc lá đang cháy dở vào thùng rác (chủ yếu là đựng khăn giấy lau tay sau sử dụng) và có thể gây hoả hoạn trên máy bay.

Khi một người thấm nhuần văn hoá an toàn, người đó sẽ làm mọi thứ cần thiết để tăng sự an toàn và tránh những rủi ro mất an toàn. An toàn là mục tiêu chứ không phải chuyện "đúng-sai".

Thà có cái gạt tàn thuốc lá cho người vi phạm còn hơn là quy trách nhiệm cho người vi phạm khi hoả hoạn đã xảy ra. Mà khi hoả hoạn đã xảy ra trên máy bay, người vi phạm (và nhiều người khác) đã chắc gì còn sống để quy trách nhiệm? Cấm hút thuốc lá nhưng vẫn lắp gạt tàn là vì tư duy như thế.
...
Khi tham gia giao thông ở Việt Nam, bạn đừng quan trọng hoá chuyện ai đúng - ai sai, phương tiện nào đúng - phương phương tiện nào sai, mà hãy chọn phương tiện và cách đi an toàn nhất cho bạn. Tính mạng của bạn là quan trọng nhất.

Bạn nghĩ mà xem: dù ai đó đi đúng, mà bị người khác, bị phương tiện khác húc chết, thì cái "sự đúng" đó còn có ý nghĩa gì với người đó không?

Tôi không tranh luận nữa, chỉ muốn nói: "Your choice - Your life", thế thôi.

Người Đến Trước Cất Bước Cho Người Đến Sau

Nỗi ám ảnh xuyên Thái Bình Dương: “Phong cách Portland” được đóng chai và xuất khẩu

Photo courtesy LotsaSmiles Photography.

Nhật Bản suy ngẫm về ý nghĩa thực sự của Portland.

Lanette Fidrych biết rằng người dân ở Portland, Oregon, bị ám ảnh với hình ảnh tấm thảm được trải tại sân bay của thành phố. Giới hippy chộp mua ngay mọi thứ được trang trí với kiểu hoa văn có từ những năm 1980 này, từ miếng lót chuột máy tính cho đến đồ lót. Nhưng cô không ngờ rằng kiểu hoa văn trên thảm này cũng nổi tiếng không kém ở Nhật Bản. Khi xuống đến sân bay ở Tokyo và mang theo một chai nước có in hoa văn như vậy, cô đã được một nhóm người lạ nhận ra hoa văn đặc biệt của loại thảm đó giữ lại, hỏi có phải cô đến từ Portland. Nghe cô nói đúng vậy, họ liền kể ra một danh sách các nhà hàng ở Portland họ muốn đến nhất hay các loại bia ở Oregon mà họ thích nhất.

Ở Mỹ, Portland là từ ngắn gọn chỉ những trào lưu không kiểm soát. Ở Nhật Bản, nó chỉ đơn giản là xu hướng thời trang. Cô Fidrych là người sáng lập của Cycle Dog, một công ty chuyên bán phụ kiện cho chó nuôi như: vòng cổ, dây dắt và các vật trang trí khác làm từ phụ tùng xe đạp tái chế (dây đeo trang trí ở cổ đều có gắn kèm dụng cụ mở chai). Cô đang ở Tokyo để tham gia hội chợ "Portland Popup" năm thứ ba, nơi người dân Tokyo có thể mua hàng hóa từ Portland và tìm hiểu về cách sống ở đó. Bài phát biểu năm nay bao gồm "Các doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo ở Portland" và "Tokyo có thể học được gì từ Portland". Yokohama và Osaka cũng tổ chức các sự kiện tương tự hằng năm. Những sản phẩm của Cycle Dog bán chạy ở những sự kiện như thế này, cô Fidrych nói.

Oshuushu, một trang blog nổi tiếng của Nhật, chỉ chuyên viết về các loại bia từ Oregon. Quán bar PDX mới mở cửa chưa đầy một năm tại quận Shibuya thời thượng của Tokyo (PDX là mã sân bay của Portland). Quán chỉ phục vụ bia của Oregon và có một hình vuông nhỏ với họa tiết của tấm thảm nổi tiếng được treo trên tường. Nhiều quán ăn ở Portland, thay vì mở rộng ở Mỹ, đã quyết định "nhảy qua" Thái Bình Dương để tới Nhật. Blue Star Donuts, nhà hàng chuyên phục vụ các món sang trọng với những cái tên như Blueberry Bourbon Basil và Cointreau Creme Brulee, sẽ sớm có bảy cửa hàng ở Nhật Bản so với sáu ở Mỹ.

Teruo Kurosaki, tác giả của một cuốn sách hướng dẫn viết bằng tiếng Nhật về Portland, "Portland đích thực: Lời mách nhỏ cho những người sáng tạo", cho biết Nhật Bản quan tâm tới Portland không chỉ vì các dụng cụ độc đáo tiện lợi của nó hay những món ăn sốt dẻo, mà còn vì "tầm nhìn tương lai" của thành phố này — một sự kết hợp của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp với môi trường xanh. Đối với những người chán nản nền kinh tế cũ và văn hóa thủ cựu của Nhật Bản, hình ảnh các bạn trẻ sáng tạo, biến những miếng săm cũ thành vòng đeo cổ cho cún cưng rồi sau đó tưng bừng khai trương một quán bia ở địa phương, có một nét quyến rũ tuyệt vời.

Các nhà lãnh đạo của Nhật Bản thậm chí cũng đã bắt tay vào hành động. Thị trưởng của một số thành phố nhỏ, nơi đối mặt với nguy cơ bị xóa sổ nếu không thể thuyết phục những người trẻ tuổi ở lại thay vì di chuyển đến Tokyo hoặc Osaka, đã được tham quan Portland để tìm kiếm các ý tưởng. Mitsuhiro Yamazaki, người làm việc trong cơ quan lập kế hoạch và phát triển của Portland, đã được mời đến để “rắc chút phép màu” của Portland lên mảnh đất Aridagawa, một thị trấn đang ngày càng thu hẹp của Nhật Bản, một phần bằng cách thiết kế lại một nhà trẻ ở nông thôn nhằm giữ chân những người phụ nữ trẻ. Nhưng ông vẫn chưa lựa chọn được họa tiết nào cho tấm thảm.

Minh Thu
The Economist

Món khoái khẩu của người Nhật Bản: cá ngừ vây xanh nuôi từ trứng

Photo courtesy Stewart Butterfield.

Nuôi trong trại là niềm hy vọng mong manh mới hé cho loài cá được người Nhật Bản rất ưa chuộng này.

Phòng thí nghiệm Thủy sản của Đại học Kindai có thể không phải là cái tên hay đối với một nhà hàng, nhưng các thực khách không hề bận lòng. Vào các ngày trong tuần, họ xếp hàng ở Ginza, khu mua sắm hào nhoáng xa hoa tại Tokyo, để nếm thử món cá. Các thực khách hài lòng với chất lượng của món sashimi, bao gồm các lát cá ngừ vây xanh mọng nước ngon ngọt, một trong những loài được đánh giá cao nhất trong tất cả loài cá. Nhưng cá ngừ tại nhà hàng này không giống cá ở những nơi khác ở một khía cạnh quan trọng: nó không được đánh bắt trong tự nhiên mà là được nuôi.

Người Nhật gọi cá ngừ vây xanh là "vua của các loài cá". Họ tiêu thụ khoảng 40.000 tấn cá này một năm — 80% tổng sản lượng đánh bắt trên toàn cầu. Nhu cầu cũng đang tăng lên nhanh chóng ở những nơi khác. Tuy nhiên, trữ lượng cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương đã giảm tới 97% so với mức đỉnh điểm vào đầu những năm 1960, theo một báo cáo mới đây của Ủy ban Khoa học quốc tế, một nhóm các chuyên gia đến từ các nước khác nhau. (Nhật Bản tranh cãi về kết quả báo cáo của tổ chức này.) Theo Ủy ban này, ở một số nơi, lượng cá đánh bắt ở mức cao gấp ba lần mức bền vững.

Năm ngoái, Nhật Bản đã đồng ý cắt giảm một nửa sản lượng khai thác cá ngừ vây xanh non (cá quá nhỏ để sinh sản) ở phía bắc Thái Bình Dương, nhưng phản đối các biện pháp nghiêm ngặt hơn, bao gồm cả lệnh cấm hoàn toàn việc đánh bắt cá ngừ vây xanh được Mỹ và các nước khác ủng hộ. Chính phủ Nhật Bản không đảm bảo sẽ thực hiện những biện pháp theo như yêu cầu trừ khi trữ lượng cá giảm trong ba năm liên tiếp, một mức mà hầu hết các nhà bảo tồn cho là quá cao.

Nuôi trong trại có thể là một lối thoát cho tình cảnh bế tắc này. Nhưng cá ngừ vây xanh lại khó sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt. Ở đại dương, nó có thể bơi lang thang hàng ngàn dặm và to lớn đến hơn 400kg. Loài cá này rất nhạy cảm với ánh sáng, nhiệt độ và tiếng ồn. Những cố gắng ban đầu đã thất bại, nhưng Đại học Kindai vẫn tiếp tục kiên trì nghiên cứu dù khoản trợ cấp từ chính phủ đã hết từ đầu những năm 1970. Năm 2002, lấy vốn từ việc bán các loài cá khác, đại học này đã thành công khi lần đầu tiên nuôi cá ngừ trưởng thành từ trứng, chứ không chỉ đơn giản là vỗ béo những con cá non bắt ngoài đại dương. Giờ đây, các đầu bếp ở Ginza có thể bắt cá ngừ với cần câu bằng điện trong bể nuôi của trường đại học như ý mình muốn.

Tuy nhiên, chỉ 1% cá ngừ vây xanh trong bể nuôi của trường đại học sống sót đến tuổi trưởng thành. "Chúng tôi hy vọng cải thiện điều này nhưng sẽ mất thời gian," Shukei Masuma, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản của Đại học Kindai dự đoán. Tệ hơn nữa, cá ngừ ngốn rất nhiều cá thu tự nhiên và mực. Các nhà khoa học đã thử cho chúng ăn đậu nành và một số thứ khác. Một công ty ở phía tây nam Nhật Bản cho biết trong tháng này họ đã thử cho cá ngừ ăn bột cá, nhưng cách này tốn kém và cá chậm phát triển. Sử dụng cá tự nhiên làm thức ăn cho cá ngừ vây xanh khiến việc nuôi cá không bền vững, ông Atsushi Ishii của Đại học Tohoku nói. Ông coi việc nuôi trồng thủy sản là một sự xao nhãng khỏi nhiệm vụ hóc búa là quản lý nghề cá đúng cách.

Cuộc tranh luận này đang dần tác động đến nhận thức của công chúng. Năm 2014, các phương tiện truyền thông liên tục đưa tin về quyết định của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế về việc đưa cá ngừ vây xanh vào "sách đỏ" các loài bị đe dọa tuyệt chủng. Xã luận trên các báo đã bắt đầu chỉ trích lập trường của chính phủ. Nhà hàng của đại học Kindai được yêu thích cũng cho thấy rằng người tiêu dùng đang dần nhận thức được vấn đề. Nhưng cuối cùng, ông Naotoshi Yamamoto của Đại học Nagasaki cho rằng, họ có thể chỉ cần ăn cá ít hơn là được.

Minh Thu
The Economist

Wednesday, September 28, 2016

Tâm An_tuần 4/9


Bài trước: Trường Little Sol Montessori

"Coke spoon" nghĩa là gì?

Photo courtesy Theground arkitect.

'Coke spoon' = flake spoon nghĩa là chiếc thìa nhỏ để hít ma túy (a small spoon used to carry powdered cocaine to a nostril).

Ví dụ
Ron O'Neal's Youngblood Priest became an icon for life in the ghetto with his fancy suits and coke-spoon fashioned into a cross.

His brother, however, chose to turn *his* silver spoon into a coke spoon. He not only burned through his seven figure inheritance between his love of cocaine, prostitutes and basically living like a rock star on his huge house boat on Lake Washington.

On display were 400 objects, video and film clips from the David Bowie archive, highlighting his creative life from boyhood to present day, including iconic costumes from Bowie's persona Ziggy Stardust and Alexander McQueen’s Union Jack suit; lyric sheets and eye-raising objects like house keys, a telegram from Elvis, and a coke spoon.

Phạm Hạnh

Tuesday, September 27, 2016

"Wooden spoon" nghĩa là gì?

Wooden spoon rugby Mascot at Edinburgh v Leinster Magners League Rugby match, Murrayfield. Photo courtesy Edinburgh Blog.

'Wooden spoon' (chiếc thìa gỗ) tặng người về bét một cuộc đua, đôi khi có tặng người về nhì (a wooden spoon is a spoon made from wood, usually given to an individual or team which has come last in a competition, but sometimes also to runners-up. Examples range from the academic to sporting and more frivolous events. The term is of British origin and has spread to other Commonwealth countries).

Ví dụ
Rye House Rockets are in danger of finishing the Premier League season with the wooden spoon after a 56-37 defeat at Berwick on Saturday.

The Brisbane Lions had a horror season, barely avoiding the wooden spoon, but their tally of just 20 total votes was far and away the worst of any team.

Many experts were tipping Gold Coast to reach the wooden spoon, but they soon proved those doubters wrong on the way to a finals berth.

Phạm Hạnh

Hãng tàu Hanjin phá sản

cuối tháng 8/2016, Hanjin (hãng tàu lớn nhất Hàn Quốc và thứ 7 thế giới) phá sản -> 66 tàu hàng của hãng này, chứa số lượng hàng hóa trị giá 14,5 tỷ usd, gồm các hàng điện tử phục vụ dịp Giáng sinh ở Mỹ, đang "mắc cạn" trên biển. Dù tập đoàn mẹ, Hanjin Group, hứa trả 90 triệu usd để một số tàu có thể cập bến, nhưng như vậy vẫn còn thiếu 270 triệu usd cần có.

ngành vận tải container trị giá 170 tỷ usd, dự kiến sẽ thiệt hại 10 tỷ usd trong năm nay.

trong 12 hãng vận tải lớn nhất, công bố kết quả kinh doanh quý vừa qua, 11 hãng cho lỗ lớn. Maersk (của đan mạch và lớn nhất thế giới), cũng lỗ (in the red) và 22/9 công bố là sẽ chia nhỏ để dễ cạnh tranh.

Another South Korean carrier, Hyundai Merchant Marine, was bailed out (được giải cứu) earlier this year, with creditors, including the Korean taxpayer (người dân đóng thuế), taking a big hit. And in Japan three firms, Mitsui OSK Lines, NYK Line and Kawasaki Kisen Kaisha, look especially vulnerable (đặc biệt dễ bị tổn thương). Activist investors are now pressing for them to merge (sáp nhập) to avoid the same fate (chung số phận) as Hanjin.

có một cách đơn giản để thoát khỏi cuộc khủng hoảng trong ngành vận tải biển, đó là đủ số hãng dỡ bỏ (scrap) tàu của họ, từ đó lượng cung ít đi, giá vận chuyển lại tăng lên. nhưng chẳng hãng nào muốn làm vậy, những tập đoàn mạnh, như Maersk còn muốn xây dựng những con tàu lớn hơn nữa -> tăng cung -> giá vận chuyển giảm sâu hơn nữa -> loại bỏ đối thủ cạnh tranh. các hãng nhỏ thì không đủ tài chính để dỡ, vì giá thép đang rất thấp, dỡ tàu chẳng mang lại bao tiền...
-----

Monday, September 26, 2016

"Greasy spoon" nghĩa là gì?

Just near Wall Street - greasy spoon, NY style. Photo courtesy Matt Murphy.

'Greasy spoon' (thìa nhầy mỡ) nghĩa là khách sạn rẻ tiền, nơi đồ ăn không được sạch lắm (a cheap diner, where the silverware might not be too clean).

Ví dụ
Trump visited a greasy spoon restaurant in northeast Ohio earlier this week, one of the only times he has performed that rather traditional type of campaigning, and, on the same day, visited a county fair for long enough for news cameras to take pictures of him shaking a few hands.

Hong Kong is a city of extremes - you can get Michelin-starred dumplings for a few dollars; an excellent Western-style flat white coffee; traditional Cantonese wonton soup; congee in a local greasy spoon; or one of the best wine experiences the international stage has to offer - all in the same day if you were game.

Builders' tea is losing popularity to trendy green, herbal and fruit flavoured varieties. Of course, you can still get a traditional milk and two sugars in the local greasy spoon, but a new breed of café owners have cropped up, selling fine single estate loose-leaf teas served in authentic teaware, carefully paired with dumplings, open sandwiches and cakes, according to their flavour profile.

Phạm Hạnh

Saturday, September 24, 2016

Sóng đầu tư đổ về các nhà máy thuốc

Domesco, 45,9% cổ phần-trị giá 16 triệu usd-nằm trong tay CFR International SpA (thương hiệu dược phẩm nổi tiếng nhất Chile, thuộc tập đoàn CFR Pharmaceutical SA). CFR đang có tổng cộng 11 nhà máy sản xuất, 3 viện nghiên cứu cùng hơn 7.000 nhân viên trên toàn thế giới, bao gồm hơn 2.000 trình dược viên.

Tháng 6/2016, Taisho chi gần 2.500 tỷ đồng để sở hữu 24,4 % cổ phần của Dược Hậu Giang (DHG). Taisho Pharmaceutical Holdings là tập đoàn nằm trong top 5 doanh nghiệp dược lớn nhất Nhật Bản với tổng tài sản 759 tỷ yên (khoảng 7,1 tỷ USD), doanh thu năm 2015 của tập đoàn này đạt 290 tỷ Yên. Ở Việt Nam, công ty này có nhà máy là Công ty Taisho Việt Nam được thành lập từ năm 1999 phân phối sản phẩm nước tăng lực Lipovitan.

Tháng 8/2016, Abbott (đã có mặt tại Việt Nam hơn 20 năm qua) mua Glomed (thành lập từ 2007, sở hữu 2 nhà máy trong KCN Việt Nam - Singapore, Bình Dương và năm chi nhánh trên cả nước (Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang và Cần Thơ)). Sản phẩm Glomed hiện đang có mặt tại hệ thống nhà thuốc từ Nam tới Bắc với gần 200 sản phẩm.


Friday, September 23, 2016

"Spoon-feed someone" nghĩa là gì?

Photo courtesy Jessica Cross.

'Spoon-feed someone' (đút ăn bằng thìa) nghĩa là chăm sóc ai đó quá tận tình; và nghĩa khác là chỉ dẫn, nhồi nhét, dạy quá nhiều (đến nỗi không còn để cho họ tự mình suy nghĩ); giúp đỡ tận miệng (provide (someone) with so much help or information that they do not need to think for themselves; to treat someone with too much care or help; to teach someone with methods that are too easy and do not stimulate the learner to independent thinking); các bậc cha mẹ chú ý đừng dạy con bằng cách "cầm thìa đút con ăn".

Ví dụ
The U.S. Government Accountability Office has struck down a company's challenge to the award of a NASA contract for powering spaceflight transportation to a rival, finding in a decision released Wednesday that the agency wasn't required to “spoon-feed” the protester fixes to its bid's shortcomings.

Mentors are like hiking guides. They haven’t always experienced the same paths that you have taken, and they shouldn’t spoon-feed answers to you even if they have. Instead, they need to help mentees overcome their challenges without taking the reins directly. This comes back full-circle to empathy and communication skills - in the form of listening.

“As a writer you hear a constant stream of completely contrary feedback: ‘Don’t spoonfeed your audience’, ‘Don’t forget people are taking the bins out during the show’, ‘Don’t dumb it down’, ‘Don’t be too clever’.”

Phạm Hạnh

Thursday, September 22, 2016

"Been born with a silver spoon in his mouth" nghĩa là gì?

Photo courtesy Shaggy Paul.

'Been born with a silver spoon in his mouth' (bé nứt mắt đã ăn cháo bằng thìa bạc) nghĩa là ăn sung mặc sướng, cậu ấm cô chiêu, sinh ra trong gia đình có điều kiện/không có gì ngoài điều kiện, đẻ bọc điều, sướng từ trong trứng sướng ra các bạn à (the English language expression silver spoon is synonymous with wealth, especially inherited wealth; someone born into a wealthy family is said to have "been born with a silver spoon in his mouth").

Ví dụ
Vice President Joe Biden said Republican presidential nominee Donald Trump is a guy, ''born with a silver spoon in his mouth, that now he is choking on because now his foot is in his mouth along with it.''

Unlike many politicians, Mr Johnson was certainly not born with a silver spoon in his mouth. He was brought up by his sister Linda, who was forced to fend for herself and her younger sibling at the age of 16, when their mother Lillian died.

Upon the death of his great father he became the third baronet (tòng nam tước) and, as such, inherited most of the family's assets, which included the magnificent Drayton Manor, several factories and thousands of acres of land, plus an amazing fortune in the bank. But did that matter to the man who had been born with a silver spoon in his mouth? It seems the young baronet didn't appreciate the hard work that his forbears (tổ tiên) had put into making the family fortune. He lived the high life as a 'splash the cash' man, not caring where it came from or how it had been earned.

Phạm Hạnh
"Old money" nghĩa là gì?

Wednesday, September 21, 2016

Trường Little Sol Montessori


papa ra mắt HĐQT, Tâm An đến trường mới...

1st Floor, HH2A Building, Gia Thuy Street, Long Bien, Hanoi

Bài trước: Gala to the sea

"It takes three generations to make a gentleman" nghĩa là gì?

Why do the Republicans nominate blue bloods? Photo credit: Wikipedia/AP.

'It takes three generations to make a gentleman' = phải mất 3 thế hệ, đến đời cháu mới là một quý ông -> = trăm năm trồng người.

Ví dụ
Among Democratic presidential nominees in the same era, only Kerry — related to the wealthy Forbes, Winthrop and Dudley families of the Northeast — could claim anything like the pedigree of the Bushes. If it takes three generations to make a gentleman, or even two, Al Gore doesn’t qualify as upper class. His father, who preceded him as a senator from Tennessee, came from a modest background and received his law degree from the Nashville YMCA Night School of Law. The other Democratic nominees in the 1980-2008 period came from middle-class backgrounds, like Barack Obama, the son of two college professors. Bill Clinton was born into the lower middle class.

Ahmad Soliman, who writes children’s books, stakes out a middle ground. Cultural change will take time and must begin with education: “The English have a saying,” he says. “It takes three generations to make a gentleman.” And it might take that long for Egypt to compete, once again, on the international stage.

Phạm Hạnh


Sunday, September 18, 2016

“Shirtsleeves to shirtsleeves in three generations” nghĩa là gì?

Đời ông làm đồng, đời cháu lại đi đồng. Photo courtesy Adam Kahtava.

Các bạn có thể nghe nhiều về câu tục ngữ 'Shirtsleeves to shirtsleeves in three generations', trong tiếng Nhật, cụm từ này tương đương “Rice paddies to rice paddies in three generations.”, người Scotland nói là “The father buys, the son builds, the grandchild sells, and his son begs.” và tiếng Tàu là “Wealth never survives three generations.” không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.

Ví dụ
There may be another phenomenon at work, however, one which folk wisdom has long recognized through the maxim "shirtsleeves to shirtsleeves in three generations." The authors argue that, while the process is less active in Europe, wealth tends to dissipate over the generations. In the U.S., they write, "extreme wealth is created and destroyed at a nearly constant rate … such that the median age of the businesses behind American fortunes is about the same now as in 2001."

It’s a well-known fact that conflict in a family business is viewed as one of the biggest threats to the success of a company. After all, the “shirtsleeves to shirtsleeves in three generations” adage has been around for quite some time. It might come as a surprise then that an overwhelming majority of survey participants (half of whom are still in the first or second-generation stages of their businesses) view external factors, such as tax policy and government regulation, as their biggest concern.

Phạm Hạnh

Saturday, September 17, 2016

Cuộc sống về đêm ở Nhật Bản: Tiệc tùng thôi

Nhậu thanh tao. Photo courtesy Kevin Utting.

Không có gì lạ khi biết rằng Nhật Bản ngày nay vẫn là nơi bạn không thể đường hoàng lắc lư theo nhạc trong một quán bar vào lúc nửa đêm. Điều này vẫn diễn ra dù giới trẻ Nhật Bản đã đấu tranh trong nhiều năm. Tuy nhiên, những gì họ làm đã không thể thay đổi những quy định có hiệu lực kể từ thời điểm Mỹ đóng quân tại Nhật Bản sau Thế chiến thứ II: cấm nhảy múa lúc đêm khuya. Mục đích khi đó là để ngăn chặn tệ nạn mại dâm liên quan đến thứ được gọi là vũ trường. Thỉnh thoảng, người ta cũng lách luật rất khéo. Một cơ sở ở Tokyo đã cho khách bôi bột làm mì udon vào chân. Họ nói điều này khiến khách hàng trông như một công nhân chứ không phải một người thích nhảy nhót tiệc tùng.

Chắc chắn không ai nghĩ rằng Thủ tướng Shinzo Abe, vị chủ tịch bảo thủ của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) với tư tưởng truyền thống, sẽ thay đổi điều này. Tuy nhiên, chính phủ sắp cho phép việc tiệc tùng lúc đêm khuya bằng một dự luật mới, dự kiến sẽ được thông qua trong năm nay. Miễn là đèn đủ sáng để cảnh sát dễ dàng quan sát được những góc khuất, khách hàng sẽ được phép hát hò nhảy múa đến rạng sáng.

Mặc dù những thay đổi này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế, nhưng nó mang tính biểu tượng. Những năm gần đây, cảnh sát đã bắt đầu đột kích các quán bar thường xuyên hơn. Họ khẳng định những người vui chơi trong đó đều sử dụng ma túy. Những cuộc đột kích này không hề đúng lúc khi ông Abe là người đang quảng bá cho khẩu hiệu "Cool Japan" (Nhật Bản thú vị) trong một lễ kỷ niệm văn hóa cho thanh thiếu niên. Sự thay đổi các quy định này cũng sẽ có thể khơi dậy tinh thần hội hè cho các du khách nước ngoài trước thềm Thế vận hội Tokyo năm 2020.

Một kế hoạch khác của chính phủ có thể thúc đẩy nền kinh tế hơn nữa là lần đầu tiên cho phép xây dựng các sòng bạc lớn, sang trọng tại những thành phố lớn. Một số người Nhật, đặc biệt là phụ nữ, lo sợ rằng việc này sẽ khiến tình trạng nghiện cờ bạc lan rộng và làm sa sút kinh tế hộ gia đình. Komeito, một đảng ủng hộ Phật giáo và là liên minh của đảng cầm quyền LDP, phản đối sự thay đổi này. Tuy nhiên, họ nhắm mắt làm ngơ khi pachinko, một kiểu chơi cờ bạc giống như trò pinball nhưng hợp pháp, đã giúp chính phủ thu về mỗi năm hơn 150 tỷ USD từ khách hàng của mình.

Gần đây có thông tin rằng chính phủ sẽ ngăn chặn vấn đề này bằng cách cấm người Nhật Bản vào chơi tại các sòng bạc kiểu mới. Sự cấm đoán này mang tính biểu tượng mạnh mẽ. Nếu quy định này được thông qua, sẽ không có lợi lộc gì khi đặt cược tiền vốn vào thị trường Nhật Bản, Sheldon Adelson--ông trùm casino người Mỹ nói. Tuy nhiên, đề xuất mở sòng bạc cho người nước ngoài có lẽ chỉ là để xoa dịu việc thông qua dự luật đầu tiên. Những động thái gần đây của ông Abe về các quy định tiệc tùng đêm khuya dường như báo hiệu rằng Nhật Bản đã sẵn sàng thả lỏng một chút.

Minh Thu
The Economist

Nhập cư vào Nhật Bản: Khe cửa hẹp

Photo credit: The Economist.

Dù cay đắng nhưng Nhật Bản đang bắt đầu chấp nhận sự thật rằng nước này cần nhiều người nhập cư hơn.

Trong khu phố Shin-Okubo của Tokyo, bầu không khí phảng phất mùi thức ăn Hàn Quốc và loáng thoáng những câu tiếng Hàn tiếng được tiếng mất. Một siêu thị bán kimchi nằm bên cạnh một cửa hàng bán kebab Ấn Độ -- nơi có dán những tờ rơi ca ngợi đạo Hồi, tôn giáo của người chủ quán sinh ra ở Calcutta. Đại diện một văn phòng nhà đất địa phương giới thiệu các nhân viên biết nói tiếng Trung, tiếng Việt và tiếng Thái cùng với bản vẽ mặt bằng của những căn hộ tí hon tại Tokyo.

Shin-Okubo là một trường hợp hiếm thấy ở Nhật Bản. Đất nước này vẫn tương đối khép kín với người nước ngoài, nhóm người chỉ chiếm 2% trong tổng số dân 127 triệu người, so với mức trung bình 12% của các nước thuộc tổ chức OECD, nhóm các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, Nhật Bản rất thiếu người lao động. Không dưới 83% các doanh nghiệp Nhật gặp khó khăn trong việc thuê nhân công, theo Manpower, một công ty chuyên về tuyển dụng. Đây là mức cao nhất trong các quốc gia mà công ty này khảo sát. Và những khó khăn này có thể ngày càng nghiêm trọng. Dân số được dự kiến sẽ giảm xuống còn 87 triệu người vào năm 2060, và số dân trong độ tuổi lao động (15-64) giảm từ 78 triệu người xuống còn 44 triệu người, do lão hóa. Liên đoàn doanh nghiệp Nhật Bản (The Keidanren), và các doanh nhân nổi bật như Takeshi Niinami, người đứng đầu của công ty nước giả khát Suntory, từ lâu đã ủng hộ vấn đề nhập cư.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết ông muốn nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia thị trường lao động và tăng tuổi về hưu, trước khi chấp nhận những người lao động nước ngoài. Nhưng dù sao chính phủ của ông cũng đã thực hiện một số biện pháp để thúc đẩy nhập cư. Lệnh cấm cấp thị thực cho người lao động có tay nghề thấp đã được nới lỏng, cùng với các phê duyệt cho phép người giúp việc nước ngoài làm việc tại các đặc khu kinh tế. Vấn đề đang được bàn luận hiện nay là những quy định về chế độ cho những người Philippines đang làm giúp việc gia đình . Việc cấp thị thực cho sinh viên và thực tập sinh dễ dàng hơn. Và chính quyền thường làm ngơ trước những cá nhân lợi dụng việc này để thuê nhân công cho các công việc lao động tay chân, ít đòi hỏi học vấn tại các cửa hàng tạp hóa, (thường thuê người Trung Quốc) hoặc trong các ngành lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng và chế biến thực phẩm. Visa của tập sinh có thể gia hạn từ ba đến năm năm. Ông Abe cũng tuyên bố rằng ông sẽ giảm thời gian tạm trú -- điều kiện để được cấp thẻ thường trú -- xuống mức "thấp nhất trên thế giới", có lẽ xuống dưới ba năm (còn kém mức “thấp nhất” rất nhiều) từ mức hiện tại là năm năm.

Tất cả những điều này đã bắt đầu tạo ra sự thay đổi. Năm ngoái, số người nước ngoài được cấp thẻ thường trú đã đạt kỷ lục 2,23 triệu người, tăng 72% so với hai thập kỷ trước đây, và số lượng người có thị thực không thường trú cũng đang tăng lên. Nhưng có vẻ mục tiêu (của chính phủ Nhật) là tăng số lao động tạm thời và một hệ thống ưu đãi hơn cho công nhân lành nghề, chứ không phải việc định cư cho người nước ngoài trên quy mô lớn. Chỉ một số rất ít người nước ngoài trở thành công dân Nhật Bản và số người được tị nạn thậm chí còn ít hơn: 27 người trong năm 2015, tức chỉ khoảng 0,4% số đơn xin được chấp nhận.

Một số người đã lên tiếng ủng hộ mở rộng cánh cửa nhập cư hơn. Hidenori Sakanaka, nguyên lãnh đạo một cơ quan phụ trách việc nhập cư, hiện đang đứng đầu Viện Chính sách nhập cư của Nhật Bản, ước tính Nhật Bản cần 10 triệu người nhập cư trong 50 năm tới. Ít nhất, đất nước này cần có một chính sách rõ ràng về việc tiếp nhận nhân công lao động nước ngoài, thay vì phớt lờ việc lạm dụng sinh viên và thực tập sinh, theo Shigeru Ishiba, một nghị sĩ nổi bật trong Đảng Dân chủ Tự do, người được kỳ vọng sẽ thách thức ông Abe ở vị trí lãnh đạo đảng vào năm 2018. Chính phủ cần phải có kế hoạch chi tiết về số người chính phủ muốn kêu gọi nhập cư và khung thời gian cần để thực hiện, ông nói.

Dư luận cũng đang dần thay đổi. Cuộc thăm dò gần đây của WinGallup cho kết quả đáng ngạc nhiên khi nhiều người Nhật ủng hộ vấn đề nhập cư hơn là phản đối nó -- 22% và 15% -- mặc dù có tới 63% cho biết họ không chắc chắn. Tuy nhiên, chào đón một số lượng lớn người nước ngoài nhập cư với sự nồng ấm là điều khó xảy ra. Những người dân tộc chủ nghĩa ở Nhật Bản không có sức mạnh của phong trào chống nhập cư trên diện rộng ở châu Âu. Nhưng đất nước này tự hào về tính thuần nhất của mình, và mặc dù các phương tiện truyền thông đã thôi không còn đổ lỗi tất cả các tệ nạn xã hội lên người nước ngoài như một phản xạ, sự phân biệt đối xử vẫn còn rất gay gắt. Nhiều chủ nhà trọ sẽ công khai từ chối người thuê trọ nước ngoài, Li Hong Kun, một nhân viên nhà đất người Trung Hoa, làm việc ở Shin-Okubo cho biết, bởi vì họ không tuân thủ các nguyên tắc như là giữ yên tĩnh sau mười giờ đêm và phân loại rác đúng cách (một nhiệm vụ khá phức tạp). Những người khác lại cho rằng các cuộc tấn công khủng bố ở châu Âu là một lý do để giữ Nhật Bản cho riêng người Nhật. Theo Tatsuya Mizuno, tác giả của một cuốn sách về cộng đồng người Brazil gốc Nhật, những người được khuyến khích nhập cư vào Nhật trong những năm 1980, họ chưa bao giờ thực sự được chấp nhận là người Nhật dù có dòng máu Nhật Bản trong người.

Ngay cả ông Sakanaka và ông Ishiba cũng nghĩ rằng tất cả những người nhập cư phải học ngôn ngữ và phong tục nước bản địa, chẳng hạn như thể hiện sự tôn kính đối với gia đình hoàng gia. Nhưng về mặt kinh tế, việc cần một làn sóng nhập cư lớn hơn là điều không thể phủ nhận. Đối với những người luôn nói về sự hồi sinh của quốc gia như ông Abe, những lựa chọn khác rất ít ỏi.

Minh Thu
The Economist

"Heap coals of fire on his head" nghĩa là gì?

Photo courtesy Stilgherrian.

'Heap coals of fire on sb's head' (đổ than nóng lên đầu) nghĩa là làm cho ai phải hối hận vì sự vô tình của họ.

Ví dụ
"Repay no one evil for evil. Have regard for good things in the sight of all men. If it is possible, as much as depends on you, live peaceably with all men. Beloved, do not avenge yourselves, but rather give place to wrath; for it is written, 'Vengeance is Mine, I will repay,' says the Lord. Therefore 'If your enemy is hungry, feed him; If he is thirsty, give him a drink; For in so doing you will heap coals of fire on his head.' Do not be overcome by evil, but overcome evil with good."

Banks spoke for about 20 minutes, quoting Scripture throughout, including one from the 12th chapter of Romans, which the admonishment that being kind to an enemy was like “heaping coals of fire on his head.”

Phạm Hạnh

Tệ quan liêu và trẻ mồ côi

Photo courtesy Ashley Van Haeften.


Một đạo luật mới sẽ giúp việc nhận nuôi trẻ em mồ côi tại Nhật Bản dễ dàng hơn.

Nằm khuất trong một con phố giữa các đại sứ quán và các gia đình giàu có, Hiroo Friends là một trong những cô nhi viện tốt nhất của Tokyo. Trung tâm này chăm sóc cho 42 đứa trẻ với số nhân viên cũng tầm khoảng đó. Trẻ có phòng ngủ riêng và học ở những trường công lập tốt nhất của thành phố. Điều mà ít đứa trẻ nào ở đây có được là cơ hội được sống trong một gia đình bình thường.

Trong số gần 39.000 trẻ em trong trại trẻ mồ côi trên khắp Nhật Bản, chỉ 12% có thể tìm được cha mẹ nhận nuôi, tỷ lệ thấp nhất trong các nước giàu. Hầu hết trẻ em được đưa vào các trung tâm nuôi dưỡng sẽ ở đó cho đến khi trưởng thành. Các gia đình Nhật Bản nhận nuôi hơn 80.000 trường hợp mỗi năm, nhưng chủ yếu là khi trẻ đã trưởng thành, thường để họ có thể gánh vác vấn đề tài chính của gia đình. Trong năm 2014 chỉ có 513 trẻ em được nhận nuôi; tháng 3 năm 2015, có 4.731 trẻ được nhận nuôi.

Theo ông Yoshiko Takahashi, người quản lý tại trung tâm Hiroo, văn hóa là một nguyên nhân. Hầu hết người Nhật rất ngại ngần khi nhận nuôi trẻ không có liên quan huyết thống với mình. Nhưng các thủ tục pháp lý và sự quan liêu cũng tạo ra rào cản. Cha mẹ ruột vẫn sẽ là người giám hộ hợp pháp của trẻ dù trẻ đã ở trong trung tâm chăm sóc trong nhiều năm, thường hứa hẹn sẽ đưa trẻ ra khỏi trung tâm nuôi dưỡng nhưng không bao giờ làm như vậy, khiến việc nhận nuôi khó khăn hơn. Toà án bất đắc dĩ phải mạnh tay hơn với những cặp cha mẹ ruột không thể hoặc không muốn chăm sóc con cái của họ.

Vấn đề này chưa từng nhận được nhiều sự quan tâm từ chính phủ, cho đến gần đây. Yasuhisa Shiozaki, Bộ trưởng Bộ sức khỏe, lao động và phúc lợi, quyết định hành động một phần bởi thực tế khiến người ta giật mình: mặc dù dân số Nhật Bản suy giảm, và số lượng các cặp vợ chồng không có con ngày càng nhiều, số lượng trẻ em trong các trung tâm nuôi dưỡng đang tăng.

Nhiều trẻ bị bố mẹ bỏ bê hoặc bạo hành. Những trẻ trải qua thời thơ ấu trong các trung tâm nuôi dưỡng của nhà nước thường trở thành người thất nghiệp hoặc vô gia cư khi trưởng thành. Theo Kanae Doi của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), một tổ chức phi chính phủ, hơn một nửa số trẻ em trong các trung tâm chăm sóc cũng đang bị lạm dụng. Ký túc xá đông đúc khiến các em không có không gian riêng tư, mỗi trẻ chỉ có chưa đầy năm mét vuông. Ngay cả những trẻ sống trong các trung tâm tốt hơn cũng có vấn đề của mình. Bà Takahashi ước tính rằng 10% số trẻ tại trung tâm Hiroo phải dùng thuốc để điều chỉnh hành vi.

Đạo luật phúc lợi trẻ em được sửa đổi của ông Shiozaki, sẽ có hiệu lực vào tháng tư tới, nhằm giúp khoảng một phần ba số trẻ em trong các trung tâm chăm sóc trên khắp Nhật Bản có gia đình nhận nuôi vào năm 2029. Hướng lâu dài là trại trẻ mồ côi không chỉ là nơi nuôi dưỡng mà còn giúp các em tìm được gia đình muốn nuôi dưỡng chúng. Toà án sẽ có nhiều quyền lực hơn trong vai trò đại diện cho cha mẹ nuôi.

Những thay đổi này đề cao sự chăm sóc của gia đình đối với trẻ. Trẻ được chào đón nhưng sẽ phải hỗ trợ nhiều hơn cho gia đình nếu đã đến tuổi lao động, Kazuhiro Kamikado--chuyên gia về phúc lợi cho trẻ em tại Đại học Nagano--nói. Thay đổi luật pháp là một điều; thay đổi cách suy nghĩ lại là điều hoàn toàn khác.

Minh Thu
The Economist

Trở thành công dân Nhật Bản: Các thanh tra đang gõ cửa

Photo courtesy Tommaso Meli.

Không dễ để có một tấm hộ chiếu

Để trở thành một công dân Nhật Bản, ngoài các điều kiện khác, người nước ngoài còn phải thể hiện "hành vi tốt". Các quy định không nói rõ điều đó có nghĩa là gì, và cũng không đề cập đến phong cách sống kiểu Nhật (wafu). Nhưng đối với một người nộp đơn, ít nhất thì điều này có nghĩa là các thanh tra sẽ đến nhà họ, kiểm tra tủ lạnh và đồ chơi của con cái để xem người đó có đủ Nhật Bản hay không.

Thủ tục hành chính tùy tiện là lý do vì sao việc nhập quốc tịch Nhật Bản rất khó khăn. Bộ Tư pháp, cơ quan xử lý quá trình này, cho biết các thanh tra có thể đến nhà người xin nhập tịch và nói chuyện với hàng xóm của họ. Điều này không giúp ích được gì vì những người muốn mang những họ như Watanabes sẽ phải từ bỏ mọi hộ chiếu khác: Nhật Bản không cho phép song tịch. Và người xin nhập tịch phải đã sống ở Nhật Bản tối thiểu mười năm. Những yêu cầu khác như nói tiếng Nhật, sở hữu đủ tài sản thì tương tự như ở nhiều nước, nhưng vẫn còn khá phiền phức.

Chẳng ngạc nhiên khi có quá ít người được nhập tịch. Năm ngoái, chính phủ nhận được 12.442 đơn, mất 18 tháng hoặc lâu hơn để xử lý thủ tục; và đã cấp quốc tịch cho 9.469 người, so với gần 730.000 người tại Mỹ. Nhưng ít nhất điều này cho thấy hầu hết các đơn xin nhập tịch đều được chấp nhận. Phần lớn trong số họ là người Hàn Quốc và Trung Hoa. Công dân mới không còn phải dùng một cái tên nghe-giống-Nhật nữa. Và nộp đơn xin nhập tịch không hề mất phí, trái ngược với khoản phí 595 USD tại Mỹ và 1.236 bảng (tương đương 1.613 USD) ở Anh.

Minh Thu
The Economist

Lịch sử thời chiến: Các vùng đất tranh chấp

Đổ nát, nhưng chưa phải là dĩ vãng. Photo courtesy NARUMI.

Một cuộc tranh cãi mới về lịch sử Nhật Bản trong thời chiến đã nổ ra tại Liên Hiệp Quốc.

Quang cảnh hoang tàn của vùng Hashima, ngoài khơi bờ biển Nagasaki, được chọn là nơi quay cảnh trận chiến cuối cùng trong bộ phim mới nhất về James Bond: Skyfall. Giờ đây, hòn đảo hình chiến hạm này là nguyên nhân của một cuộc xung đột ngoài đời thực. Than từ những mỏ ngầm dưới đáy đảo đã góp phần vào sự phát triển của Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị 1868-1912. Thừa nhận vai trò đó, Chính phủ Nhật Bản đã đưa hòn đảo này, và 22 địa điểm khác, vào danh sách đăng ký công nhận Di sản thế giới của UNESCO.

Nhưng những oán giận âm ỉ của các nước láng giềng về chế độ thuộc địa của Nhật Bản và những nỗi kinh hoàng mà nước này gây ra trong Thế chiến II đã khiến đề nghị trên gặp nhiều phản đối. Hàng ngàn quân nhân Hàn Quốc đã bị ép lao động cưỡng bức ở Hashima và các đảo khác trong suốt thời gian chiến tranh. Tại cuộc họp ngày 20 tháng Năm với Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye cho rằng đề nghị của Nhật Bản đã tạo ra "sự hiềm khích không cần thiết". Trung Hoa, nước hiếm khi chậm trễ trong việc chỉ trích Nhật Bản cố tình “quên” tội ác thời chiến, tất nhiên cũng phản đối dữ dội. Phát ngôn viên của bộ ngoại giao nước này nói rằng Nhật Bản đang cố gắng tôn vinh lịch sử chiếm đóng các nước khác.

Tuy nhiên, các nhà ngoại giao Nhật Bản nhấn mạnh rằng đề nghị đó chỉ liên quan đến thời kỳ Minh Trị chứ không phải các sự kiện trong chiến tranh. Và trên một số địa điểm khác có trong danh sách, bao gồm cả mỏ than Miike, có các bia khắc thừa nhận việc sử dụng lao động cưỡng bức. Theo nhà xã hội học nước Mỹ William Wetherall, lịch sử lao động cưỡng bức không chỉ như những gì phía Hàn Quốc nói, nhiều người Nhật cũng bị gọi nhập ngũ. "Tất cả các bên đang bẻ cong lịch sử để thuận với câu chuyện mình là nạn nhân."

Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO sẽ bỏ phiếu về đề nghị của Nhật Bản vào ngày 28 tháng 6. Nhưng các cuộc đàm phán gần đây giữa các quan chức Nhật Bản và Hàn Quốc ở Tokyo chẳng đưa hai bên đến gần nhau hơn được. Người Nhật tham dự chỉ vì áp lực từ các nước khác, một trong những nhân viên ngoại giao có mặt ở đó cho biết. Tất cả dường như còn lâu mới đạt tới sứ mệnh mà UNESCO tuyên bố "dựng xây hòa bình từ trong tâm trí mọi người".

Minh Thu
The Economist

Friday, September 16, 2016

Học tiếng Anh ở Nhật Bản: Nói chuyện như một gaijin

Photo courtesy Amanda Braz.

Chính phủ hy vọng những bài học tiếng Anh sẽ thúc đẩy nền kinh tế.

Ở Nhật Bản, xe buýt và xe lửa luôn đúng giờ đến từng giây. Các kỹ sư nổi tiếng về tính tỉ mỉ. Nhưng khi nói đến tiếng Anh, Nhật Bản lại cẩu thả khác thường. Các bảng hiệu thường bị viết sai chính tả. Lái xe taxi phải chỉ trỏ vào sách có các mẫu câu sẵn để giao tiếp với người nước ngoài. Các cửa hàng lấy tên tiếng Anh để nghe cho hợp thời thường sai tệ hại: ví dụ một cửa hàng bán lẻ mỹ phẩm đã qua sử dụng lại lấy tên "Poopdick" (Cu dính cứt) .

Số người nói tiếng Anh ở Nhật Bản ít hơn rất nhiều so với hầu hết các quốc gia phát triển, tham gia toàn cầu khác. Năm 2015, điểm số trung bình của người Nhật trong các kỳ thi TOEFL, một kì thi phổ biến để đánh giá trình độ tiếng Anh cho người nước ngoài, là 71 trên tổng điểm 120, thấp hơn so với tất cả các nước Đông Á, trừ Lào và Campuchia. Các công ty cần nhân viên biết nói tiếng Anh thường tuyển những người đã học tập hoặc lớn lên ở nước ngoài, với suy nghĩ rằng các ứng cử viên theo học tiếng Anh trong nước sẽ không đáp ứng được yêu cầu.

Chính phủ muốn thay đổi điều này. Hồi đầu tháng, chính phủ đã công bố các kế hoạch để cải tổ toàn diện việc giảng dạy tiếng Anh. Trẻ em có thể bắt đầu học ngôn ngữ này sớm hơn hai năm, khi các em được tám thay vì mười tuổi. Các bài học sẽ nhấn mạnh kỹ năng giao tiếp hơn kỹ năng đọc, viết và ngữ pháp.

Nhật Bản hy vọng tất cả những điều đó sẽ giúp đất nước này đóng một vai trò lớn hơn trong một thế giới mà tiếng Anh là ngôn ngữ chung. "Chúng tôi cần tiếng Anh để hiểu các nền văn hóa khác và giới thiệu văn hóa của mình với họ," Hideyuki Takashima thuộc Đại học Ngoại ngữ Tokyo nói. Và, đối với chính phủ của ông Shinzo Abe, điều này đặc biệt quan trọng bởi tiếng Anh là thứ cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế. Các công ty Nhật Bản, đang ngày càng mở rộng ra nước ngoài vì lực lượng lao động trong nước ngày càng ít và già đi, vì vậy, cần tiếng Anh để kết nối với bên ngoài và để thu hút nhân tài đến Nhật Bản.

Một số doanh nghiệp đã tự mình giải quyết vấn đề này. Sony từ lâu đã buộc nhân viên của mình có thể giải thích sự hoạt động của các sản phẩm bằng tiếng Anh. Sáu năm trước, Hiroshi Mikitani, vị giám đốc tốt nghiệp từ Đại học Harvard của Rakuten, gã khổng lồ trong ngành thương mại điện tử với chi nhánh tại 30 quốc gia, quy định rằng tiếng Anh sẽ trở thành ngôn ngữ chính của công ty; không còn bất kỳ cuộc họp nào sử dụng tiếng Nhật nữa. Rakuten có chương trình đào tạo tiếng Anh cho tất cả các nhân viên của mình. Honda, hãng sản xuất ôtô nổi tiếng, vào năm ngoái cho biết đến năm 2020 hãng này cũng sẽ tạo ra một sự thay đổi về ngôn ngữ khi làm việc.

Chỉ cải cách hệ thống giáo dục sẽ không đủ; rào cản văn hóa vẫn rất mạnh mẽ. Nhiều người Nhật không thấy tiếng Anh cần thiết vì họ hiếm khi đi nước ngoài hoặc họ làm việc tại các công việc không yêu cầu biết tiếng Anh. Ở nước này, phim và âm nhạc của Mỹ cũng không phổ biến như ở châu Âu, châu Phi hay Trung Đông. Những người theo chủ nghĩa truyền thống, với mong muốn duy trì độ thuần khiết của văn hóa Nhật Bản, sẽ thấy vui mừng nếu mọi thứ được giữ nguyên như vậy.

Kensaku Yoshida, một giáo sư tại Đại học Sophia ở Tokyo, cho rằng trở ngại lớn nhất là sự thiếu tự tin. Nhiều người Nhật xấu hổ bởi những sai lầm không thể tránh khỏi của một người học tiếng Anh đến nỗi họ không muốn thử chút nào. Nhiều người cũng phải vật lộn với những khó khăn của việc phát âm tiếng Anh: ví dụ như ngôn ngữ của họ không phân biệt âm "l" và "r". Các từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Nhật đã thay đổi đến nỗi người bản ngữ cũng không thể nhận ra: aidoru (idol - thần tượng), Makudonarudo (McDonalds), bareboru (volleyball - bóng chuyền). "Chúng tôi cần chấp nhận rằng chúng tôi không cần phải nói như người bản ngữ", ông Yoshida nói. "Chúng tôi chỉ cần giao tiếp."

Minh Thu
The Economist