Journey in Life: November 2013

Saturday, November 30, 2013

Bố chơi zombie không rủ em nhé!

Tâm An (30/11/2013)

Friday, November 29, 2013

Bé trai Nhật Bản 6 tuổi ủng hộ nạn nhân bão Haiyan bằng tiền bỏ ống heo


Bé trai 6 tuổi Shoichi Kondoh đã không do dự dùng tiền tiết kiệm của bản thân để ủng hộ nạn nhân trận siêu bão Yolanda sau khi xem được sự tàn phá của nó trên TV. 

Em đã cùng với mẹ, Miho Kondoh, đến Đại sứ quán Philippines ở Nhật Bản để trao 5.000 yên từ số tiền bỏ ống heo của mình. 

Lãnh sự Bryan Dexter Lao đã bày tỏ lòng biết ơn của Đại sứ quán tới lòng tốt và sự cảm thông chân thành của người quyên tiền trẻ tuổi nhất cho Đại sứ quán.


Ga Takebashi ở Nhật Bản

Ga Takebashi (竹橋駅, Takebashi-eki) là một ga tàu trên tuyến Metro Tozai line ở Chiyoda, Tokyo, Nhật Bản. Ga nằm ngay dưới trụ sở chính của tờ báo Mainichi Shimbun trong tòa nhà Palaceside Building và ngay sát cạnh phía Bắc của Hoàng cung. Ga cũng gần với các điểm du lịch khác như Bảo tàng nghệ thuật hiện đại quốc gia Nhật Bản ở Tokyo (cách 3 phút đi bộ) và Bảo tàng Khoa học (7 phút đi bộ).

Khuôn viên Kanda campus của trường Hitotsubashi cách ga chỉ 200 mét, là nơi langdu đi học hàng ngày. Mỗi năm, đến mùa Noel, một cây thông rất cao, to nhiều trang trí màu sắc được dựng lên ở sảnh ga cho hành khách đi qua thưởng lãm. Năm nay, như thường lệ, cây thông đã bắt đầu được dựng lên.
Photo courtesy Nguyen Kien.


Samuel Insull: Sự sụp đổ của một đế chế

Giấy chứng nhận cổ phiếu của một công ty con của Samuel Insull.  Nguồn: Scripophily.com

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc thậm chí cả đế chế công nghiệp lớn nhất nước Mỹ cũng không thể miễn nhiễm với các thử thách kinh tế của cuộc Đại Khủng hoảng.

Khi mới 19 tuổi, Samuel Insull đã là người trực tổng đài cho công ty điện thoại Vương quốc Anh của Thomas Edison. Hai năm sau, ông đã thuyết phục được và trở thành thư ký riêng của nhà phát minh vĩ đại, xuyên Đại Tây Dương và chỉ trong vòng một thập kỷ đã trở thành một trong những đối tác sáng lập của Edison General Electric Co., tiền thân của Tập đoàn General Electric Co. ngày nay.

Khi nhà tư bản tài chính Charles Coffin, được vinh danh là Chủ tịch đầu tiên của công ty vào năm 1892, Insull đã rất tức giận. Ông chuyển đến Chicago và tiếp quản công ty đang gặp khó khăn Chicago Edison Co. vào năm sau.

'Ông ta cạnh tranh với các công ty đối thủ, thực hiện các vụ áp phe với các chính trị gia, làm việc 18 giờ một ngày, gách vác cả trách nhiệm của những người khác, và ra lệnh cho các giám đốc,' tờ nhật báo Berkeley Daily Gazette đưa tin.

Một đế chế điện giữa lục địa đang dần xuất hiện.

Vào năm 1912, hùn vốn với anh trai Martin, Insull đã sáp nhập số tài sản đang gia tăng của mình vào Công ty Middle West Utilities Co. Vào những năm 1930, Insull có vị trí trong ban quản trị của 85 công ty, là Chủ tịch Hội đồng quản trị của 65 trong số đó và là Giám đốc của 11 công ty khác. Mạng lưới các doanh nghiệp sản xuất điện của ông, được quản lý bởi nhiều công ty nắm giữ cổ phần có giá trị gần 3 tỷ USD.

Năm 1929, tài sản cá nhân của ông đã vượt mức 100 triệu - tuy nhiên chẳng được bao lâu.

Người chuyên thâu tóm công ty ở Cleveland tên là Cyrus Eaton đã tung ra chiến dịch mua cổ phần thâu tóm công ty giá trị nhất của Insull là Commonwealth Edison, vào năm 1930. Nhằm bảo vệ lợi ích của mình, Insull đã thành lập công ty nắm vốn khác tên là Insull Utility Investments. Khi thị trường chứng khoán đổ vỡ, ông đã vay mượn hơn 100 triệu USD từ các nhà ngân hàng ở New York để mua lại các cổ phiếu do Eaton nắm giữ từ trước đến nay.

Tuy nhiên, giá trị các cổ phần này đã ngày càng giảm khi cuộc Đại Khủng hoảng xấu đi, trong khi đó các khoản vay của ông vẫn không ngừng tăng lên, đẩy Insull vào tình huống squeeze căng thẳng hơn bao giờ hết.

Tháng Tư năm 1932, khi ông bắt đầu rút lui khỏi các vị trí ở hội đồng quản trị các công ty, Insull đã phải đối mặt với một vụ kiện từ những người nắm giữ trái phiếu hiện mất hơn 90% mệnh giá.

'Tôi không phải không thể sai lầm', ông nói. 'Tôi đã có nhiều lỗi và cũng có những phán đoán sai lầm, nhưng những lời chỉ trích tương tự này có thể nhằm vào bất kì ai trong giới kinh doanh.'

Cuối tháng đó, công ty Middle West Utilities đã bị tiếp quản. Tháng Năm, tòa án liên bang bắt đầu lên kế hoạch các cuộc đấu giá tài sản của Insull, kể cả khi các công ty của ông vi ước chi trả lãi suất trái phiếu

Mọi thứ đã đổ vỡ vào tháng Sáu năm 1932. Các nhà ngân hàng ép Insull phải từ chức khỏi chức vụ Chủ tịch ba doanh nghiệp chính của ông, bao gồm cả ComEd, và thay thế ông bằng 'James Simpson ngoan cường và chăm chỉ làm việc, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Marshall Field and Co,' tờ New York Times đưa tin. Động thái này 'hầu như đã chấm dứt sự nghiệp trùm công ty công ích của Insull .'

Dù cho các máy móc vận hành của ba công ty vẫn trong trạng thái tốt, mọi người nhanh chóng ước tính giá trị tài sản sẽ bị đánh giá lại giảm xuống từ 80 đến 100 triệu USD là điều không thể tránh khỏi.

Vài ngày sau, chấp nhận thất bại ở tuổi 72, ông và vợ đã bí mật giong buồm tới Pháp. Cuối tháng đó, họ đã "sống lặng lẽ ở Paris", nhưng cơn bão từ sự sụp đổ của Insull sẽ còn cuồng nộ trong nhiều năm tới.

Sơn Phạm
Bloomberg


"Fizzle out" nghĩa là gì?

Nebraska Supreme Court. Photo courtesy Rough Tough, Real Stuff.

'Fizzle out' có nghĩa là tàn lụi dần hay thất bại sau khi rầm rộ lúc ban đầu.

Ví dụ
Many students think that lawyers can make a lot of money, live in nice homes and eat at nice restaurants. But many young lawyers have found out that life for those in the profession is quite demanding (đòi hỏi rất nhiều chuyện). When they realize how many hours they have to work in a week, and how many sacrifices (hi sinh) they have to make, their enthusiasm (sự hăng say) seems to fizzle out (tàn lụi dần).

Hundreds of races (cuộc chạy đua) take place every year to raise money to fight lung cancer. But one organization has been having trouble getting contributions (xin mọi người đóng góp). That’s because its president was recently caught stealing and then lying about it. No wonder (Dĩ nhiên, không có gì lạ) funding is fizzling out (chấm dứt).

Huyền Trang
VOA


Thursday, November 28, 2013

Tâm An ngày đầu đông

28/11


Rockefeller Jr. tham gia cuộc chiến phản đối lệnh cấm rượu

Một thành viên của phong trào phản đối lệnh cấm rượu gắn miếng che lốp xe có dòng chữ 'Bãi bỏ Tu chính án số 18'. Nguồn: Thư viện Quốc hội (Mỹ), Phòng In ấn và Nhiếp ảnh.

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg kể về việc ngày 6 tháng Sáu năm 1932, John D. Rockefeller Jr. đã khiến mọi người chú ý. Ông từ bỏ sự ủng hộ dài lâu của mình đối với Lệnh cấm Sản xuất, Vận chuyển và Buôn bán Rượu, khi đó tờ New York Times mô tả đây là 'sự kiện kịch tính nhất về rượu kể từ khi lệnh cấm được áp dụng.'

Con trai người sáng lập Công ty Standard Oil đã công bố việc thay đổi ý định của mình trong một bức thư gửi đến Hiệu trưởng Nicholas Murray Butler của trường Đại học Columbia, người kêu gọi bãi bỏ lệnh cấm rượu. Rockefeller cho rằng Lệnh cấm này khiến mọi người uống rượu nhiều hơn, ở các quán rượu lậu thay vì ở nơi công khai, khuyến khích việc vi phạm luật pháp và gia tăng tội phạm tới 'mức độ chưa từng có.'

Rockefeller, thế hệ thứ ba trong gia đình kiêng rượu hoàn toàn, từ lâu là một trong những người ủng hộ nổi tiếng nhất của Tổ chức vận động cấm rượu Anti-Saloon League, đã quyên tặng 350.000 USD cho tổ chức này trong suốt những năm 1920. Tuy nhiên, ông nói ông đã 'dần dần và bất đắc dĩ' bị thuyết phục rằng việc bãi bỏ lệnh cấm sẽ góp phần 'khôi phục thượng tôn pháp luật.' Do việc thực thi lệnh cấm của liên bang được nhiều người cho là thất bại, vì vậy ông lập luận, quy định kiểm soát rượu nên thuộc về các tiểu bang.

'Những người phản đối lệnh cấm' rất hoan nghênh sự ủng hộ của Rockefeller. 'Những người đứng đầu chủ trương không cấm rượu từ tất cả các giai tầng xã hội, nam giới và phụ nữ đại diện doanh nghiệp, tầng lớp lao động, tài chính, hội đoàn, các ngành nghề, trường học và nhà thờ bày tỏ sự hài lòng về một người nổi tiếng như Rockefeller gia nhập hàng ngũ những người phản đối lệnh cấm rượu,' tờ New York Times đưa tin.

Hàng nghìn người đã gửi các bức điện tín chúc mừng tới Rockefeller, nhiều đến mức ngành bưu điện phải thuê thêm người để có thể đáp ứng được 'trận tuyết lở tin nhắn' này, tạp chí Time đưa tin.

Trong khi đó, 'Những người ủng hộ lệnh cấm' sửng sốt và tức giận. Giám mục James Cannon, 'người phản đối lệnh cấm nổi tiếng của miền Nam', cho rằng quan điểm của Rockefeller là 'không hề ngạc nhiên đối với những ai biết được các ảnh hưởng xung quanh ông ta, người đang sống như thể chỗ ở của quỷ Sa tăng' tại New York.

Những người khác cáo buộc ông đưa ra các báo cáo không trung thực, dẫn chứng tới các dữ liệu của chính phủ cho thấy sản xuất rượu đã giảm hai phần ba kể từ đầu những năm 1920.

Những người phản đối lệnh cấm rượu chế nhạo các số liệu thống kê này, cho rằng chúng do các nhân viên thực thi liên bang lo lắng ngụy tạo. Sau đó, Ủy viên lệnh cấm rượu Mỹ Amos Woodcock đưa ra con số đáng xấu hổ: 3.844. Đó là số lượng các quán bán rượu lậu và các cửa hàng rượu được phát hiện trong một cuộc điều tra đường phố chỉ riêng trong quận Manhattan. New York thực sự là 'tổ quỷ', nơi ẩn giấu một đế chế rượu rộng lớn và bất hợp pháp trị giá hàng triệu đô la.

Rockefeller thúc giục cả hai bên thêm mục "trình lại" trong cương lĩnh năm 1932 của họ, tiến một bước tới việc đưa các nghị quyết bãi bỏ lệnh cấm tới Quốc hội và các cơ quan lập pháp. 'Những người ủng hộ lệnh cấm rượu' tin chắc rằng hơn 13 bang sẽ từ chối việc sửa đổi hủy bỏ (lệnh cấm), do đó ngăn chặn thay đổi hiến pháp. Trong khi đó, họ đe dọa sẽ bỏ phiếu loại ra những kẻ tái phạm và phản bội sự nghiệp đấu tranh của họ.

'Bức thư của Rockefeller như một tín hiệu giải phóng những cảm xúc bị dồn nén của nhiều người Mỹ', tờ Times viết xã luận. 'Họ đã nhìn thấy các hạ nghị sĩ ở bang của mình tại Quốc hội từ lâu phải hành động dưới đe dọa hay thậm chí khủng bố chính trị. Thời kỳ đó rõ ràng sắp đến lúc kết thúc.'

Nhưng Lệnh cấm rượu sẽ không thể chấm dứt mà không có cuộc chiến nào và các hội nghị sắp tới sẽ chỉ như bước vào giai đoạn một mà thôi.

Sơn Phạm
Bloomberg


Tháp lấy cảm hứng từ... chiếc trống

Thành phố cảng Kobe ở vùng Kinki nằm trên đảo Honshu, là trung tâm hành chính của tỉnh Hyogo và là một trong những cảng biển chính ở Nhật, cùng với Yokohama, Osaka, Nagoya, Fukuoka và Tokyo. Dân số Kobe khoảng 1.500.000 người, đây là một trong những thành phố đầu tiên mở rộng thông thương với phương Tây từ năm 1868. Kobe đã là cảng biển bận rộn nhất Nhật Bản, nằm trong 10 cảng biển châu Á cho tới khi cơn địa chấn Hanshin xảy ra. Từ sau đó, cảng Nagoya đã trở thành cảng biển lớn nhất nước Nhật. Thứ hạng quốc tế của Kobe đã tụt xuống 29 (năm 2002). Nhưng cảng Kobe sau đó đã lại leo lên vị trí thứ 3 Nhật Bản.

Thành phố Kobe chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây, vốn nhiều công viên và kiến trúc đẹp. Sức lôi cuốn của thành phố này ở chỗ bốn mùa quanh năm phong cảnh thiên nhiên rực rỡ. Kobe nổi tiếng với: món thịt bò Kobe, suối nước nóng Arima, ngắm nhìn thành phố đêm từ bờ biển hoặc từ núi, thành phố cảng với một không khí đẹp kì lạ đã được truyền qua lịch sử. Kobe còn được gắn liền với thời trang với câu nói: "Nếu bạn không thể đi đến Paris, thì đến Kobe."

Trong bức ảnh hôm nay, bạn có thể thấy tòa tháp trang nhã ở cảng Kobe được xây dựng lấy cảm hứng từ chiếc trống truyền thống giống đồng hồ cát gọi là tsuzumi của Nhật Bản. Thậm chí tháp cảng Kobe còn có màu đỏ đặc trưng của các sợi dây nối hai đầu trống...
Photo courtesy Manish Prabhune.

"On the firing line" nghĩa là gì?

Vợ tôi là người quản lý ngân sách gia đình.

'On the firing line' là tuyến lửa, nơi súng được nhắm vào một mục tiêu. Thành ngữ này còn được dùng để chỉ một tình thế khiến một đối tượng bị chỉ trích hay đả kích.

Ví dụ
The council members of the town I live in are under attack (bị đả kích). They recently raised fees on everything from construction permits to dog licenses. At a meeting with citizens, they were clearly on the firing line. For three hours, they were grilled (bị tra hỏi) about why citizens had to pay more, and the citizenss were not completely happy with their answers.

My wife controls the budget (ngân sách) in the house. She says we have to cut down on spending (giảm chi tiêu). That means buying new clothing, going out to restaurants (đi ăn tiệm) and taking a summer vacation are all on the firing line now (bị hạn chế). She’s against any purchases (mua) until there’s enough money to pay for them.

Huyền Trang
VOA


Cuộc xâm lăng của binh đoàn robot

Khi còn nhỏ, Inori Aizawa là một bé gái chậm chạp, và vụng về. Tuy nhiên, như câu chuyện về vịt con xấu xí, mọi người nói Inori Aizawa giờ đây đã thực sự trưởng thành và thay đổi qua từng tháng năm. Cô cảm thấy tự tin về năng lực bản thân, và mong muốn cho mọi người thấy những gì cô có thể làm được.

Sao các bạn không tìm hiểu về cô gái này thêm nữa? ;)


Những con robot quái vật này làm bằng... Chrome.

Bài trước: Công nghiệp 'lãng mạn' ở Nhật Bản

Nhật Bản đưa robot biết nói đầu tiên lên trạm vũ trụ
Nhà hàng robot ở Trung Hoa
Robot gội đầu của Nhật Bản
Nhật Bản cho ra mắt robot chiến đấu... như trong phim

Friday, November 22, 2013

Bà mụ có nặn nhầm không?!

22/11

Quân đội tuần hành biểu tình ở Washington

Các cựu chiến binh ở St. Louis đã tuần hành biểu tình đến Washington để đòi tiền thưởng. Nguồn: Illinois Periodicals

Giáo sư Philip Scranton có bài ở Bloomberg, kể về việc những anh hùng năm 1917 đã trở thành những kẻ lang thang năm 1932. Ngày 3 tháng Sáu năm 1932, tác giả Benjamin Roth ở Youngstown, Ohio, viết: 'Hàng nghìn cựu chiến binh Thế chiến I đang tuần hành biểu tình về Washington để đòi Quốc hội phải trả tiền thưởng.'

Cuộc diễu hành đã làm lộ rõ nhiều vết nứt kinh tế xã hội đang gây chấn động nước Mỹ thời đó, và việc dàn xếp tai hại của cuộc biểu tình này sẽ trở thành thời khắc quan trọng trong chính trị nước Mỹ.

Sau khi Quân đoàn lính Mỹ vận động hành lang, Quốc hội đã thông qua đạo Luật Bồi Thường Thế chiến sửa đổi vào năm 1924, xóa bỏ quyền phủ quyết của Tổng thống Calvin Coolidge.

Luật này cho phép chi trả 1 USD cho mỗi ngày trong quân ngũ ở trong nước và 1,25 USD mỗi ngày trên chiến trường hải ngoại từ tháng Tư năm 1917 đến tháng Bảy năm 1919. Các chứng chỉ tiền gửi có lãi suất 4%/năm với tổng mệnh giá là 3,5 tỷ USD đã được cấp cho 3,3 triệu cựu chiến binh. Những chứng chỉ này sẽ mang lại lợi suất 1.000 USD một người vào năm 1945.

Theo cuốn sách 'The Bonus Army', đây chính là 'chính sách bảo hiểm nhân thọ 21 năm được trả vào lúc chết hoặc vào năm 1945, tùy điều kiện nào đến trước.' Đối với nhiều cựu chiến binh, nhận tiền thưởng vào năm 1945 là điều quá xa vời.

Gần như khánh kiệt, họ bắt đầu đi bộ, lái xe hoặc bắt tàu hỏa tới Washington để kiến ​​nghị Quốc hội cho nhận tiền vào thời điểm sớm hơn. Ông Walter Waters, cựu trung sĩ pháo binh từ Portland Oregon đã tổ chức các cựu chiến binh thành 'Quân Viễn chinh tiền thưởng' và dẫn đầu cuộc diễu hành. Hàng trăm người kiên quyết, họ bắt đầu đi về hướng đông đầu tháng Năm trong các toa tàu chở hàng/súc vật mà các viên chức đường sắt miễn cưỡng thêm vào tàu vận chuyển đường dài.

Tháng Tư năm 1932, tổ chức Cựu chiến binh viễn dương đã thể hiện sự ủng hộ nhiệt thành bằng việc trình kiến ​​nghị với 2,2 triệu chữ ký lên Quốc hội.

Trong khi đó, dự luật của dân biểu Wright Patman bang Texas cho phép trả tiền thưởng sớm hơn đang bị đình trệ tại Ủy ban Tài chính và Thuế vụ của Hạ viện Mỹ, cửa ải mà bất kì dự luật nào cũng phải vượt qua. Cựu Phó Tổng thống Charles Dawes đã làm chứng chống lại dự luật. Ông cho rằng việc phát hành 2,4 tỷ USD "tiền giấy", tiền mặt được in mà không đi kèm với thu thuế bổ sung, 'sẽ làm xói mòn lòng tin của đất nước và đảo lộn sự lành mạnh của bản thân Chính phủ Mỹ.'

Ông nói dự luật sẽ như "một lời mời bắt đầu con đường hoan lạc mà nước Đức đã theo cho tới khi đồng mark sụp đổ vào năm 1923.

Tổng thống Herbert Hoover hứa sẽ phủ quyết nếu dự luật được trình trên bàn của ông, nhưng những người biểu tình hy vọng sẽ thuyết phục được cả Quốc hội và Tổng thống thay đổi ý định.

Lực lượng biểu tình ngày càng đông. Ngày 28 tháng Năm, tờ Wall Street Journal đưa tin, 'quân đội đòi tiền thưởng đang mọc lên trên khắp đất nước.' Hơn 5-6 lữ đoàn đang đổ về các tuyến đường sắt và đường cao tốc với mục đích kêu gọi Quốc hội chi trả tiền thưởng cho các chiến sĩ.'

Tờ New York Times phụ họa: 'Kỷ luật thép đã được thi hành và chưa hề có dấu hiệu rối loạn. Những ai vi phạm quy tắc cuộc diễu hành, một trong số đó là nghiêm cấm uống rượu, sẽ nhanh chóng bị loại ra.'

Ngày 29 tháng Năm, Waters nói với tờ Washington Post rằng ông dự kiến hơn ​​20.000 người sẽ có mặt trong hai tuần tới. Khi các đạo quân tiến vào thủ đô, một người từ Portland tuyên bố: 'Chúng tôi sẽ ở đây cho đến khi nào tiền thưởng được chi trả, dù đó là năm sau hay năm 1945.'

Phản ứng từ Washington sẽ góp phần làm thay đổi sâu sắc cuộc Đại Khủng hoảng.

Thanh Hằng
Bloomberg


"Throw caution to the wind" nghĩa là gì?

Photo courtesy NCSphotography.

'Throw caution to the wind' có hai từ mới. Một là to throw nghĩa là ném, hay vứt bỏ, và hai là caution là sự thận trọng. Vì thế throw caution to the wind có nghĩa là không thận trọng khi hành động, liều lĩnh làm một điều gì.

Ví dụ:
Everyone in my family is rather cautious, except my nephew. What a risk-taker (quả là một người thích trò nguy hiểm)! Ever since he was a boy, he’s thrown caution to the wind (tỏ ra liều lĩnh). That’s why no one was surprised when he hurt his leg in a skateboard competition (cuộc tranh tài trượt ván).

As a cop (trên cương vị một cảnh sát viên), I have little tolerance (không dung thứ) for drivers who act recklessly (ẩu tả, khinh suất) on the road. Once you are behind the wheel of a car, you shouldn’t be throwing caution to the wind. Buckle (thắt) your seatbelt (dây an toàn), observe (tuân thủ) the speed limit and follow the rules of the road !

Huyền Trang
VOA


Thursday, November 21, 2013

Tiền ảo Bitcoins: đệ ruột của các băng nhóm tội phạm?


By Stephen Mihm / Thanh Hằng dịch, Sơn Phạm (hiệu đính)

Cho đến gần đây, đồng tiền ảo bitcoins có thể chỉ được coi là một trào lưu nhất thời trên Internet (anh em sinh đôi Winkelvoss trong sự nổi tiếng của Facebook, có thể đóng một vai trò nhất định). Nhưng khi cơ quan thực thi pháp luật liên bang đóng cửa the 'Silk Road' (Con đường tơ lụa), trang web chợ đen trên mạng, có thể được ví như Amazon cho các đồ phi pháp như cần sa, súng... sử dụng Bitcoin như đồng tiền giao dịch, các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách đã phải chú ý. Những kẻ tội phạm, hóa ra, rất ưa thích bitcoins, vì nó có thể sử dụng để thanh toán cho các mục đích bất chính trên thế giới mạng đen, hoàn toàn ẩn danh và, có vẻ như, không thể bị trừng phạt.

Việc chuyển sang sử dụng tiền ảo báo hiệu một sự thay đổi lớn đáng lo ngại trong hành vi của những kẻ tội phạm, khi trong nhiều thập kỷ qua đã ưa thích tiền mặt, đặc biệt là đồng đô la như phương tiện trao đổi. Đối với chúng ta, tình hình đáng báo động như nào sẽ là một trong những chủ đề của cuộc điều trần hôm nay tại Ủy ban An ninh Quốc gia và Vụ Chính phủ Thượng Viện Mỹ.

Tuy nhiên, một bài học lại về lịch sử mối quan hệ giữa tội phạm và tiền mặt có thể là nơi tốt để bắt đầu.

Hãy thử nghĩ như một kẻ tội phạm trong giây lát. Bất kỳ giao dịch tài chính nào để lại dấu vết cũng sẽ để lại bằng chứng về tội lỗi của bạn. Vì lý do này, tiền mặt là vua. Trong nhiều năm qua, bất kỳ kẻ tội phạm nào, từ sát thủ cho đến con buôn ma túy, phải vận chuyển các va li đầy tiền USD để buôn bán hàng cấm và các phi vụ bất hợp pháp.

Tuy nhiên, trong những năm 1960, những kẻ buôn bán ma túy ở Mỹ đã phải đối mặt với những khó khăn trong việc chuyển tiền mặt này. Hàng hóa của chúng chỉ được trả bằng những đồng tiền mệnh giá nhỏ. Nhưng làm thế nào để chuyển tiền về cho một trùm ma túy ở Columbia chẳng hạn? Một lựa chọn là chuyển lậu số lượng lớn tiền mặt này, cách thức đang ngày càng trở nên nguy hiểm. Thay vào đó, các băng nhóm bắt đầu thuê những "kẻ đưa tin" để gom tiền từ dân buôn lậu địa phương và gửi vào các ngân hàng trong vùng. Sau đó, những đồng tiền này có thể dễ dàng được "rửa" thông qua việc chuyển đến các tài khoản ở nước ngoài.

Dòng tiền này được các ngân hàng chào đón vì chúng giúp họ có dự trữ để dành cho các khoản vay lợi nhuận cao, rủi ro thấp. Như nhà báo David Andelman sau này cho biết: 'Các ngân hàng đang làm ngơ về nguồn gốc của sự giàu có này. Họ không bao giờ đặt nghi vấn về việc những quầy bán cá và rau quả nhỏ lẻ có thể có doanh thu nửa triệu đô la tiền mặt một ngày, tất cả đều là những đồng tiền mệnh giá nhỏ.'

Năm 1970, Quốc hội đã thông qua đạo Luật Bảo mật Ngân hàng (BSA), trong nỗ lực nhằm khiến cho việc rửa tiền không thể được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng Mỹ. Theo quy định của Luật, các ngân hàng phải báo cáo các giao dịch tiền mặt vượt quá 10.000 USD thông qua Báo cáo Giao dịch Tiền tệ. Tuy nhiên, chỉ một số ngân hàng tuân thủ quy định này. Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các viên chức thực thi pháp luật liên bang, Sở Thuế Vụ và Hải quan đã thành lập các tổ công tác nhằm đấu tranh với hình thức rửa tiền này. Đầu tiên trong số đó là, 'Chiến dịch Đồng bạc xanh' (Operation Greenback), đã truy tố cả những kẻ rửa tiền và các ngân hàng vi phạm BSA. Sau đó là các chiến dịch nổi tiếng khác.

Tuy nhiên, những nỗ lực này hầu như không làm suy chuyển hàng tỷ đô la đang được "rửa" qua các ngân hàng Mỹ. Tệ hơn nữa, những kẻ buôn bán ma túy dạo đã nhanh chóng lách luật của BSA bằng cách mở các tài khoản nhỏ tại ngân hàng để rửa tiền. Mỗi ngày, "người đưa tin" cấp thấp - hay còn gọi là 'smurfs' - sẽ chỉ gửi khoảng 9.900 USD vào các tài khoản này để tránh phải 'Báo cáo Giao dịch Tiền tệ' cho chính phủ liên bang.

Quốc hội đã khắc phục vấn đề này trong từng giai đoạn các năm sau đó. Sửa đổi quan trọng nhất, đó là vào năm 1986, đạo Luật Kiểm soát Rửa tiền đã đặt ra các hình phạt nghiêm khắc hơn nữa đối với những hành vi lách luật BSA. Đạo Luật mới cũng cho phép các ngân hàng cung cấp thông tin khách hàng cho chính phủ liên bang mà không vi phạm luật riêng tư. Ngày càng có nhiều ngân hàng chọn phương thức hợp tác hơn là có nguy cơ bị truy tố, và vào cuối thập niên 1980, việc rửa tiền đã hầu như không thể thực hiện được trong nước Mỹ.

Tuy nhiên, với các ngân hàng ở nước khác, điều tương tự không xảy ra, đặc biệt là những nơi với lịch sử nhận tiền gửi mà không đặt bất kỳ câu hỏi nào. Bọn tội phạm, đặc biệt là những kẻ buôn bán ma túy, ngày càng tập trung nỗ lực chuyển lợi nhuận bất hợp pháp bằng tiền mặt ra khỏi nước Mỹ để có thể "rửa" ở những địa điểm khác thuận lợi hơn, "khuyến khích" bí mật ngân hàng: Venezuela, Quần đảo Cayman, và những nơi khác không ai để ý đến.

Nhưng, một lần nữa, việc chuyển tiền mặt ra khỏi nước Mỹ thật sự là một thử thách quan trọng, trong một số vụ còn khó hơn cả mang ma túy vào nước Mỹ. Nói một cách đơn giản, lượng tiền bất chính rất nặng. Năm 1997, Bộ Tư pháp ước tính rằng mỗi pound cocaine được bán trên đường phố sẽ mang lại 6 pound tiền mặt, mỗi pound heroin mang lại 10 pound giấy bạc mệnh giá nhỏ. Đây rõ ràng là một vấn đề, đặc biệt khi BSA yêu cầu mà bất cứ ai ra khỏi nước Mỹ với hơn 5.000 USD trong người phải khai báo với chính phủ. Đối mặt với trở ngại này, các băng đảng ma túy đã dùng nhiều mưu kế, nhét tiền vào các đồ gia dụng từ lò nướng bánh đến máy giặt và vận chuyển chúng ra khỏi nước Mỹ.

Có thể ngẫu nhiên hoặc không, số lượng đôla lưu hành bên ngoài nước Mỹ bùng nổ trong những năm 1990 và đầu những năm 2000, từ 86 tỷ USD năm 1980 lên đến 401 tỷ USD trong năm 1999, tới hơn 500 tỷ USD ngày nay. Hầu hết sự gia tăng này có thể do nhu cầu ngày càng tăng đối với đồng 100 USD. Các nhà kinh tế đã không giải thích được lý do vì sao như vậy, nhưng câu trả lời có thể là những hoạt động kinh tế bất hợp pháp. Thực tế việc đồng đôla được chấp nhận trên toàn thế giới, và dễ dàng được chuyển đổi sang các đồng tiền khác, rất thích hợp cho hoạt động tội phạm quốc tế.

Mặc dù vậy, các vấn đề cũ vẫn còn đó. Vấn đề càng trở nên tồi tệ sau vụ tấn công 11 tháng Chín, khi việc gia tăng giám sát các giao dịch ngân hàng quốc tế khiến cho việc rửa tiền trở nên nguy hiểm hơn không chỉ trong mà còn ngoài nước Mỹ. Trong quá trình này, tiền mặt trở thành mắt xích yếu trong nền kinh tế tội phạm quốc tế. Đó là do tiền mặt khá cồng kềnh, khó cất giấu, và gây nên sự nghi ngờ: bất cứ ai có hàng triệu đôla tiền mặt sẽ đương nghiên bị coi như một nghi phạm.

Chính vì vậy, tiền kỹ thuật số dần xuất hiện và đóng vai trò trong cuộc chơi. Trong những năm gần đây, những kẻ tội phạm bắt đầu thử nghiệm với các hệ thống thanh toán trực tuyến. Thành công nhất trong số này là bộ xử lý thanh toán của Costa Rica tên là Liberty Reserve (Dự trữ Tự do). Hệ thống thanh toán này chấp nhận tiền gửi từ các đồng tiền "bẩn", chuyển chúng thành một loại tiền tệ kỹ thuật số (Liberty Reserve đôla) và sau đó chuyển một lần nữa thành tiền sạch. Hệ thống rửa tiền trực tuyến này diễn ra sau một bức màn nặc danh. Nó đã kịp "rửa" 6 tỷ USD thành tiền sạch trước khi bị đánh sập. Ngày 31 tháng Mười, Vladimir Kats, một trong những người sáng lập Liberty Reserve đã nhận tội rửa tiền và thực hiện kinh doanh chuyển tiền không giấy phép.

Không giống như Liberty Reserve, các giao dịch Bitcoin không thật sự vô hình. Nhờ kiến trúc phần mềm phức tạp đằng sau 'đồng tiền mã hóa' này, ta có thể nhìn thấy mạng lưới các trao đổi liên quan đến Bitcoin. Nhưng không thể nhìn được ai đang sử dụng chúng, và mua gì. Không phải ngẫu nhiên mà bitcoins có lượng khách hàng là những kẻ tội phạm ngày càng tăng, đặc biệt trong thế giới trực tuyến âm u, không thể kiểm soát "Deep Web."

Chính phủ Mỹ gần đây đã áp đặt việc kiểm soát hoạt động rửa tiền đối với các doanh nghiệp hợp pháp sử dụng bitcoins, và một nghiên cứu gần đây kết luận rất khó có thể sử dụng bitcoin để rửa tiền trên quy mô lớn, tuy nhiên FBI lại không đồng ý như vậy.

Bitcoin cũng có thể có một tương lai tươi sáng trên thế giới thật. Trong các bức thư gửi tới Ủy ban Thượng viện tổ chức buổi điều trần hôm nay, Bộ Tư pháp và Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ cho rằng tiền ảo là một phương tiện tài chính hợp pháp, cũng giống như bất kỳ hệ thống thanh toán trực tuyến nào khác, mang lại cả lợi ích cũng như nguy cơ.

Trong khi đó, các nhà đầu cơ đang "bỏ phiếu bằng ví" của mình. Giá trị đồng tiền này tăng vọt kể từ khi trang web chợ đen Silk Road bị đóng cửa khiến mọi người chú ý.

Và với tốc độ mà bitcoins được sử dụng trong các thương mại bất hợp pháp, có vẻ như những kẻ buôn bán ma túy và các loại tội phạm quốc tế khác sẽ vứt bỏ tiền mặt cũ kỹ thay bằng tiền kỹ thuật số. Bạn đừng bất ngờ về điều này. Khi chuyển những món lợi bất chính, gõ một vài phím trên máy tính xách tay rõ ràng thuận tiện hơn hẳn phải vận chuyển hàng trăm máy nướng bánh mì nhồi đầy tiền mặt.

(Stephen Mihm, Phó giáo sư môn lịch sử tại Đại học Georgia, và là người viết bài cho The Ticker.)

Bloomberg

Công nghiệp 'lãng mạn' ở Nhật Bản

Mời bạn xem video để thấy một lời giải khác cho các survey của Chính phủ Nhật Bản về tình trạng nam nữ độc thân, không lập gia đình, không sinh con, dân số già... ở Nhật Bản.



80 usd một lần ngoáy tai, kiếm 800.000 usd một năm chỉ nhờ ngồi... nghe chị em tâm sự, và lí do vì sao đến Kabukicho mà không thể "trả thù dân tộc" nếu không có... người Nhật dẫn đường.

Bài trước: Lời nguyền Ochobo

"Take the wind out of one’s sails" nghĩa là gì?

Photo courtesy Robert Couse-Baker.

'Take the wind out of one’s sails' có một từ mới là sail, nghĩa là cánh buồm (lấy gió khỏi buồm của ai đó). Thành ngữ này có nghĩa là lấy mất quyền lợi hay lợi thế của một người khiến người đó mất tin tưởng hay nhụt chí khí.

Ví dụ:
Ben assumed (cho rằng) that he’d be elected as the next mayor after serving as assistant mayor (phụ tá thị trưởng) and receiving endorsements (ủng hộ) from top politicians (chính trị gia hàng đầu). But soon it became clear the voters preferred (thích hơn) his opponent instead. The results really took the wind out of his sails (mất cả tin tưởng).

“I LOVE LUCY” is a classic (bất hủ) TV comedy (hài kịch) from the 1950s. It almost didn’t air (trình chiếu) because of objections (chống đối) by network execs. Fortunately, the show’s stars weren’t about to let anyone take the wind out of their sails. They started their own studio (mở xưởng phim), took control of the production (tự sản xuất lấy), and went on to make broadcast history (làm nên lịch sử truyền hình).

Huyền Trang
VOA


Ngỡ ngàng chàng trai thổi 'sáo tay' hút hồn khán giả

Mời bạn nghe chàng trai Mitsuhiro Mori với đôi tay thần kỳ, tạo nên những bản nhạc không lời bất hủ (cùng bạn học cũ Keisuke Usuda đệm piano).



Bài trước: Tâm sự người vợ trẻ

Lời nguyền Ochobo

Lời nguyền Ochobo

Mời bạn xem video để hiểu Ochobo là gì, và một cửa hàng ở Nhật Bản có mẹo nhỏ như nào khiến doanh số bán burger cho chị em phụ nữ tăng 213% hàng tháng :)



Liberation Wrapper: free women from the spell of Ochobo :)

Bài trước: Con mèo ngủ đền Nikko Toshogu

Bảo tàng nghệ thuật Crystal Bridges cho trẻ em nghèo thăm quan miễn phí
Nữ "phù thủy" gây náo loạn quán cà phê