Journey in Life: art

Search This Blog

Showing posts with label art. Show all posts
Showing posts with label art. Show all posts

Saturday, February 27, 2021

Van Gogh: Hội trưởng Hội nghệ sĩ mê Nhật

shared from fb archivu,
-----
Hôm trước nói về Steve Jobs mê Tân bản họa của Nhật đến tận cuối đời, một loạt các tên tuổi Âu Mỹ khác cũng mê nghệ thuật và văn hóa Nhật Bản, không riêng người sáng lập Apple hay Bowei, Freddie...

Có thể kể đến, Claude Monet, Édouard Manet, Edgar Degas, Frank Lloyd Wright….. Đam mê Nhật nhất có lẽ là cụ Vincent Van Gogh.

Trước năm 1854, giao thương với Nhật Bản bị hạn chế do sự độc quyền của Hà Lan. Manet, Degas, Monet, và Van Gogh, bắt đầu thu thập các bản in gỗ giá rẻ ukiyo-e.

Em trai Gogh tên là Theo cũng “theo” anh buôn bán các bản in này, và họ tích lũy được hàng trăm bản, hiện được đặt trong Bảo tàng Van Gogh, Amsterdam.

Trong một bức thư gửi Theo ngày 5/6/1888 Gogh nhận xét:
Tất cả các họa sĩ trường phái Ấn tượng đều có điểm chung là yêu và nhận ảnh hưởng từ các bức tranh từ Nhật Bản. Vậy tại sao không đến Nhật Bản.... Anh tin rằng sau tất cả thì tương lai của nghệ thuật mới vẫn nằm ở phía nam (ý nói Pháp), khi đó ở Paris chủ nghĩa Nhật Bản đang thịnh hành và ảnh hưởng đến tác phẩm của các họa sĩ Ấn tượng.

Một tháng sau Gogh lại viết cho Theo:
Tất cả tác phẩm của anh đều dựa trên phần nào đó từ mỹ thuật Nhật Bản.
Gogh đã mua loạt tranh khắc gỗ Nhật Bản đầu tiên ở Antwerp và treo lên tường phòng. Sau đó lại biên thư khoe Theo những bức tranh mới và kể lại những gì mình tưởng tượng ra.

Khi Gogh chuyển đến căn hộ ở Paris của Theo, cùng nhau sưu tập được bộ tranh in Nhật Bản khá lớn. Gogh nhanh chóng bắt tay vào xem chúng không chỉ là một sự tò mò thú vị. Ông xem các bản in như một ví dụ nghệ thuật và cho rằng chúng ngang bằng với những kiệt tác vĩ đại của lịch sử nghệ thuật phương Tây.

Nghệ thuật Nhật Bản là một cái gì đó giống như những gì nguyên thủy, như người Hy Lạp, như những người Hà Lan cũ của, Rembrandt, Potter, Hals, Vermeer, Ostade, Ruisdael. Một nguồn cảm hứng bất tận.

Gogh đã áp dụng những phát minh hình ảnh Nhật Bản này trong công việc của riêng mình. Ông thích các hiệu ứng không gian khác thường, sự mở rộng của màu sắc mạnh mẽ, các đồ vật hàng ngày và sự chú ý đến các chi tiết từ thiên nhiên. Và, tất nhiên, cả bầu không khí vui tươi kỳ lạ.

Gogh không chỉ đơn giản là sao chép các bản in của Nhật Bản. Ông bị ảnh hưởng một phần bởi người bạn nghệ sĩ Émile Bernard, người đã phát triển những ý tưởng mới về hướng đi của nghệ thuật hiện đại. Lấy bản in của Nhật Bản làm ví dụ, Bernard đã cách điệu các bức tranh của chính mình. Ông đã sử dụng những mảng màu đơn giản và đường viền đậm.

Lấy cảm hứng từ Bernard, Vincent bắt đầu giảm ảo tưởng về chiều sâu để ủng hộ một bề mặt phẳng. Tuy nhiên, ông đã kết hợp việc theo đuổi sự phẳng này với nét vẽ xoáy đặc trưng của mình.

Trong lần lưu trú tiếp theo tại Paris, Gogh đã thực hiện ba bản sao của ukiyo-e, dựa trên tranh của Hiroshige, một bậc thầy ukiyo-e Nhật Bản.

Sự nhiệt tình của ông đối với nghệ thuật Nhật Bản sau đó được tiếp nhận bởi các họa sĩ Ấn tượng. Trong một bức thư vào tháng 7 năm 1888, ông gọi các hoạ sĩ Ấn tượng là "những người Pháp Nhật Bản". Tuy nhiên, ông vẫn cực kỳ ngưỡng mộ các kỹ thuật của các nghệ sĩ Nhật Bản, thư cho Theo vào tháng 9 năm 1888 viết:
“Anh ghen tị với người Nhật Bản về tính rõ ràng mà mọi tác phẩm của họ đều có. Tác phẩm của họ không bao giờ chậm chạp, nhưng cũng không bao giờ được thực hiện quá vội vàng. Tranh của họ đơn giản như hơi thở, họ vẽ nên một hình mẫu chỉ với một vài nét chấm phá, nhẹ nhàng và đơn giản như thể chỉ là cài nút áo gi-lê vậy.”

Bức tranh Du nữ, Van Gogh chép lại của cụ #Hiroshige.

Thursday, February 25, 2021

Steve Jobs và Tân bản họa

shared from fb archivu,
-----
Một ngày tháng 3 năm 1983, ba chàng trai mặc quần jean áo phông bước vào một gallery nổi tiếng ở quận Ginza trung tâm Tokyo. Matsuoka Haruo, phụ trách phòng tranh, chào đón họ bằng tiếng Anh.

Một người trong số họ đưa danh thiếp có thiết kế đầy màu sắc, rất hiếm vào thời bấy giờ. Đó là Steve Jobs, chủ tịch 28 tuổi của Apple, hai người còn lại là đồng sáng lập Steve Wozniak và đồng nghiệp Rod Holt.

Jobs nói với Matsuoka anh muốn học về tân bản họa, và muốn sưu tầm những tác phẩm của trào lưu này.

Tân bản hoạ (shin-hanga) bản in tranh khắc gỗ đầu thế kỷ 20, đặc trưng bởi việc sử dụng màu sắc hiện đại và đánh dấu sự chuyển đổi từ các bản in ukiyo-e truyền thống phổ biến từ đầu thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19 tại Nhật.

Ngay hôm đó Jobs đã mua hai bức, một bức vẽ núi Phú Sĩ và hoa anh đào, chủ đề được các nhà sưu tập Âu Mỹ ưa chuộng, bức thứ hai là chân dung của một phụ nữ, rất hiếm và đắt tiền. Matsuoka đã rất ấn tượng về sự lựa chọn này.

Cuộc gặp gỡ ở Ginza đánh dấu sự khởi đầu của một tình bạn kéo dài hai thập kỷ.

Ở Nhật, có lẽ trong thời gian đàm phán hợp tác cùng hãng Sony, Jobs thường hay đến phòng tranh, nhiều khi một ngày đến hai lần và đến rất sớm lúc gallery còn ít người.

Dù Jobs nói muốn học về tân bản họa nhưng Matsuoka nhanh chóng nhận ra anh ta đã rất am hiểu trào lưu này và có lẽ đã nghiên cứu trong nhiều thập kỷ nên biết được bức nào là kiệt tác. Jobs đặc biệt quan tâm các bản in có từ trước thảm họa động đất Kanto năm 1923, chúng đều rất hiếm và có giá trị.

Jobs đã mua trên 40 tác phẩm trong đó có 25 bức của nghệ sĩ mà anh hâm mộ đó là Kawase Hasui (1883-1957). Anh thích những bức chân dung phụ nữ và những bức phong cảnh tuyết.
Khi Jobs cho ra mắt chiếc máy tính Macintosh đầu tiên vào tháng 1/1984, màn hình đã hiển thị bức tranh : “A Woman Combing Her Hair”, của Goyō Hashiguchi (1880-1921).

Bill Fernandez, một trong những người bạn thời thơ ấu của Jobs nói rằng niềm đam mê của Jobs có từ thời thiếu niên và chính mẹ của Bill, người từng theo học nghệ thuật Nhật Bản tại Đại học Stanford, là người đã đưa anh đến với tân bản họa. Jobs đã bị cuốn hút các bản in của Kawase treo trong nhà Bill.

Năm 2011, 28 năm sau lần đầu đến thăm phòng tranh Ginza, Jobs qua đời vì bệnh ung thư. Lần cuối cùng Matsuoka nghe được tin tức của bạn mình là vào mùa thu năm 2003 khi Matsuoka đã rời Ginza và lập một gallery riêng. Một ngày, ông nhận được một tin nhắn qua điện thoại tới phòng tranh của mình. “Chào Haru. Jobs đây!”

Nhiều năm sau, khi Matsuoka đọc cuốn sách về bạn mình, ông để ý đến một bức ảnh được chụp tại nhà Jobs vào năm 2004, trong đó có treo trên tường một bức chính là một trong hai tác phẩm Jobs đã mua cách đây nhiều năm, khi lần đầu tiên đến thăm phòng tranh Ginza.

Từ máy tính Macintosh đến iPhone, là kiến ​​trúc sư của vô số đổi mới công nghệ mang tính thời đại. Nhưng nhà sáng lập Apple cũng được biết đến với niềm đam mê văn hóa Nhật Bản, thường nói về cách lấy cảm hứng từ Phật giáo Thiền tông và tình yêu với văn hoá Nhật Bản.

Saturday, February 20, 2021

Nhiếp ảnh gia quý tộc Ý

shared from fb archivu,
-----
Adolfo Farsari sinh ra ở Ý, trải qua một cuộc đời binh nghiệp ngắn ngủi ở Mỹ trong nội chiến, sau một biến cố gia đình ông đã dành 5 năm đi du lịch rồi chuyển tới Yokohama năm 1873, thành lập công ty và sau này là một trong những công ty nhiếp ảnh thương mại lớn nhất, giàu có nhất và đáng chú ý cuối cùng do người nước ngoài sở hữu ở Nhật Bản.

Tự học nhiếp ảnh và mở studio của riêng mình vào năm 1885 khi ông mua lại cổ phần và phim âm của Stillfried & Anderson. Năm 1886, một trận hỏa hoạn đã thiêu rụi tất cả, trong năm tháng sau đó, ông đã đi khắp nước Nhật Bản, chụp những bức ảnh mới để thay thế vào đó. Ông mở lại studio của mình vào năm 1887 với 1000 bức ảnh trong tay.

Ba năm tiếp theo, nhờ sử dụng một cách tiếp cận sáng tạo: tô màu các bức ảnh của mình tạo ra những bức ảnh chất lượng với giá bán cao hơn, đặc biệt là những bức chân dung và phong cảnh được tô màu bằng tay của ông.

Không nhiều người Nhật có thể mua được khi một bức ảnh chân dung lúc đó thường có giá tương đương khoảng một tháng lương của một nghệ nhân. Chính vì vậy Farsari và các nhiếp ảnh gia thời đó thường tập trung vào hai loại chủ đề: “phong cảnh” và "phong tục" của Nhật Bản và đã thu hút được khách hàng là những người giàu có từ châu Âu và Mỹ qua du lịch.

Sau này Farsari đã phát triển thêm việc kinh doanh album ảnh. Studio của ông thường tạo ra các bản in đơn sắc được tô màu bằng tay. Những ảnh này thường được trang trí bằng tay và bọc bìa bằng gấm lụa hoặc ván sơn mài khảm ngà voi và vàng. Giống như những người cùng thời, Farsari hay chú thích và đánh số trên các bức ảnh của mình, thường là chữ trắng trên nền đen.

Ông thuê các nghệ sĩ xuất sắc, hoàn thành ảnh chất lượng cao với tốc độ hai hoặc ba ảnh in màu thủ công mỗi ngày. Các ảnh của ông có màu sắc trung thực và sử dụng những chất liệu tốt nhất. Do đó, tác phẩm của ông thường rất đắt, nhưng vẫn nổi tiếng và thường được du khách đến Nhật Bản khen ngợi, thậm chí còn được Rudyard Kipling, văn hào Anh người đoạt giải Nobel năm 1907, giới thiệu sau chuyến thăm Yokohama năm 1889 .

Cùng năm đó, Farsari đã tặng cho Vua Ý một album ảnh sang trọng. Đến những năm 1890, danh tiếng ngút trời của studio đã giúp ông độc quyền chụp ảnh Khu vườn Hoàng gia ở Tokyo.

Farsari trực tiếp phỏng vấn và tuyển các chuyên gia pha màu, họ phải có kinh nghiệp về kỹ thuật vẽ tranh của Nhật Bản. Sau khi được tuyển dụng, được đào tạo trong vài tháng, mức lương cơ bản thợ tô màu tăng đều đặn khi Farsari thấy hài lòng với công việc của họ.

Một người tô màu có năng lực và trung thành có thể kiếm được gấp đôi mức lương so với các studio khác của Yokohama và nếu làm thêm vào chủ nhật tiền công sẽ gấp đôi, họ cũng nhận được tiền thưởng và quà tặng khác thường xuyên.

Tuy nhiên, để đảm bảo đúng tiến độ giao hàng dày đặc, Farsari phàn nàn trong một bức thư gửi cho em gái ở Ý rằng, để thúc nhân viên của mình, ông ta thường giận dữ, chửi thề và thậm chí đánh đập họ.

Đến năm 1891, studio của Farsaricó 32 nhân viên, trong số đó 19 người là các nghệ sĩ tô màu bằng tay.

Năm 1885, Farsari có một con gái với một người phụ nữ Nhật Bản. Ông tự mô tả mình sống như một kẻ lầm đường lạc lối, kết giao với rất ít người bên ngoài công việc kinh doanh, và ngày càng mong được trở lại Ý. Ông đã cố gắng lấy lại quyền công dân Ý đã bị mất khi di cư sang Mỹ, và ông thậm chí còn hy vọng được làm kỵ binh và gia nhập tầng lớp quý tộc Ý.

Vào tháng 4/1890, ông và con gái rời Nhật Bản về Ý. Vào ngày 7/2/1898 Farsari qua đời tại nhà riêng của gia đình ông ở Vicenza.

Ảnh của #Farsari đã được phổ biến rộng rãi, được in hoặc nói đến trong sách vở và các tạp chí định kỳ, đôi khi được các nghệ sĩ tái hiện trên các phương tiện truyền thông khác; họ đã định hình nhận thức của người nước ngoài về con người và các địa danh Nhật Bản, và ở một mức độ nào đó đã ảnh hưởng đến cách người Nhật nhìn nhận về bản thân và đất nước của họ.

Monday, February 15, 2021

Huyền thoại jazz Chick Corea qua đời


Chick Corea, một huyền thoại jazz đương đại, vừa qua đời ở tuổi 79. Cùng với Herbie Hancock, Bill Evans, Keith Jarrett, ông thuộc nhóm pianist xuất sắc nhất của jazz từ thập niên 1970 trở lại đây, với rất nhiều kiệt tác được xem là mẫu mực của dòng standard, cũng như rất nhiều kiệt tác khác được xem là đỉnh cao của dòng avant garde và free jazz sau này. Âm nhạc của ông, nếu chưa quen tai, sẽ thấy nó rất khù khoằm, hỗn loạn và u uất, nhưng nếu đã tìm thấy sự đồng điệu, nó thành chất gây nghiện nhanh như tên lửa.

Return to Forever, Chick!
-----
Chick Corea, the pioneering (tiên phong) keyboardist and bandleader (người chỉ huy dàn nhạc nhỏ, thường chơi nhạc nhẹ) who died on Tuesday at 79, will be forever regarded as a crucial (quyết định, cốt yếu) architect (kiến trúc sư) of jazz-rock fusion (sự hợp nhất, liên hiệp).

It’s a fitting one-line tribute. Whether on his own, leading the collective Return to Forever or accompanying giants like Miles Davis (on landmark albums including “In a Silent Way” and “Bitches Brew”), Corea helped enrich (làm giàu thêm, làm phong phú) the lexicon (từ điển ngôn ngữ xưa, từ vựng) of jazz — merging its harmonic (hài hòa) language with the heaviness (and amplification) of rock and funk. But no description, even one this broad, can encompass a vision so limitless.

“After all, formal styles are only an afterthought — an outgrowth of the creative (sáng tạo) impulse (sự bốc đồng, cơn bốc đồng),” Corea told The New York Times in 1983. “Nobody sits down and decides to specifically write in a predetermined style. A style is not something you learn so much as something that you synthesize. Musicians don’t care if a given composition is jazz, pop or classical music. All they care about is whether it is good musicwhether it is challenging and exciting.”

For more than five decades, Corea modified his sound to follow that simple maxim (cách ngôn, châm ngôn) — chasing whims (ý  chợt nảy ra) from bebop to free jazz to fusion to contemporary classical. He recorded close to 90 albums as a bandleader or co-leader. And he always prioritized melody (giai điệu) and musicality over empty-calorie showmanship (though few could rival his raw skill on the Fender Rhodes).

Sunday, February 7, 2021

"Be bulging at the seams" nghĩa là gì?

Photo by Lerone Pieters

"Be bulging at the seams" = phồng ra tại đường phân giới -> nghĩa (lóng) là rất đông đúc, tấp nập.

Ví dụ
WHEN an African ranger goes on night patrol (tuần tra), they never travel light. Martin Kinyua's backpack is bulging at the seams, and when I attempt to lift the load myself, I can barely raise it from the ground.

As everyone prepares for back to school — or back to homeschool — this crossed my mind. What is the 2020 backpack going to look like? And why do I think it will be bulging at the seams? I notice the stores, both online and in-person, have all the usual sales. What are the students going to need? What won’t they need? Should parents be prepared for one set of supplies for the first part of the school session and then another after Christmas if the situation changes?

Currently, because of certain storage issues, the burden falls on hospitals. And supplies are limited. “They’re already stressed taking care of patients and really bulging at the seams with patients,” Dr. Pontzer said. Improving the supply chain is another hurdle — whether it’s vaccines, testing supplies or personal protective equipment. “The PPE is better now than it was in the springtime, so that has ramped up and there has been help,” Dr. Pontzer said. Convincing people to wear masks is another daunting task. The president can mandate them in federal buildings, but other policies are up to the states and communities.

Ka Tina

Thursday, August 27, 2020

Bức tranh ở Nhà Trắng được Trump yêu thích

Câu lạc bộ đảng viên Cộng hòa, bởi họa sỹ Andy Thomas...
-----

It hangs in the White House, and Trump seems to like the picture. What about the image is striking? I can think of a few things (by prof. tyler cowen):

1. There are no Founding Fathers (tổ phụ lập quốc) in the painting (bức họa, bức tranh), or other references (dẫn chiếu tới) to the more distant past (quá khứ xa xôi), and so "Republicans" are presented as a distinct (riêng biệt, khác biệt) club of their own, above and beyond the broader American tradition. (On the far right, is that Theodore Roosevelt, Vernon Smith, or somebody else?)

2. The first George Bush (upper left), and Gerald Ford, are both denied a "seat at the proverbial table." Bush seems to look on with admiration (ngưỡng mộ). The second George Bush, on the left side of the table seated, appears run down and haggard (hốc hác, phờ phạc), defeated by the job. He looks a wee bit like a paler Obama.

3. Nixon, who had to resign (từ chức), drinks alcohol while Trump seems to have Coca-Cola.

4. Reagan is shown as Trump's only peer, while Eisenhower is the one "closest" to Trump, and the one most appreciative (biết đánh giá, biết thưởng thức). Of course many of Trump's policy preferences (ưu tiên chính sách) seem aimed at returning us to the Eisenhower era in some way (higher tariffs (thuế cao hơn), lower immigration (dân nhập cư ít hơn), less regulation (ít điều tiết/quản lý), etc.)

5. Trump is the only one with a tie, except for TR, and it is a striking red tie (cà vạt đỏ nổi bật).

6. Hoover, Harding, and Coolidge are in the distant back right.

7. It reminds me of a variety of "Last Supper" (bữa tối cuối cùng) paintings, though not Leonardo's. There are twelve of them.

8. The background, with its column and twinklings lights, is reminiscent (gợi nhớ) of late 19th century French impressionism (trường phái ấn tượng).

9. Who is the bearded figure in the foreground, with his back to us? At first I thought it was Mephistopheles, but it turns out to be Lincoln. He is a passive onlooker with weak shoulders, and with no commanding or influential (gây ảnh hưởng) presence of his own.

10. Andy Thomas, the artist, also painted the very different The Democratic Club. You could write a short book on the contrasts between the two paintings, for instance notice the Democrats are drinking beer and have a much wider and open background, with fewer columns.

Saturday, April 11, 2020

"Kẹp Hạt Dẻ" - Nhà hát Bolshoi

Kẹp Hạt Dẻ (Щелкунчик, Балет-феерия) là vở ba lê gồm hai phần, ban đầu được dàn dựng bởi Marius Petipa và Lev Ivanov, với sự cộng tác về âm nhạc của Pyotr Ilyich Tchaikovsky (Opus 71). Vở kịch được chuyển thể từ truyện của nhà văn Đức E. T. A. Hoffmann: The Nutcracker and the Mouse King. Vở kịch được đưa ra công chiếu tại Nhà hát Mariinsky ở St Petersburg vào Chủ Nhật 18/12/1892, cùng với bản ô-pê-ra cuối cùng của Tchaikovsky, "Iolanta".

Màn I.

Cảnh 1: Nhà Stahlbaum.

Giao thừa đêm Giáng sinh, gia đình cùng khách mời tụ họp trong phòng khách để trang trí cây thông Noel để chuẩn bị cho lề hội đêm. Sau khi cây thông trang trí xong, bọn trẻ được bước vào. Chúng đứng ngẩn ngơ nhìn cây Noel lấp lánh với nến cùng đồ trang trí.

Lễ hội bắt đầu. Người người đi diễu hành. Quà được phát tặng cho bọn trẻ. Khi chiếc đồng hồ con cú điểm tám giờ, một nhân vật bí ẩn bất ngờ bước vào căn phòng. Đó chính là Drosselmeyer, vừa là ủy viên hội đồng địa phương, vừa là ảo thuật gia và cha đỡ đầu của bé Clara. Ông rất giỏi trong việc chế tạo đồ chơi và đã đem theo nhiều món quà cho lũ trẻ, bao gồm bốn con búp bê biết nhảy múa vui mắt. Sau đó ông cất chúng đi.

Clara và Fritz ủ rũ vì thấy những món đồ chơi thú vị bị đem cất, nhưng Drosselmeyer đã để dành một món khác cho chúng: một con búp bê kẹp hạt dẻ làm bằng gỗ hình chú lính, được dùng để làm nứt vỏ hạt. Những đứa trẻ khác khi trông thấy nó liền lờ đi, nhưng Clara vừa nhìn đã thích thú ngay lập tức. Drosslemeyer tặng chú kẹp hạt dẻ cho cô bé. Nhưng cậu bé Fritz cố tình làm gãy nó, vì thế Clara rất buồn. Drosslemeyer sửa nó cho cô và dặn hai đứa trẻ phải biết quý đồ chơi.

Đêm, khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ, Clara quay lại phòng khách thăm chú lính Kẹp Hạt Dẻ yêu quý. Khi cô đặt chân lên giường, chiếc đồng hồ điểm lúc nửa đêm và cô nhìn thấy Drosselmeyer đang ngồi trên đỉnh con cú của chiếc đồng hồ. Đột nhiên, lũ chuột khổng lồ bắt đầu kéo đến. Cây Noel trở nên cao vút. Chú Kẹp Hạt Dẻ cũng vụt lớn lên. Clara bị kẹt giữa cuộc chiến của đội quân bánh quy gừng và lũ chuột nhắt dưới sự điều khiển của Vua Chuột. Lũ chuột bắt đầu cắn binh lính bánh quy gừng.

Kẹp Hạt Dẻ dẫn đầu đội quân bánh quy gừng cùng với sự giúp đỡ của những chú lính chì và y tá búp bê. Khi thấy Vua Chuột chiếm ưu thế so với Kẹp Hạt Dẻ đang bị thương, Clara ném một chiếc giày vào hắn, giúp cho chú Kẹp Hạt Dẻ chiến thắng.

Cảnh 2: Rừng thơm.

Lũ chuột rút lui và Kẹp Hạt Dẻ hóa thành một chàng hoàng tử khôi ngô tuấn tú. Anh dẫn Clara đi qua vầng trăng sáng tới rừng thông, cùng những bông tuyết nhảy múa xung quanh, chào mừng cô đến với vương quốc của Kẹp Hạt Dẻ.

Màn II.

Cảnh 1: Vương quốc Bánh Kẹo

Clara và Hoàng Tử trong chiếc thuyền vỏ hạt dẻ được bầy cá heo kéo tới Vương quốc Bánh Kẹo, đang được tạm cai quản bởi Tiên Sugar Plum (Kẹo bi) cho tới khi Hoàng Tử trở về. Anh thuật lại chuyện Clara đã giúp anh thắng Vua Chuột như thế nào.

Clara được ca ngợi như một người anh hùng vì đã hóa giải được lời nguyền của Vua Chuột đối với Hoàng tử Kẹp Hạt Dẻ.

Một lễ hội được tổ chức với muôn ngàn bánh kẹo từ trên khắp thế giới: sô cô la của Tây-ban-nha, cà phê từ Ả-rập Xê-út, và trà của Trung Quốc đều nhảy múa trong ngày vui; kẹo mía đến từ nước Nga, thợ chăn chiên Đan Mạch nhảy cùng những chiếc sáo; Mẹ kẹo gừng cùng những đứa con nhỏ xíu ùa ra từ chiếc váy khổng lồ của bà cũng tham gia; một chuỗi các bông hoa múa điệu van. Màn cuối, nàng tiên Sugar Plum cùng chàng Hiệp Sĩ biểu diễn một điệu múa đôi.

Để kết màn, tất cả cũng nhau nhảy một điệu van, sau đó Clara và Hoàng Tử được trao vương miện Vương quốc Bánh Kẹo.

Trong bản gốc, các điệu nhảy ba lê được cho là "thể hiện một tổ ong lớn với những con ong chiến bảo vệ tài sản của chúng." Sau này, có nhiều vở nhạc kịch tạo ra những cái kết khác nhau so với bản đầu tiên.

Wednesday, April 8, 2020

"Boris Godunov" - Nhà hát Bolshoi

8.4

Boris Godunov (Борис Годунов),

Câu chuyện bi tráng, tấn hài kịch về nỗi thống khổ của xứ Muscovy, của Sa hoàng Boris, và của Grishka Otrepyev (Драматическая повесть, Комедия o настоящей беде Московскому государству, o царе Борисе и о Гришке Отрепьеве), vở bi kịch lịch sử được đại thi hào A. S. Pushkin viết năm 1825 khi nhà thơ bị quản thúc ở trại ấp Mikhailovskoye.
-----
Sơn Phạm dịch,

Cảnh 1
Một đám đông vây quanh Tu viện Novodevichy ở Moskva. Boyar*, Boris Godunov**, đã lui về tu viện sau cái chết của Sa hoàng Fyodor I***, người không có con nối dõi. Việc Boris sẽ được bầu lên ngai vàng là một quyết định từ trước, nhưng ông tỏ ra từ chối ngôi vua vì không muốn bị nghi ngờ là muốn nắm quyền. Được thị vệ sắp xếp trật tự, người dân cầu xin Godunov chấp thuận lên ngôi:
"Đừng bỏ rơi chúng con, Cha ơi,
Đừng để chúng con không nơi nương tựa!"

Nhưng Shchelkalov, Chủ tịch Quốc hội, tuyên bố rằng Boris không xiêu lòng.

Cảnh 2
Quảng trường trước Nhà thờ Assumption ở Điện Kremlin. Tiếng chuông trang nghiêm vang lên — Boris đã chấp thuận và đang được trao vương miện. Nhưng Sa hoàng Boris không vui, ông lòng đầy lo âu:
"Tâm hồn ta nặng trĩu,
Theo bản năng, lo sợ
Một điềm dữ
Quặn đau trái tim ta..."

Bên trong điện Kremlin, tiếng chuông đang vang lên và người dân lại vỡ òa tung hô.

Màn 1
Cảnh 1
Đêm khuya. Một phòng nhỏ trong Tu viện Chudov. Dưới bóng đèn dầu, vị tu sĩ thông thái Pimen đang viết một biên niên sử trung thực về lịch sử nước Nga. Trong biên niên sử của mình, Pimen tiết lộ bí mật về vụ sát hại, do Boris Godunov chủ mưu, đối với hoàng tử Tsarevitch Dimitri****, người "cản bước" ông ta lên ngai vàng. Grigory, một tu sĩ trẻ, cùng phòng với Pimen, tỉnh giấc. Anh ta lắng nghe câu chuyện của Pimen và những lo âu, đam mê và cuồng vọng cuồn cuồn như giông bão phá vỡ sự yên bình của màn đêm. Grigory nảy ra ý định mạo danh Tsarevitch và quyết chiến giành ngôi với Boris.

“Boris! Boris! Mọi người run sợ trước ngươi,
Không ai dám nhắc ngươi
Về số phận của đứa trẻ bất hạnh...
Nhưng vẫn có một ẩn sĩ trong phòng tối
Đang ghi lại bản cáo trạng đanh thép về tội ác của ngươi.
Và ngươi sẽ không thoát khỏi sự phán xét của mọi người,
Cũng như ngươi sẽ không thoát khỏi sự phán xét của thượng đế!"

Cảnh 2
Một quán trọ gần biên giới Litva. Ba tu sĩ hành khất, Varlaam, Missail và Grigory, ghé vào quán trọ. Varlaam, kẻ say rượu và háu ăn, hát bài ca về việc chiếm giữ Kazan*****. Grigory, hỏi bà chủ nhà trọ về đường ngắn nhất đến Litva. Một thị vệ bước vào nhà trọ: theo lệnh của Sa hoàng, anh ta đang truy lùng tu sĩ bỏ trốn, Grigory Otrepiev. Sau khi cố gắng đánh lạc hướng không thành, Grigory nhảy qua cửa sổ trốn thoát.

Màn II
Cảnh 3
Phòng riêng của Sa hoàng ở Điện Kremlin. Tsarevitch Fyodor****** đang xem "Cuốn sách những Bản vẽ Lớn", bản đồ đầu tiên của nước Nga. Ksenia, con gái của Boris, đang ngồi đau buồn trước bức chân dung của vị hôn phu vừa mất, người thừa kế ngai vàng Đan Mạch. Để làm cô vui, bà bảo mẫu già kể cho cô câu chuyện cười. Boris đến và nói chuyện dịu dàng với các con, ông rất vui khi thấy con trai đọc sách để nâng cao kiến thức. Nhưng ngay cả ở đây, bên những đứa con của mình, Boris vẫn dằn vặt đau khổ. Nước Nga đang trải qua nạn đói khủng khiếp. "Người dân bị ảnh hưởng với nạn đói lang thang như thú hoang", và họ đổ lỗi cho Sa hoàng vì tất cả những rắc rối của họ: "trên các quảng trường, họ réo tên Boris". Tiếng hắng giọng sâu bên trong Sa hoàng:
"Xung quanh là màn đêm u ám dày đặc,
Ô, một thoáng hoan vui cũng không thể lọt qua! ..
Một vài âu lo ẩn giấu,
Một tai họa bất đắc dĩ!..."

Boyar, Shuisky, tiến vào, một cận thần xảo quyệt và cầm đầu nhóm các boyar có ý định nổi loạn. Hắn ta mang đến một tin xấu: một kẻ mạo danh Tsarevitch Dimitri đã nổi dậy ở Litva. Hắn ta có sự bảo trợ của Quốc vương Ba Lan, quý tộc Ba Lan và Giáo hoàng. Boris yêu cầu Shuisky nói cho ông sự thật: rằng Shuisky có chắc chắn rằng đứa bé bị giết ở thị trấn Uglich là Tsarevitch Dimitri không? Shuisky, khoái trá khi thấy Sa hoàng dằn vặt, miêu tả vết thương sâu hoắm trên cổ họng của Tsarevitch và nụ cười thiên thần trên môi...
"Có vẻ như, trong nôi
Đứa bé ngủ yên lành..."

Shuisky rời đi, sau khi khiến những nỗi sợ hãi và kích động đang kìm hãm Boris càng dâng cao: Boris tưởng rằng ông đang nhìn thấy bóng ma của hoàng tử Dimitri.

Màn III
Cảnh 4
Phòng khiêu vũ trong vườn Mnishek, Thống đốc Sandomir. Giới quý tộc Ba Lan đang chuẩn bị hành quân về Moskva. Họ dự định đặt người được họ bảo trợ lên ngai vàng Nga: Grigory, tu sĩ chạy trốn khỏi tu viện Chudov, kẻ mạo danh Tsarevitch Dimitri (bị sát hại). Họ sẽ được giúp đỡ bởi các kế hoạch đầy tham vọng của con gái Thống đốc, cô Marina xinh đẹp, người mơ ước trở thành vợ của vị vua tương lai của nước Nga. Cuộc gặp gỡ được chờ đợi từ lâu (của Kẻ mạo danh) giữa Marina và Dimitri (người đang yêu Marina) diễn ra. Tuy nhiên, lời nói đầy toan tính bất ngờ của Marina, và quyết tâm của cô, mà cô ta không hề giấu diếm, để ngồi lên ngai vàng Nga khiến Kẻ mạo danh bối rối trong giây lát. Chợt nhận ra, Marina thuyết phục anh ta bằng những lời giả lả về tình yêu của cô dành cho anh. Tu sĩ Dòng Tên, Rangoni, ăn mừng chiến thắng của Kẻ mạo danh.

Cảnh 5
Một buổi sáng đầu đông. Tại Quảng trường Đỏ trước Nhà thờ chính tòa Thánh Vasily Hiển phúc ở Moskva. Một đám đông những người chết đói đang xôn xao bàn tán về chiến thắng của Kẻ mạo danh trước lực lượng của Boris. Một gã khờ chạy vào Quảng trường. Trẻ bụi đời vây quanh và giật đồng kopek khỏi anh ta. Sa hoàng đi ra khỏi Nhà thờ. "Bánh mì, bánh mì! Cho người dân đang đói bánh mì! Hãy cho chúng tôi bánh mì, cha, vì Chúa!" đám đông kêu gào. Bực mình bởi lũ trẻ, gã khờ gọi thẳng Sa hoàng: "Hãy ra lệnh giết chúng đi, như người đã giết Tsarevitch bé nhỏ". Boris nói các boyar không bắt giữ gã khờ:
"Mặc hắn ta! Hãy cầu nguyện cho ta, người dân thường..."
Nhưng gã khờ trả lời:
"Không, Boris! Không đời nào!
Sao ta có thể cầu nguyện cho một Herodes Đại đế*******?
Đức Mẹ Maria không cho phép điều đó..."

Màn IV
Cảnh 6
Khoảng rừng trống gần Kromy. Ban đêm. Những người nông dân, đang nổi dậy, lôi một boyar Kromy mà họ đã bắt làm tù binh vào. Họ nhạo báng boyar, nhắc cho ông ta nhớ về tất cả những mối hận thù của họ:
"Ngươi đã huấn luyện chúng ta đúng cách,
Khi giông bão mờ mịt, và khi những con đường lầy lội,
Ngươi bóc lột chúng ta,
Quất chúng ta bằng roi da..."

Sự xuất hiện của các tu sĩ, Varlaam và Missail, những người tố cáo tội ác của Boris, sát hại hoàng tử, khiến đám đông càng thêm tức giận. Họ đồng thanh hát những lời đe dọa:
"Một lực lượng trẻ tuổi hăng hái đang hoành hành,
Máu Cossack trong huyết quản rực cháy!
Một sức mạnh lật đổ vĩ đại đã trỗi dậy từ sâu thẳm..."

Các tu sĩ Dòng Tên, sứ giả của Kẻ mạo danh, xuất hiện. Nhưng sự xuất hiện của những ngoại nhân này làm dấy lên sự phẫn nộ của đám đông. Những người nông dân lôi các tu sĩ Dòng Tên vào rừng để chuẩn bị treo cổ.

Kẻ mạo danh, cưỡi ngựa vào khoảng rừng trống, vây quanh bởi quân đội, quý tộc Ba Lan và tu sĩ Dòng Tên. Hắn ta giải thoát cho boyar Kromy. Bằng cách hứa hẹn sự ưu ái và bảo vệ của mình, Kẻ mạo danh đã thuyết phục được nông dân tiến vào Moskva. Ngọn lửa bùng lên, bầu trời rực sáng. Chuông báo thức reo. Gã khờ xuất hiện, nhìn xung quanh sợ hãi. Gã đau đớn và thống khổ nói những lời "sấm truyền" về những rắc rối mới đang chờ đợi người Nga:
"Chảy đi, chảy đi, những giọt nước mắt đắng cay,
Khóc đi, khóc đi, những linh hồn chính thống Nga!
Chẳng bao lâu nữa, kẻ thù sẽ đến và màn đêm sẽ xuống,
Màn đêm u ám, dày đặc..."

Cảnh 7
Cung điện Granovitaya, trong điện Kremlin. Quốc hội Nga đang họp. Các boyar đang thảo luận về những hình phạt nào Kẻ mạo danh phải gánh chịu khi bị bắt. Shuisky xuất hiện. Hắn miêu tả cảnh tượng trong phòng riêng của Sa hoàng, khi Sa hoàng đang xua đuổi bóng ma hoàng tử Dimitri bị sát hại. Đúng lúc đó, Boris chạy vào, gào thét: "Biến đi, nhóc con biến đi" Nhìn thấy các boyar, Boris lấy lại tự chủ và nhờ họ tư vấn, giúp đỡ. Chỉ chờ có thế, Shuisky gợi ý Sa hoàng lắng nghe vị tu sĩ thông thái đã đến để nói với họ về một bí mật lớn. Boris đồng ý. Pimen được đưa vào. Câu chuyện về sự hồi phục thần kỳ của một người đàn ông ốm yếu bên ngôi mộ của hoàng tử Dimitri bị sát hại, ở Uglich, khiến Boris không thể chịu đựng được và ngã xuống sàn bất tỉnh. Khi tỉnh lại, Sa hoàng đang hấp hối khuyên con trai về cách bảo vệ vương quốc:
"Đừng tin những lời vu khống của bọn boyar phản loạn,
Theo dõi sát sao các thỏa thuận bí mật của chúng với Litva,
Trừng phạt thật khắc nghiệt đối với tội phản quốc,
Lắng nghe cẩn thận những gì người dân nói -
vì sự phán xét của họ không phải là giả nhân giả nghĩa..."

Tiếng chuông đám tang ngân vang, tiếng tụng kinh của ca đoàn tu sĩ, Sa hoàng qua đời. Tsarevitch Fyodor bàng hoàng, kính cha lần cuối, đứng dậy... Và ngay lập tức, Shuisky, không bị ai nhìn thấy, đã rón rén đi trước, chặn đường Fyodor lên ngai vàng.
-----
* Tước hiệu Boyar ở Nga: tước hiệu này chỉ thấp hơn tước hiệu hoàng thân, thuộc về những gia đình hoàng tộc cũ làm chủ những vùng đất được cha truyền con nối. Họ thường nắm giữ chức vụ trọng yếu qua Hội đồng Boyar (Boyar Duma), thường có chức năng hành pháp kết hợp tư pháp. Dưới thời Pyotr Đại đế, Hội đồng Boyar có khoảng 100 người.

** Godunov tham gia vào chính quyền của Ivan Bạo chúa với tư cách là chỉ huy quân cận vệ của nhà vua sau khi chiến dịch Serpeisk năm 1570 giành thắng lợi (Boris từng là tay bắn cung thiện xạ). Để dần dần lên nắm quyền lực cao hơn, Boris chủ động mai mối em gái mình là Irina Godunova với con trai của Sa hoàng là Feodor Ivanovich, 14 tuổi (1557–1598) - người thừa kế tương lai của nước Nga. Nhân dịp này, Godunov được phong thành Boyar.

*** Sa hoàng Fyodor I: Nga hoàng cuối cùng của nhà Rurik nước Nga (1584-1598). Ông là con của Ivan Bạo chúa và Anastasia Romanova. Ông sinh ra ở Moskva và đăng quang ngày 31/5/1584 ở Moskva, khi còn là một thái tử trẻ và bất tài. Fyodor I qua đời năm 1598 mà không có con (một đứa con gái đã chết năm 1594), và anh vợ Fyodor I là Boris Godunov lên ngôi.

**** Con của Ivan Bạo chúa với công chúa Maria Nagaya. Sau khi hoàng tử bé Dmitri mất lúc 10 tuổi, người dân Nga vì nghi ngờ Godunov có dính dáng đến âm mưu ám sát hoàng tử nên họ nổi dậy khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị đàn áp, quả chuông báo tử của hoàng tử Dmitri thì được Godunov đem ra công khai một thời gian rồi đưa ra bỏ ở vùng Sibiria. Một hội đồng điều tra do Suiskii lập ra và kết luận, cậu bé chết vì đã tự cắt cổ họng của mình trong một cơn động kinh. Bà vợ góa của Ivan Bạo chúa thì tuyên bố rằng con trai bà đã bị giết bởi những kẻ thân cận của Boris. Tội lỗi của Godunov không được xét xử và ngay sau đó, mẹ của Dmitri bị buộc phải lấy mạng che mặt và vụ ám sát hoàng tử Dmitri bị chìm vào quên lãng.

***** Kazan: thành phố thủ phủ của Cộng hòa Tatarstan, Nga. Đây là thành phố lớn thứ sáu của Nga, nằm ở nơi hội lưu của sông Volga và sông Kazanka trong lãnh thổ Nga ở châu Âu. Pháo đài Kazan Kremlin (hàng trăm năm tuổi) của thành phố được xếp hạng là di sản thế giới.

****** Fyodor II (con của Boris Godunov). Godunov qua đời sau một thời gian chống chọi với căn bệnh đột quỵ vào tháng 4/1605. Fyodor II lên ngôi được vài tháng thì bị sát hại cùng với mẹ mình bởi những người chống đối Godunov vào tháng 10/1605. Hai người con khác là Ivan (chết trẻ) và Xenia (bị buộc phải đi tu sau khi chồng mới cưới bất ngờ qua đời bất ngờ năm 1602). Gia đình Godunov được chôn chung trong nhà thờ thánh Sergius Lavra.

******* Theo chương 2 của Phúc âm Mátthêu, Herodes Đại đế là người "thà giết lầm hơn bỏ sót", cho giết tất cả các bé trai mới sinh tuổi từ 2 tuổi trở xuống ở vùng Bethlehem, nơi Chúa Giêsu ("vị vua mới sinh" của người Do Thái) ra đời.
:))

Sunday, April 5, 2020

"Marco Spada" - Nhà hát Bolshoi

"đưa nhà hát đến nhà bạn",

cách ly toàn xã hội, ngồi nhà xem vở ballet "marco spada"


Màn 1

Cảnh 1
Cùng nhau tụ tập ăn mừng đám cưới, những người nông dân phàn nàn với Thống đốc thành Rome về những hành vi sai trái của một Marco Spada nào đó. Tuy chưa bao giờ thấy hắn, nhưng họ xôn xao bàn tán về các vụ cướp mà hắn thực hiện. Một trung đoàn kỵ binh vào làng. Bá tước Pepinelli, trung đoàn trưởng, bị hút hồn bởi vẻ đẹp quyến rũ của Marchesa Sampietri -- con gái Thống đốc. Nhưng Marchesa Sampietri đã được hứa hôn với Hoàng tử Frederici... Lợi dụng tình hình, Marco Spada, ẩn danh, vét sạch túi người xem. Ai nấy đều thất kinh, sửng sốt! Mưa trút xuống xua tan đám đông. Người duy nhất còn lại trên quảng trường là thầy dòng Borromeo, người mà Marco Spada đã khéo léo lấy hết những đồng tiền công đức mà ông có.

Cảnh 2
Marchesa, Thống đốc thành Rome và Bá tước Pepinelli, những người đã bị lạc trong một chuyến leo núi, không hề biết rằng họ đang lánh nạn trong hang ổ của Marco Spada. Angela, con gái của tên cướp, cũng hoàn toàn không biết gì về các hoạt động bí mật của cha mình. Tưởng không có ai ở nhà, tay chân của Spada ùa vào phòng nhưng rồi, nhanh chóng rút lui. Pepinelli, người vừa chứng kiến cảnh đó, cảnh báo Spada, rằng ngôi nhà của ông đã bị bọn cướp "ghé thăm". Trung đoàn kỵ binh vào vị trí. Các cửa sập trên sàn lại mở ra, những bức tranh treo tường chuyển dịch — nhưng lần này chỉ để lộ ra một chiếc bàn đầy thức ăn và những cô gái trẻ quyến rũ khiến các vị khách ngạc nhiên không hiểu!

Màn II

Thống đốc mời Marco Spada và Angela đến tiệc khiêu vũ. Đúng lúc Hoàng tử Frederici chuẩn bị xin phép Spada để cầu hôn con gái hắn, thầy dòng Borromeo xuất hiện và than vãn với tất cả mọi người rằng ông ta đã bị cướp. Borromeo nói ông sẽ nhận ra kẻ trộm. Spada quyết định đã đến lúc lủi đi, nhưng trước khi kịp làm vậy, Borromeo đã chỉ mặt hắn. Đã hiểu ra mọi chuyện: Angela choáng váng nói với Hoàng tử Frederici rằng cô không thể làm vợ chàng. Hoàng tử oán giận ngay lập tức tuyên bố hứa hôn với Marchesa. Giờ đây đến lượt Pepinelli bối rối.

Màn III

Cảnh 1
Pepinelli quyết định công khai tình yêu của mình với Marchesa lần cuối và, Marchesa đồng ý, đến gặp anh trong bộ váy cưới. Đột nhiên, bọn cướp xuất hiện từ mọi hướng, bắt cóc cả Marchesa và Bá tước.

Cảnh 2
Vây quanh bởi thủ hạ, Marco Spada hết sức ngạc nhiên khi thấy Angela trong trang phục thổ phỉ. "Sống hay chết! Con chấp nhận số phận của mình và muốn sống ở đây với cha và tất cả mọi người." Thầy dòng Borromeo bị buộc phải làm lễ kết hôn cho Marchesa và Pepinelli.

Trung đoàn kỵ binh đang tiến gần, bọn cướp quyết định rút lui trốn trong một hang động, bắt giữ Hoàng tử Frederici và Thống đốc thành Rome mà chúng gặp trên đường. Nhưng Angela đã can thiệp và cứu mạng sống của cả hai. Tiếng súng vang lên. Marco Spada bị trọng thương. Hắn xuất hiện, lảo đảo. Trước khi chết, hắn thú nhận lần cuối khiến những người lính chết lặng: Angela không phải là con gái hắn. Lời nói dối này cứu cô khỏi bị bắt và mở đường cho cuộc hôn nhân của cô với Hoàng tử Frederici.


Vở ballet được tạo ra tại nhà hát Paris năm 1857 bởi biên đạo Joseph Mazilier và dần chìm vào quên lãng. Đến năm 1981, tác phẩm được hồi sinh bởi bàn tay biên đạo của Pierre Lacotte cho nhà hát Rome. Xuất hiện tại nhà hát Bolshoi từ tháng 8.2013, Marco Spada đã đón nhận được sự yêu mến của khán giả với câu chuyện thu hút về tên trộm ẩn danh Marco Spada...

Bài trước: "Người đẹp ngủ trong rừng" - Nhà hát Bolshoi

Saturday, December 29, 2018

Nhạc điện tử gây nghiện

các nhà tổ chức lễ hội âm nhạc (điện tử) cố gắng làm việc với chính quyền địa phương (những người chỉ muốn ko có hội hè gì cả, e sợ rối loạn công cộng, mất ổn định xã hội/chính trị, giá trị văn hóa, phải thêm trách nhiệm -> có khi cắt điện, nên ko biểu diễn được :D) về việc giải quyết tận gốc vấn đề: lạm dụng chất ma túy, vốn đã tồn tại từ lâu, chứ không phải do lễ hội âm nhạc (mới có),
-----

On top of the logistical challenges (thách thức về hậu cần) that accompany (đi kèm với) music festivals in any country, promoters across much of Asia face an additional headache (vấn đề đau đầu): conservative governments (chính quyền bảo thủ) that see the events as threats to public safety (an ninh), political stability or social and religious values. Or perhaps all of the above.

“Most Asian governments would rather you not do parties so you don’t cause trouble. The authorities wouldn’t want to take responsibility because a festival, to them, is like a liability (gánh nợ, cục nợ).”

...The year before, the Future Music Festival Asia in Kuala Lumpur, Malaysia, was canceled on its third day after 19 festivalgoers were arrested (bị bắt) on suspicion (tình nghi) of drug possession (sở hữu ma túy) and six others died. The local news media suggested at the time that the deaths (chết người) were drug-related, but a forensic (pháp lý, pháp y) pathologist (nhà nghiên cứu bệnh học) later reported that they had been caused by heatstroke (sốc nhiệt).

while Malaysia’s electronic music scene was slowly rebuilding, his company was “still having conversations with authorities to educate (giáo dục, huấn luyện, rèn luyện) them on what electronic dance music is all about.”

“Drug abuse has been around even before music festivals started becoming a norm here,” he said. “What we would want to do is encourage the relevant authorities (cơ quan chức năng có thẩm quyền liên quan) to tackle (giải quyết) the real problem (gốc vấn đề), which is drug abuse, not music festivals.”

Friday, June 1, 2018

Những hình xăm kể chuyện

hai cha con làm dịch vụ lễ tang bảo quản và đóng khung hình xăm của người quá cố - để người thân có thể treo trên tường làm kỷ niệm...
-----

Kyle Sherwood and his father Michael are morticians (= undertaker: người làm dịch vụ lễ tang) in the Cleveland, Ohio area
They also run Save My Ink Forever, a business that preserves and frames the tattoos (hình xăm) of the deceased (quá cố) for their loved ones
About two years ago they developed a process for preserving tattoos, which they have kept highly secret (bí mật)
When a person dies, his or her family contacts Save My Ink Forever about having their loved one's tattoo preserved
The company then sends a tattoo removal kit and instructional materials to the family's funeral director, who removes the tattoo
The removed tattoo is put into a dry preservative (chất bảo quản khô) and shipped to Save My Ink Forever, where it is preserved over the next three to four months
The company then matches each tattoo to a custom frame (khung) with UV glass and ships it back to the family
For a tattoo that is five inches by five inches, the entire process costs $1,599, including preservation, shipping and the custom frame
Save My Ink Forever does about 100 preservations a year, Kyle says


Saturday, April 7, 2018

Triển lãm Thangka - Nghệ thuật của sự giác ngộ

Việc vẽ tranh thangka bắt đầu ở Nepal vào thế kỷ 11, sau đó được phát triển mạnh ở các vùng đất thuộc Bắc Himalaya. Về niên đại lịch sử, thông qua Nepal, Phật giáo Đại thừa đã truyền sang Tây Tạng trong triều đại Angshuvarma hồi thế kỷ 7. Ảnh hưởng của nghệ thuật Nepal lan rộng đến Tây Tạng và thậm chí đến Trung Hoa vào thế kỷ 13. Các nghệ nhân Nepal còn được mời đến triều đình của hoàng đế Trung Hoa theo yêu cầu chính thức.

Việc ra đời của tranh thangka Tây Tạng có thể quy công cho các nghệ nhân Nepal, những người chuyên tạo tác một khối lượng lớn các tác phẩm kim loại, tranh tường cũng như các bản kinh có hình vẽ minh họa ở Tây Tạng. Nhận thấy nhu cầu to lớn về tượng thờ ở Tây Tạng, những nghệ nhân này đã theo chân các nhà sư và đội ngũ thương nhân. Họ mang theo ko chỉ các tác phẩm điêu khắc kim loại mà cả những bản kinh Phật chép tay. Để đáp ứng nhu cầu ngày một cao, các nghệ nhân Nepal đã tìm tòi và khởi xướng một loại tranh tôn giáo mới trên vải, có thể cuộn lại dễ dàng để mang đi. Loại tranh này trở nên phổ biến ở cả Nepal lẫn Tây Tạng, và từ đó một trường phái tranh mới – tranh Thangka – đã ra đời và phát triển thịnh đạt vào hồi thế kỷ 9 hay thế kỷ 10, và vẫn được ưa chuộng cho đến ngày nay.

Một trong những tiêu bản tranh Thangka Nepal có niên đại thế kỷ 13-14 vẽ Đức Phật A Di Đà với chư Bồ Tát bao quanh. Một bức tranh Thangka khác có đến ba niên đại (muộn nhất là năm 1369), được ghi chép trong các văn bản chính thức là bức Thangka cổ nhất mà chúng ta đã được biết. Bức “Mandala Vishnu” có niên đại năm 1420 là ví dụ khác về tranh vẽ của thời kỳ này. Các tranh Thangka ban đầu của Nepal rất đơn giản về hình họa lẫn bố cục vị thần chính – một hình vẽ lớn chiếm vị trí trung tâm – và các vị thần linh thứ yếu, nhỏ bé hơn, bao quanh. Ngoài Nepal, tài liệu lịch sử có ghi rằng hội họa Trung Quốc cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến hội họa Tây Tạng nói chung đầu thế kỷ 14 và đạt đỉnh cao vào thế kỷ 18. Theo Giuseppe Tucci (1894-1984), một học giả văn hóa phương đông người Ý, thì vào khoảng đời nhà Thanh “một nền nghệ thuật mới đã phát triển ở Tây Tạng, trong đó có những ảnh hưởng ít nhiều cái vốn quý của nghệ thuật trang trí thanh nhã.”

Vẽ tranh Thangka là một trong các bộ môn chính của nghệ thuật Tây Tạng.

Trong thời trị vì của Pháp Vương Trisong Detsen (742-797), các bậc thầy vẽ tranh Thangka Tây Tạng đã nâng cao nghệ thuật này trong việc tìm tòi và học hỏi từ truyền thống của các xứ sở khác. Nét vẽ, quy tắc trắc lượng nhân thể, trang phục, các phẩm vật gia trì và trang sức hoàn toàn dựa theo phong cách Ấn Độ, việc vẽ hình tướng được dựa theo phong cách Nepal và hậu cảnh của tranh là theo phong cách Trung Hoa. Nhờ sự kết hợp đa chiều đó, Thangka trở thành nghệ thuật phong phú và đầy độc đáo.

Nguồn: Tây Tạng huyền bí và nghệ thuật sinh tử (Đặng Hoàng Xa), from fb Nguyễn Huy Khánh

Saturday, June 24, 2017

Điệu Valse, Strauss và chủ nghĩa phát xít

shared from fb Nam Nguyen,
-----
(Dành cho người yêu âm nhạc và lịch sử)

Những ngừoi yêu âm nhạc nhưng không phải chuyên gia như tôi và các bạn có lẽ còn trả lời được câu hỏi: “Nhạc sỹ nào viết valse hay nhất?”. Đáp án thì là Johann Strauss, dễ thôi vì quả là ai cũng biết và yêu quý nó - “Dòng sông Đanuyp xanh”:


riêng tôi thì mê mẩn nó từ nhỏ qua băng cối với giọng ca Thái Thanh:


Ai rành hơn thì còn nhớ được ông là “con” hay “II” vì bố ông tên giống hệt và cũng là nhạc sỹ sáng tác tài danh. Có thể coi Áo-Đức xưa kia là quê hương của điệu valse, có thể dân Pháp hay Sec không công nhận đâu nhưng sự thực không ở đâu người ta sáng tác, chơi và nghe nhiều như ở đấy. Và nếu thấy những buổi vũ hội valse rực rỡ với hàng trăm đôi trai tài gái sắc lướt nhẹ dưới tiếng nhạc của Strauss “con” hay "cha" thì chúng ta ít ai lại ngờ được rằng dòng họ Strauss này lại gian truân đến thế...

Johann Strauss “Cha” (1804-1849) cũng là nhạc sỹ sáng tác kiêm chỉ huy dàn nhạc hoàng gian Wien thế kỷ 19, tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là “Hành khúc Radetsky” mà rất nhều người đã thuộc:


Ông có tuổi thơ cùng khổ, 7 tuổi mất mẹ, 12 tuổi cha tự tử vì vỡ nợ, phải làm phụ việc trong xưởng và nhờ biết đánh vĩ cầm nên tối đi kéo đàn ở các quán rượu. Một ông thầy đã phát hiện ra tài năng này và đưa về để dạy dỗ, chàng trai tiến bộ nhanh đến mức 23 tuổi đã lập ra dàn nhạc của riêng mình, 28 tuổi đã nổi tiếng khắp châu Âu. Ông chính là mẫu hình vừa chỉ huy dàn nhạc, vừa solo violin (như Andre Rieu ngày nay chẳng hạn là bắt chước theo). Ông được hoàng gia yêu mến và chọn là chỉ huy dàn nhạc từ lúc còn rất trẻ. Châu Âu coi ông là “Mozart của valse”. Tưởng như mọi sự đều hoàn hảo nếu không có... tính khí của ông. Quá nổi tiếng nên phụ nữ đeo bám khắp nơi, riêng với cô nhân tình (ở ngay cùng tòa nhà chỉ căn hộ khác) ông đã có tới... 7 đứa con, cùng thời gian với bà vợ, chả cần giấu diếm! Thế nên Johann “con” căm thù cha từ tấm bé! Cậu bé thề trả thù cho mẹ (là bà vợ chính thức) bằng cách nổi tiếng hơn cha, viết nhiều nhạc phẩm hơn cha, và bị ... cha cấm học nhạc (thế mà sau này có 3 người con của “cha” trở thành nhạc sỹ sáng tác đấy!). Cậu con lén lút học violin và khi lớn lên vẫn quyết vào trường nhạc, mặc cho cha ngăn cản. Mâu thuẫn cha con lên tới mức sợ con mình không được nhận bằng nếu cha phản đối người mẹ thương con đã xin ly dị trước khi con tốt nghiệp (còn người cha trêu ngưoi bằng cách cưới ngay cô hàng xóm 7 con kia sau khi tước hết quyền thừa kế của vợ cũ và các con).

Strauss “con” (1825-1899) cũng nhanh chóng nổi tiếng nhưng làm gì cũng khó, dàn nhạc của anh xin chơi ở đâu cũng bị “cha” cản phá, bây giờ lại thêm tính đố kỵ đồng nghiệp giữa 2 cha con nữa. May mà Sa hoàng đã mời anh sang chỉ huy dàn nhạc mấy mùa và thế là Strauss “con” có những điều kiện tốt nhất để phát triển tài năng cộng với một tình yêu rất đẹp với cô gái quý tộc Nga (mà vì dòng dõi Strauss quá “thấp” nên không được cưới!). “Con” lôi cả hai người em sang đây để chơi nhạc trêu ngươi ngừoi cha, mặc dù trình độ họ còn thua xa hai cha con Johann. Quay trở lại châu Âu, “con” còn vượt cha xa ở chỗ có ... 14 nhân tình, còn con rơi thì khó mà đếm được! Cô vợ đầu của “con” rất nổi tiếng vì là diễn viên, già hơn anh 7 tuổi và có... 7 con! Một cuộc hôn nhân kéo dài, thực sự hạnh phúc và thăng hoa!

1848 khi cách mạng nổ ra hai cha con ở hai bên của chiến tuyến, viết và chơi nhạc để ủng hộ tinh thần binh sỹ, hăng hái đến mức sau cách mạng “con” phải ra tòa. Chỉ cái chết bất ngờ của “cha” mới dàn hòa được cha con nhà này: đám ma lớn nhất cho một nhạc sỹ với 30000 người đi đưa, tại đây “con” đã chơi khúc tưởng niệm của Mozart (đau đớn thay cho thiên tài Mozart trước kia khi chết không một kẻ đưa ma!). Và sau đó “con” bỏ tiền túi ra xuất bản lại hàng trăm tác phẩm của cha mình! Cả dàn nhạc của ‘cha” xin theo về làm việc với “con” và trở thành dàn nhạc tư nhân nổi nhất châu Âu thời đó...

Cuộc ganh đua kỳ lạ giữa cha con Strauss đã để lại cho hậu thế nhiều tuyệt tác, và dân nhạc coi “con” là thiên tài thực sự, “con hơn cha là nhà có phúc”. Ông “con” lại chỉ huy dàn nhạc của Wien như bố, trở thành “vua của những điệu valse”, ví dụ với tác phẩm “Emperor Waltz” :


Vợ chết, tuy đã cao tuổi nhưng Strauss còn kịp cưới 2 cô vợ trẻ nữa! Sau khi ông mất năm 1899 thì các tác phẩm của hai cha con được nước Áo coi như “quốc hồn quốc túy” và chơi đều đặn trong mọi dịp, cho đến 1938 khi Áo nhập vào nước Đức phát xit, thì trớ trêu làm sao Gestapo lại lục ra tài liệu cụ nhà Strauss này là dân Do Thái! Như lịch sử cho thấy lũ phát xít không dừng tay trước bất cứ cái gì, nhưng cuối cùng chắc cũng phải xin ý kiến cấp cao nhất, rồi làm giả giấy tờ để dấu nhẹm chuyện xấu mặt này đi!

Chuyện phát xít cũng phải chùn tay trước điệu valse đưa ta đến với một nhân vật Strauss nữa, mặc dù chả có họ hàng gì, ở nước Đức và có lẽ quan trọng nhất thì ông này về tính cách khác cha con nhà bên Áo một trời một vực! Richard Strauss (1864-1949) là một thiên tài mà chúng ta hầu như không biết, đơn giản vì ta đa số chả chịu nghe nhạc cổ điển, chứ giới sành nhạc bắt buộc phải biết đến ông như một nhà sáng tác và chỉ huy dàn nhạc kỳ tài - tầm cỡ của ông phải sánh với Strauss “con” chứ “cha” còn chưa sánh được! Có lẽ nghe một vài đoạn nhạc ngắn của ông thì còn “dễ” – đây là đoạn trích nhỏ nhưng có lẽ quen thuộc nhất của một giao hưởng của ông:


Cả cuộc đời ông dành cho âm nhạc và bà vợ gốc Do Thái, cũng là một diễn viên opera nổi tiếng, chuẩn mực chứ không hề “quậy” như những người Áo cùng mang dòng họ Strauss. Thế nhưng chính ông lại bị lịch sử và ngừoi đời cười chê – do cộng tác chặt chẽ với phát xit. Ông là chủ tịch hội nhạc sỹ Đức thời Hitler, nhiều lần gặp gỡ Hitler, Himle, Goebbel... thực ra có nỗi khổ tâm riêng: ông gốc Do Thái, vợ thì Do Thái “xịn”, hợp tác cũng với những người Do Thái quá nổi tiếng như Stefan Zveig... nên nếu không làm thế thì có lẽ bị vào trại tập trung rồi vào lò hơi ngạt sớm rồi. Lãnh đạo Đức thừa biết, nhưng vì trọng cái tài và uy tín âm nhạc của ông mà đành làm ngơ (nhưng đã không tha cho con trai và vợ ông, tuy vậy ông cứu được họ khỏi tù tội!). Sau chiến tranh chính ông suýt đi tù vì quá khứ thân phát xít. Các tác phẩm của ông nhiều năm không được biết đến ở Đông Âu. Sau khi ông mất năm 1949 dần dần âm nhạc của ông trở lại, bởi vì chính âm nhạc là lời bào chữa tốt nhất cho ông. Người ta khó có thể hình dung âm nhạc cổ điển lại thiếu được ông - Richard Strauss – cũng như thiếu đi cha con Johann Strauss.

Ghi chú: âm nhạc là một thế giới riêng, là nơi không thể ‘cấm vận” đơn giản thế được. Đông Âu vẫn phải nghe Wagner - nhạc sỹ số 1 của Reichstag. Phương Tây vẫn phải nghe Prokofiev dù ông viết giao hưởng bằng lời của 3 vị cộng sản tiền bối, hoặc dù cho Shostakovich chuyên viết giao hưởng cách mạng, thì vẫn công nhận “Điệu valse số 2” của ông là bản valse hay nhất trong lịch sử:



Popular Now