Journey in Life: April 2014

Wednesday, April 30, 2014

Giải tennis MPI 2014



Photographer: Mr. Lê Thanh Tú.

Bài trước: Tầng 17 - chung cư Mandarin Garden

"Bad hair day" nghĩa là gì?

bài đăng lại với sự cho phép của anh Lửa Hạ tại facebook Dollars and Sense.
-----
Tiệm cắt tóc M&M Hair Academy ở London vừa có một cuộc đụng độ thú vị với viên chức sứ quán Bắc Hàn.

Số là tiệm này trưng bảng giảm giá 15% với khách nam giới trong các ngày thứ 3 và thứ 5 của tháng 4. Trong poster này có hình Kim Jong-un với mái tóc (xấu) đặc trưng và slogan "Bad Hair Day?", vừa gợi nhớ tới tin đồn gần đây cho rằng anh Ủn ra lệnh cho đàn ông Bắc Hàn chỉ được để kiểu tóc giống mình, vừa liên tưởng tới nghĩa bóng của bad hair day (ngày xúi quẩy, ngày mà đụng đâu bể đồ tới đó, a day on which everything seems to go wrong).

Thấy vậy, hai viên chức sứ quán Bắc Hàn gần đó bực mình qua than phiền, bảo làm vậy là xúc phạm lãnh tụ của họ. Sau khi hỏi chuyện hai bên, cảnh sát nói không cần phải điều tra vì tiệm cắt tóc đâu có phạm tội gì. Câu mở đầu bản tin này có chỗ chơi chữ liên quan tới chuyện cắt tóc cạo râu. "Staff at a London hair salon say they had a close shave with North Korean officials after using the country’s leader, Kim Jong-un, to promote discount haircuts."

A close shave (đồng nghĩa với a close call) nghĩa bóng là tình huống thoát hiểm / thoát nạn / thoát chết trong đường tơ kẽ tóc (a situation in which you come extremely close to a dangerous or unpleasant situation or only just manage to avoid it). Cách dùng thành ngữ này để chỉ cuộc đụng độ nho nhỏ này hơi thậm xưng ở đây, nhưng là cách vận dụng hay trong ngữ cảnh râu tóc này, nhất là với tấm ảnh mày râu nhẵn nhụi của anh Ủn.

Mục đích cắt tỉa cây cảnh

Photo: Men's Humor.

cho gọn gàng và đẹp hơn, chứ chi nữa... :D

Bài trước: Cao thủ bowling

Điều giản dị


Sự khác biệt trần trụi giữa tủ lạnh nhà bố mẹ tôi và... tủ lạnh nhà tôi :D
Chỉ có từ đúng trở lên... :)))

Bài trước: Vòng đời

Còn có thể tồi tệ hơn...

Photo: The Idealist.

Bài trước: Mục đích cắt tỉa cây cảnh

Vòng đời


The Circle of Life... :D

Bài trước: Khu vườn huyền thoại

The shortest distance

Photo courtesy David Joyce.

A smile is the shortest distance between two people!

Previous post: The real measure of your wealth

Tuesday, April 29, 2014

Vì sao Ấn Độ tổ chức bầu cử giỏi đến vậy?

Indian election graffiti. Photo courtesy Ben Sutherland.

Cuộc Tổng tuyển cử sắp tới là vấn đề tầm cỡ ở Ấn Độ. Từ ngày 7 tháng Tư tới 12 tháng 5, trải qua 7 giai đoạn, 815 triệu người sẽ đủ tư cách bỏ phiếu (cast vote) trong sự kiện dân chủ lớn nhất thế giới. Kể từ lần trước vào năm 2009 đã có thêm 100 triệu cử tri mới. Bất chấp các chi phí và những rắc rối quanh nó, cuộc bầu cử được chờ đợi sẽ diễn ra êm đẹp. Các đảng phái chính trị có thể vượt qua giới hạn về chi tiêu nhưng nhìn chung bầu cử ở Ấn Độ là trong sạch – kết quả không bị dàn xếp (rig). Tỉ lệ người dân đi bầu cũng xấp xỉ với các nền dân chủ phương Tây: ước tính 60 – 70% cử tri sẽ tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử thứ 16 kể từ khi Ấn Độ giành được độc lập. Cũng không ai bị đe dọa bạo lực nghiêm trọng ngay cả ở những nơi bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Mao hay các cuộc nổi dậy. Sự khác biệt là quá rõ ràng so với những cuộc bầu cử đẫm máu mà các nước láng giềng Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal hay thậm chí cả Maldives phải trải qua.

Thoạt nhìn thì thành công này thật khó hiểu. Khi được hỏi về năng lực của cơ quan chính phủ, phản ứng điển hình của người dân Ấn Độ là sự thờ ơ và hoài nghi. Hầu hết những gì do các công chức thực hiện đều tệ hại: cứ thử theo học tại trường công, khám bệnh ở bệnh viện công, nhờ “công an nhân dân” giúp đỡ hay nhận bao cấp thực phẩm thì biết. Tham nhũng, lãng phí, chậm trễ và quản lý sai lầm phổ biến một cách đáng buồn. Hãy để ý cả những thất bại đáng xấu hổ của Hải quân Ấn Độ với đầy rẫy những tai nạn chết người trong năm qua, tình trạng thiếu đầu tư kéo dài cho tuyến đường sắt quốc gia hay thất bại của nhà nước trong việc xây dựng đủ đường xá, bến cảng và hệ thống điện. Làm sao mà Ấn Độ có thể tổ chức bầu cử tốt như thế khi mà hầu hết các thứ khác đều tệ hại như vậy?

Câu trả lời đầu tiên là các cuộc bầu cử là những nhiệm vụ lặp lại nhiều lần được tập trung tỉ mỉ trong thời gian ngắn. Khi có những điều kiện này thì hệ thống quan liêu có thể thành công tương tự. Một ví dụ khác là cuộc điều tra dân số tiến hành 10 năm một lần; một thành công gần đây hơn là kế hoạch xây dựng kho dữ liệu sinh trắc học (biometric) lớn nhất thế giới với khoảng 600 triệu người đã đăng ký được quét võng mạc, dấu vân tay và hơn thế nữa. (Tuy nhiên, các dữ liệu này có được dùng cho mục đích tốt đẹp không lại là chuyện khác. Cũng cần ghi nhận là hầu hết công việc này được thực hiện bởi các nhà thầu tư nhân dưới sự giám sát của nhân viên chính phủ). Thứ hai là các công chức nhà nước phản ứng tốt với những nhiệm vụ mang lại uy tín lớn và bị xã hội giám sát chặt chẽ (public scrutiny). Cũng vì thế mà với ngân sách tương đối nhỏ, Cơ quan Không gian Ấn Độ năm ngoái đã phóng được một tàu vũ trụ lên sao Hỏa hiện vẫn đang trên đường theo kế hoạch. Tương tự, giới chức y tế gần đây tuyên bố Ấn Độ đã xóa sổ bệnh bại liệt (polio). Thứ ba là các viên chức chỉ thành công khi thoát khỏi sự can thiệp chính trị và tham nhũng. Giống như Ngân hàng Trung ương, Hội đồng Bầu cử (nước này) cũng độc lập. Trong khi cảnh sát dành phần lớn thời gian nhận hối lộ để “cúng sếp” thì các quan chức bầu cử không hề có ngân quỹ lớn để biển thủ hay cơ hội để moi tiền hối lộ.

Tiến trình bầu cử có thể mang lại những bài học áp dụng được ở nhiều nơi khác. Một là lợi ích từ việc đặt ra mục tiêu đơn giản và được định hình tốt. Ví dụ thử yêu cầu các viên chức đưa Ấn Độ thăng 10 hạng một năm từ vị trí 134/189 trong bảng xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới xem sao? Một bài học khác là tầm quan trọng của sự minh bạch. Các chính trị gia sẽ khó can thiệp hay biển thủ hơn nếu các viên chức được đặt dưới sự giám sát cặn kẽ của xã hội như các quan chức bầu cử. Việc mở rộng quyền tiếp cận thông tin (right-to-information law) của đất nước, bất chấp những thối nát bị lộ ra đáng xấu hổ thế nào, đã được chứng minh là vô cùng giá trị. Cuối cùng, các công chức sẽ làm việc hiệu quả hơn và bớt tham nhũng khi họ không còn quyền quyết định tùy ý. Những người tổ chức bầu cử không có quyền quyết định ai được đi bầu hay bầu ở đâu; họ chỉ có nhiệm vụ đảm bảo cuộc bầu cử diễn ra hiệu quả, do đó không có động lực để người ta hối lộ hay khống chế họ. Bất cứ ai thắng cử năm nay cũng có thể nhìn vào chính tiến trình bầu cử như một hình mẫu để cải thiện tình trạng quan liêu ở Ấn Độ.

Đăng Duy
The Economist


Vì sao muối có lẽ không hại như bạn tưởng?

Full English breakfast. Photo courtesy Avid Hills.

Một bữa sáng kiểu Anh truyền thống gồm có thịt xông khói, xúc xích và trứng – hay nói cách khác là rất nhiều muối. Nhưng nếu bạn đang đọc những dòng này ở nước Anh thì có lẽ gần đây bạn đã ăn ít muối hơn rồi. Một thập kỉ trước, chính quyền và các nhà vận động sức khỏe đã gây sức ép lên các công ty nhằm giảm dần lượng muối trong thực phẩm chế biến sẵn. Kết quả là, năm 2011, người Anh ăn ít hơn 15% muối so với năm 2003. Các nhà nghiên cứu cho rằng điều này giúp cải thiện sức khỏe tim mạch. Thực vậy, trong cùng khoảng thời gian đó, số ca tử vong do đột quỵ (stroke) và bệnh tim đã giảm lần lượt 42% và 40%. Lợi ích từ việc ăn ít muối có vẻ đã rõ ràng, nhưng một số nhà khoa học vẫn còn hoài nghi. Vì sao vậy?

Chúng ta ăn càng nhiều muối thì cơ thể giữ càng nhiều nước. Lượng nước này làm tăng huyết áp, ít nhất cho tới khi thận thải lượng muối và nước đó ra ngoài. Những người phản đối ăn nhiều muối tin rằng ảnh hưởng tới huyết áp còn kéo dài hơn thế và ăn quá nhiều muối trong thời gian dài sẽ gây ra cao huyết áp (hypertension) và có lẽ là cả tử vong. Một nghiên cứu thường được trích dẫn thực hiện bởi Viện Y tế quốc gia Mỹ năm 2001 với tên gọi ‘Nghiên cứu DASH – Natri’ (Dietary Approaches to Stop Hypertension – Phương pháp ngăn ngừa cao huyết áp qua chế độ ăn uống lành mạnh, ND) cho thấy những người tham gia sử dụng chế độ ăn ít muối hơn có huyết áp thấp hơn hẳn. Nghiên cứu này tạo cơ sở cho rất nhiều tuyên bố y tế về tác hại của muối. Các hướng dẫn chế độ ăn ở Mỹ, dựa trên ‘những bằng chứng chắc chắn’, đặt muối là chất đầu tiên trong danh sách cần tránh.

Tuy nhiên những bằng chứng đó lại không mấy chắc chắn như những gì chính phủ Mỹ công bố (let on). Nghiên cứu DASH chỉ là một trong nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của muối (salt intake) với sức khỏe và các nghiên cứu khác đều không có kết quả tương tự DASH. Nghiên cứu của Anh đề cập ở trên tìm ra mối liên hệ (correlation) nhưng các yếu tố khác diễn ra cùng lúc như giảm hút thuốc lá cũng có thể là nguyên nhân cho sự cải thiện sức khỏe hơn là muối. Vào năm 2011, hai bản phân tích kết quả của các nghiên cứu khác được xuất bản bởi Cochrane Collaboration, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên kiểm tra lại các bằng chứng y khoa. Phân tích đầu tiên cho thấy giảm lượng muối ăn vào dẫn tới huyết áp thấp hơn nhưng ‘không có đủ bằng chứng’ rằng điều này giúp giảm tử vong sớm (premature death) hay giảm tỷ lệ mắc bệnh tim. Phân tích thứ hai kết luận khá đơn giản rằng ‘chúng tôi không biết các chế độ ăn ít muối giúp cải thiện hay làm suy giảm sức khỏe’. Tác giả tiếp tục chỉ ra rằng ‘sau hơn 150 thử nghiệm ngẫu nhiên và 13 nghiên cứu quần thể (population study) mà không có một dấu hiệu rõ ràng ủng hộ cho việc giảm lượng muối natri, có lẽ phải chấp nhận là dấu hiệu đó không tồn tại’.

Một số nhà nghiên cứu khác còn đi xa hơn một bước, tuyên bố giảm muối làm tăng nguy cơ tử vong. Cơ thể cần một lượng muối nhất định, nếu nó nhận được quá ít muối, thận sẽ tiết ra một enzyme gọi là renin có thể dẫn tới cao huyết áp. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng: ăn ít muối có liên quan tới việc gia tăng nguy cơ suy tim (heart failure). Một số khác cho rằng tỉ lệ natri/kali thấp, phù hợp với từng cá nhân, là chìa khóa cho sức khỏe tim mạch. Các bằng chứng đều chưa rõ ràng nhưng các quan chức y tế công cộng từ lâu đã rao giảng về mối liên hệ giữa muối và bệnh tim như thể đây là chân lý. Sự tự tin này không được đảm bảo. Có khá nhiều lý do để không dùng một bữa sáng kiểu Anh nhưng muối có lẽ không nên là một trong số những nguyên nhân này.

Đăng Duy
The Economist


"To no avail" nghĩa là gì?

Có nên bớt hoạt động ngoại khóa? Photo courtesy elkhiki.

Thành ngữ to no avail có nghĩa là không có hiệu quả gì, vô ích.

Ví dụ
“I’ve certainly been making an effort to help out members of my family. For example, my aunt has been complaining of chest pains, so I suggested (đề nghị) that she see a doctor right away. My son’s grades have been slipping (kém dần). So I asked him to consider giving up (bớt) some of his extracurricular activities for a while. I make all these suggestions, but to no avail. Nobody listened to me. Why did I even bother?”

“We warned our senator that he wasn’t doing enough to lower taxes. Our supporters held meetings with him, organized a massive e-mail campaign and staged protest marches throughout the state. After these proved to no avail, we started to look for a new candidate. This has been a much more productive strategy.”


Huyền Trang
VOA

Bài trước: "Too close to call" nghĩa là gì?

Monday, April 28, 2014

Tịch thu tài sản dân sự nghĩa là gì?

Photo courtesy Images Money.

Kerri Kaley từng là đại diện bán hàng cho một công ty con của Johnson & Johnson. Cô cùng đồng nghiệp đôi khi nhận được các thiết bị y tế dư thừa hoặc lỗi thời từ khách hàng và sau đó bán, chia tiền với nhau. Chính phủ cho đây là hành vi ăn cắp và vào năm 2007, vợ chồng Kaley cùng với Jennifer Gruenstrass đã bị truy tố về tội trộm cắp thiết bị y tế. Họ phản biện rằng hành vi này không cấu thành tội vì đây là đồ bỏ đi. Tuy thế, họ vẫn sẵn sàng cho một cuộc chiến pháp lý dài hơi và nhà Kaley đã vay 500.000 đôla để trả cho luật sư bào chữa. Hành động này đã mang lại kết quả tốt đẹp cho Gruenstrass: chỉ chưa tới 3 giờ sau khi công tố viên không thể tìm được nhân chứng nào tuyên bố quyền sở hữu với các thiết bị liên quan, bồi thẩm đoàn bỏ phiếu tuyên cô vô tội. Nhà Kaley thì không được may mắn như vậy. Sau khi họ bị buộc tội, công tố viên đã xin được lệnh đóng băng (freezing) hơn 2 triệu đôla tài sản, bao gồm cả 500.000 đôla họ vay để thuê luật sư vì những tài sản đó cấu thành “tiền lời” từ hành vi phạm tội.

Đây là một quy trình được biết đến với tên gọi ‘tịch thu tài sản dân sự’ (civil-asset forfeiture). Không như tịch thu hình sự trong đó công tố viên thu giữ số tiền có được từ hoạt động phạm pháp như một hình phạt, tịch thu dân sự không yêu cầu đối tượng phải bị kết án hay khởi tố hình sự: trên thực tế, một nghiên cứu của cựu nghị sĩ đảng Cộng hòa Henry Hyde và Cato Institute, một viện cố vấn chính sách ‘tự do chủ nghĩa’ cho thấy 80% số người có tài sản bị tịch thu bởi chính phủ liên bang chưa bao giờ bị kết án. Tài sản bị tịch thu không nhằm chống lại người dân mà chỉ nhắm tới những tài sản mà cơ quan hành pháp cho rằng có liên quan tới hoạt động phạm pháp. Điều này có thể dẫn tới các vụ kháng án chống lại lệnh tịch thu với những tên k quặc như ‘nước Mỹ và 10.500 đôla’ hay ‘New Jersey và chiếc xe Ford Thunderbird 1990’. Người chủ tài sản cũng nhận được ít sự bảo vệ trong Hiến pháp hơn so với các bị cáo hình sự; họ phải chứng minh mình vô tội mới có thể lấy lại tài sản chứ không phải chính quyền chứng minh họ có tội.

Tuy có lịch sử lâu dài nhưng tịch thu tài sản dân sự chỉ bắt đầu xuất hiện nhiều ở Mỹ sau khi một số sửa đổi trong luật Phòng chống lạm dụng ma túy được thông qua năm 1984 cho phép cảnh sát được giữ và sử dụng tài sản bị tịch thu. Điều này khiến các cơ quan hành pháp có động lực tài chính trực tiếp để tịch thu nhiều hơn và dẫn đến điều mà công ty luật tự do Institute for Justice (IJ) gọi là ‘cảnh sát vì tiền’. Năm 1986, quỹ Tài sản tịch thu liên bang chỉ có 93,7 triệu đô la; tới tháng Chín năm 2013, quỹ này đã lên tới hơn 2 tỉ đôla tài sản ròng. Một phần trong số đó được giải ngân cho các cơ quan hành pháp địa phương. Như Sarah Stillman đã lưu ý trong phóng sự tuyệt vời của cô về sự lạm dụng tịch thu, rất nhiều Sở Cảnh sát dựa vào quỹ tịch thu để bổ sung thâm hụt ngân sách, do đó càng thêm động lực để “cướp” (một "bộ phận không nhỏ" coi đây là “đặc thù nghiệp vụ” của ngành chứ không phải tội). Các cơ quan này có thể dùng nguồn quỹ kể trên vào các hoạt động không mấy (tenuously) liên quan đến thực thi pháp luật mà không bị giám sát: như ở hạt Fulton, thành phố Atlanta, văn phòng chưởng lý hạt được cho là đã chi tiền tịch thu cho tiệc Giáng sinh, hoa, hệ thống an ninh tại nhà riêng và các món đặc sản bao gồm cả ‘bánh cua nhỏ sốt sâm panh’ (Chưởng lý Paul Howard bao biện rằng những khoản chi này giúp hạn chế nhân viên bỏ việc và cải thiện tinh thần).

Công ty luật IJ đề xuất một số cải cách đối với Luật Tịch thu tài sản Mỹ bao gồm tăng cường giám sát và yêu cầu các Sở Cảnh sát báo cáo, hạn chế động cơ tài chính bằng cách chuyển các tài sản bị tịch thu vào một quỹ trung lập (như quỹ giáo dục hay cai nghiện) hoặc quỹ chung của thành phố và đặt nghĩa vụ chứng minh lên chính quyền thay vì chủ sở hữu tài sản. Tuy nhiên nói thì dễ: các nỗ lực cải cách tịch thu tài sản dân sự vẫn còn rất chậm và chắp vá. Có vẻ như các Sở Cảnh sát ưa thích việc bổ sung ngân sách bằng cách “cướp” tài sản của dân. Cuối năm ngoái, các nhà lập pháp ở Utah đã bác bỏ một số cải cách trong luật tịch thu tài sản ở đây. Một dự luật cải cách ở Georgia vấp phải sự chống đối của cảnh sát bang và vào tháng Ba đã một lần nữa không được thông qua trong vòng hai năm liên tiếp. Cảnh sát bang Maryland chống lại một dự luật yêu cầu họ báo cáo các tài sản bị tịch thu, hay việc phải lưu hồ sơ lí do và kết quả của tất cả các cáo buộc hình sự. Các công tố viên ở Minnesota chống lại một dự luật yêu cầu hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu nếu họ không bị kết án (các ví dụ này đến từ một bài viết gần đây của Radley Balko). Còn đối với nhà Kaley, vào ngày 25 tháng Hai, Tòa án Tối cao Mỹ đã ra phán quyết chống lại họ, qua đó duy trì việc chính quyền có thể tịch thu tài sản trước khi phiên tòa diễn ra, dù làm vậy là vi phạm Tu chính án số 6 (‘Quyền được xét xử công khai, công bằng và nhanh chóng, cho biết lý do truy tố, đối chấp người tố cáo, trác đòi hầu tòa, quyền được tư vấn’). Chánh án John Roberts phản đối quyết định này, gọi đây là ‘mâu thuẫn căn bản với truyền thống Hiến pháp và các khái niệm cơ bản về công bằng’.

Phương Thùy
The Economist

"Too close to call" nghĩa là gì?

Wheel barrow race with horses at the Royal Adelaide Show. Photo courtesy State Library of South Australia.

'Too close to call' có hai từ mới. Một là close nghĩa là gần sát, và hai là to call nghĩa là gọi hay tuyên bố kết quả. Too close to call có nghĩa là một trường hợp trong đó người ta khó đưa ra một quyết định hay khó đoán được kết quả.

Ví dụ
My friend and I go to the racetrack (trường đua ngựa) once in a while. The last time (lần vừa rồi) we bet (đánh cá) on a horse that looked like a good pick. And for most of the race, he was comfortably ahead. But then another horse caught up (bắt kịp) to him and the two seemed to cross the finish line at the same time. The crowd (đám đông khán giả) roared (reo hò vang dội), yet the race was too close to call. No one knew the result until the judges studied the photos and declared our horse the winner!

Usually, it doesn’t take long to decide (quyết định) the winner of a presidential contest. In 2000, however, the election was too close to call. Even experts were unsure of the outcome. Finally, after 36 days of studying ballots (cứu xét và đếm lại các lá phiếu), recounting votes and getting the Supreme Court (Tối cao Pháp viện) to make a ruling, George W. Bush became the 43rd president of the United States!

Huyền Trang
VOA


Sunday, April 27, 2014

"Spread oneself too thin" nghĩa là gì?

Photo courtesy David Blackwell.

'Spread oneself too thin' có hai từ mới. Một là động từ to spread nghĩa là trải rộng ra, dàn ra, và hai là thin, nghĩa là mỏng. Spread oneself too thin nghĩa là tự dàn mình ra quá mỏng, tức là ôm đồm làm quá nhiều việc cùng một lúc.

Ví dụ
My son Peter has been extremely active (rất hăng say) at his high school. He’s the editor of the school newspaper, co-captain (đội trưởng) of the wrestling (đấu vật) team, and a member of the math club and the debate team (hội tranh luận). It’s no wonder that he comes home exhausted (mệt nhoài). He’s spreading himself too thin. He has to stop trying to do so many things at the same time!

We’ve watched other companies merge (liên doanh với nhau) and get bigger and bigger. Although they have more resources (nhiều vốn liếng), they also tend to get involved in more projects (dự án) than they should. As a result, they lose their ability to stay competitive. That’s why our firm is going to stay small. We prefer not to spread ourselves too thin.

Huyền Trang
VOA

Saturday, April 26, 2014

"On the right track" nghĩa là gì?

Sprint quarterfinal World Cycling Track Championships 2008, Manchester Velodrome, Theo Bos vs World Champion to be, Chris Hoy. Photo courtesy johnthescone.

Nếu bạn 'on the right track' (đi đúng hướng), có nghĩa là bạn đang làm hoặc nghĩ về điều gì theo cách mà sẽ dẫn đến kết quả tốt đẹp.

Ví dụ
Our research shows we're on the right track. Our profits are healthy and our customers are happy.
The team lost a few early games. But then the manager made some changes and now they're on the right track.

Xin lưu ý
Nếu bạn 'track down something or someone', có nghĩa là bạn tìm thấy vật hay người này sau một thời gian dài tìm ở các nơi khác nhau.

I managed to track down that book about African birds in a shop on the high street.

Thực tế thú vị:
Một velodrome là một tòa nhà đặc biệt để đua xe đạp (sân đua xe đạp). Một 'sprint' là cuộc đua ngắn, nhanh. Một 'endurance' được tổ chức với khoảng cách dài hơn và gồm nhiều vòng (đua) của velodrome.

BBC

Friday, April 25, 2014

Vì sao Nam Phi ít bạo lực hơn bạn tưởng?

Oscar Pistorius wins the 400m T44 final. Photo courtesy David Jones.

Vụ án Oscar Pistorius, vận động viên Paralympic (Thế vận hội dành cho người khuyết tật) bị buộc tội giết bạn gái Reeva Skeenkamp vào ngày Valentine năm ngoái, làm thế giới tập trung sự chú ý vào tỉ lệ tội phạm cao tại Nam Phi. Tòa án vẫn chưa đưa ra phán quyết liệu Pistorius đã cố ý bắn bạn gái hay đây chỉ là một vụ tai nạn như Pistorius vẫn khẳng định. Tuy nhiên, các nhà hoạt động đã dùng câu chuyện này để nêu bật vấn đề bạo lực mà nhiều phụ nữ Nam Phi đang phải đối mặt tại chính gia đình họ. Trung bình cứ 8 tiếng lại có một phụ nữ Nam Phi bị chồng hoặc người yêu giết. Tỉ lệ này so với thế giới ra sao?

Hàng năm trên thế giới, cứ 17.000 người thì có một người bị giết hại. Phần lớn trong số này là nam giới. Chỉ có 2 trong 10 nạn nhân là phụ nữ (và tỉ lệ phụ nữ là thủ phạm ít hơn 1/10). Theo thống kê công bố hồi tuần trước của Văn phòng Liên hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UN Office on Drugs and Crime), gần một nửa trong số những nạn nhân nữ bị chồng, người yêu hoặc thành viên trong gia đình giết. Tỉ lệ phụ nữ bị giết hại là khoảng 1/37.000 và cứ khoảng 77.000 phụ nữ thì có 1 người bị chồng, người yêu hoặc một thành viên trong gia đình giết.

Tỉ lệ này ít hơn ở châu Phi. Lục địa này là nơi có nhiều bạo lực thứ hai thế giới (chỉ sau châu Mỹ La Tinh) với tỉ lệ giết người nhiều gần gấp hai lần so với tỉ lệ trung bình của thế giới. Và Nam Phi là một trong những nơi có nạn bạo lực diễn ra phổ biên nhất: hằng năm, cứ 3.300 người thì có một người bị giết hại. Điều này đồng nghĩa với việc Nam Phi chỉ đứng sau Swaiziland và Lesotho về tỉ lệ người bị giết hại tại châu lục này. Có thể nói, bạo lực tại Nam Phi chủ yếu tập trung vào nam giới so với hầu hết các nước khác. Chỉ có 15% nạn nhân là phụ nữ. Thực tế, tại Swaiziland và Lesotho, tỉ lệ này lần lượt là 22% và 26%. Tuy nhiên, so với trung bình thế giới, tại Nam Phi, tỉ lệ phụ nữ bị giết hại cao hơn 3 lần, và tỉ lệ phụ nữ bị chồng hoặc người yêu giết cao hơn bốn lần.

Nhưng mọi việc đang trở nên tốt đẹp hơn. Số vụ giết người đã giảm hơn 1/3 kể từ năm 2000. Tỉ lệ này đối với phụ nữ còn giảm mạnh hơn nữa: Theo Hội đồng Nghiên cứu Y tế Nam Phi (South African Medical Research Council), trong khoảng thời gian từ 1999 tới 2009, tỉ lệ phụ nữ bị giết hại đã giảm hơn một nửa. Số nạn nhân bị chồng hoặc người yêu giết cũng giảm từ tỉ lệ 1/12.000 người xuống còn 1/18.000 người. Dù bản án vụ Pistorius – Steenkamp có thế nào đi nữa, tin tức cũng sẽ tập trung vào tỉ lệ bạo lực cao tại Nam Phi. Mọi chuyện thật sự khá nghiêm trọng (pretty dire). Tuy nhiên, sự thật là đối với cả nam giới và phụ nữ ở nước này, mọi thứ đang tốt dần lên so với trước kia nhiều.

Tuấn Minh
The Economist

Cooking is an adventure



In this completely over-the-top video, cooking is transformed into the adventure of a lifetime with fast cuts, intense zooms and brilliant sound editing. Foods transform into landscapes, gas stovetops become jet engines and chefs transform into daring explorers of new frontiers. It's a creative spin on an activity many of us do daily. Venture forth chefs!

Vì sao thực hiện phân tích chi phí – lợi ích không dễ như bạn tưởng?

A "Stop HS2" banner outside West Ruislip railway station in London. Photo courtesy Matt Buck.

Các chính phủ đang ngày càng có xu hướng thực hiện phân tích chi phí – lợi ích (CBA) để đánh giá tính khả thi của một dự án lớn. Mục đích là để có được sự đánh giá khách quan dựa trên bằng chứng về các chi phí và lợi ích của một chính sách hay dự án cụ thể mà không quan tâm tới hậu quả (ramification) chính trị của nó. Chính phủ Anh đặc biệt ưa thích CBA: họ là người tiên phong sử dụng phương pháp này trong thập niên 1960 và gần đây lại tiếp tục áp dụng phương pháp này đối với HS2: tuyến đường sắt cao tốc nối liền London, Birmingham và Manchester đang gây nhiều tranh cãi cũng như để biện minh cho quyết định tiêu diệt bớt loài lửng (badger) ở vùng nông thôn. Lý thuyết thì rất đơn giản: chỉ cần liệt kê hết các chi phí vào một cột và các lợi ích vào cột còn lại là xong. Nhưng thực tế việc này phức tạp hơn nhiều. Với những khoản tiền lớn và những dự án có thể kéo dài nhiều thập kỉ, các nhà kinh tế phải dùng tới những kĩ thuật rất phức tạp (wonkish), đôi khi gây tranh cãi, để có được một CBA đáng tin cậy. Bạn có muốn biết họ làm như nào không?

Đầu tiên, khái niệm đơn giản nhất mà cũng quan trọng nhất là một thuật ngữ kinh tế nhàm chán: ‘thặng dư tiêu dùng’. Đây là sự chênh lệch giữa số tiền bạn sẵn sàng trả với số tiền bạn phải trả trên thực tế cho một thứ nào đó. Nếu bạn sẵn sàng trả 1 bảng cho một quả táo nhưng lại chỉ phải mua với giá 40 xu, thặng dư tiêu dùng của bạn là 60 xu. Thặng dư tiêu dùng quan trọng bởi các dự án lớn như đường sắt thường không bền vững dưới góc độ thương mại thuần túy. Trong trường hợp HS2, ước tính doanh thu dự kiến từ tiền vé ở mức 15 tỉ bảng, nhưng tổng chi phí lên tới 25,5 tỉ bảng. Nhưng đây sẽ là một đánh giá có phần hạn hẹp về lợi ích của những dự án như vậy. Các chính phủ còn nhìn xem người dân tiết kiệm được những gì. Ví dụ, một người thường phải trả 100 bảng để đi từ Manchester đến London. Nếu HS2 được xây dựng, người đó sẽ chỉ phải trả 40 bảng. Lợi ích thương mại của dự án sẽ chỉ là 40 bảng, nhưng CBA sẽ phải tính cả 60 bảng thặng dư tiêu dùng (bởi vì số tiền này sẽ được chi dùng cho những dự án khác). Các dự án cơ sở hạ tầng lớn thường chỉ có ý nghĩa kinh tế khi thặng dư tiêu dùng được tính đến.

Để có thể so sánh hoàn toàn chi phí và lợi ích, cần tới các thủ thuật (trickery) kinh tế khác nữa. Điều chỉnh theo mức lạm phát là bước bắt buộc đầu tiên. Sau đó phải quy đổi chi phí và lợi ích đã tính được ở các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm để có thể so sánh. Các nhà kinh tế gọi đây là ‘giá trị hiện tại ròng’ (net present value). Các chuyên gia cũng cần tính đến các cách khác nữa mà tiền đầu tư có thể được sử dụng tốt hơn. Chính phủ có thể chọn cách gửi tiền vào ngân hàng lấy lãi hay đầu tư vào một dự án khác có lợi nhuận cao hơn. Giới kinh tế gọi đây là ‘chi phí cơ hội của vốn’. Không có quy tắc vàng nào để lựa chọn lãi suất phù hợp – cũng được gọi là ‘tỉ lệ chiết khấu’, tuy nó thường tương ứng với mức người dân nhận được khi mua trái phiếu chính phủ. Trong bản phân tích về quyết định tiêu diệt lửng, chính phủ Anh chọn mức 3,5%. Tỉ lệ chiết khấu càng cao, lợi nhuận tương lai càng nhỏ. Có lo ngại rằng những người phản đối các dự án đầu tư lớn cố tình phóng đại tỉ lệ chiết khấu.

CBA đã là một phần không thể tách rời đối với các dự án lớn, do đó những hạn chế về phương pháp này cũng được nghiên cứu kĩ càng. CBA gặp khó trong việc định giá cho những thứ như chất lượng môi trường. Các nhà kinh tế khôn ngoan né tránh vấn đề này bằng cách tính ‘mức độ sẵn sàng chi trả’: số tiền người dân sẵn sàng chi để làm sạch không khí hoặc nguồn nước. Thêm vào đó không CBA nào giống nhau nên rất khó để so sánh các nghiên cứu khác nhau. Đôi khi các giả định cũng, nói một cách giảm nhẹ, là hơi ‘hoành tráng’. Một phân tích ban đầu về HS2 cho thấy mọi người thường không làm việc trên tàu, nên lợi ích sẽ tăng lên nếu thời gian di chuyển ngắn hơn. Ý tưởng này sau đó bị loại bỏ và sự tập trung dồn vào các lợi ích kinh tế cho miền bắc. Dù còn nhiều tranh cãi, CBA vẫn rất được ưa chuộng. Các chính phủ sẽ không phê duyệt dự án lớn nào nếu đề xuất chưa được phân tích CBA kỹ lưỡng.

Đăng Duy
The Economist

Tiệc cưới Quốc Huy & Phương Anh

nhà hàng Vạn Hoa, 98 Thái Thịnh.

Bài trước: Highway 4 - 575 Kim Mã

Vì sao phần mềm nhận diện giọng nói ngày càng hoàn thiện như vậy?

Photo courtesy Johan Larsson.

Suốt một thời gian dài phần mềm nhận diện giọng nói từng rất tệ - điều này càng củng cố nhận định máy tính rất khó thực hiện những việc con người làm dễ dàng và ngược lại. Tuy nhiên gần đây công nghệ này đã hoàn thiện hơn rất nhiều: hầu hết các điện thoại thông minh (smartphone) đời mới đều có nhiều tính năng kích hoạt bằng giọng nói có thể sử dụng được. Các chương trình như Google Now hay Siri của iPhone không chỉ thực hiện những nhiệm vụ giới hạn như tìm nhà hàng hay gọi vào một số điện thoại, smartphone đang ngày càng tiến bộ trong nhận diện giọng nói không theo khuôn mẫu như gửi tin nhắn hay thư điện tử (e-mail). Vì sao mà máy tính lại hiểu những gì chúng ta nói ngày một tốt hơn vậy?

Gần như bất cứ từ nào cũng có thể đứng đầu câu, vì thế từ đầu tiên của một câu có thể là một trong hàng vạn từ. Nếu các từ có khả năng đứng ở bất cứ vị trí nào như nhau, thì có thể có tới 3,2 x 10^21 câu có 5 từ với 20.000 từ cho sẵn. Con số khổng lồ này cùng với chất lượng tín hiệu bị giảm do micro rẻ tiền, tiếng ồn ào xung quanh và (dữ liệu) bị nén khiến việc nhận diện giọng nói là bất khả thi.

Nhưng từ ngữ không xuất hiện theo thứ tự ngẫu nhiên nên máy tính không phải đoán mỗi từ bạn nói ra trong vốn từ 20.000 từ. Thay vào đó phần mềm sẽ đoán khả năng xuất hiện của 1 từ dựa vào các từ xung quanh, tìm kiếm trong các mẫu câu được thống kê trích từ các kho tài liệu số hóa và các lời nói trước đó của người dùng khác. Đằng sau ‘the’ thường không phải một động từ, do đó các khả năng được thu hẹp bớt. Đằng sau ‘Jefferson viết bản tuyên ngôn’ (Jefferson wrote the Declaration of) thì khả năng còn được thu hẹp hơn rất nhiều. Nói ‘một chiếc xe kem đẹp’ (a nice cream truck) ở tốc độ bình thường vào điện thoại và nhiều khả năng nó sẽ trả lại câu nói gần như đồng âm ‘một chiếc xe kem’ (an ice cream truck). Tất cả các từ trong ‘một chiếc xe kem đẹp’ đều hay gặp nhưng sự kết hợp giữa chúng thì không. Smartphones có thể dự đoán tốt hơn nữa bằng cách sử dụng thông tin cá nhân của người dùng như tên người trong danh bạ hay các thành phố gần khu vực của họ.

Các mẫu câu được thống kê như vậy đang là trái tim của mọi loại ứng dụng ngôn ngữ. Một ví dụ là chương trình dịch tự động đời cũ thường chia nhỏ ngữ pháp và nghĩa của một câu và lắp ghép lại ở ngôn ngữ mới. Các hệ thống hiện đại tốt nhất dựa trên khả năng chuyển chính xác một dãy A trong ngôn ngữ gốc sang dãy B trong ngôn ngữ mục tiêu, dựa trên dữ liệu dịch bởi con người mà máy tính được cung cấp. Các mẫu thống kê có thể sửa các lỗi phổ biến và rõ ràng như: nhắn cho một người bạn ‘đang trên đường đống cỏ’. (on the way mow), tuy ‘đồng cỏ’ (mow) là một từ tiếng Anh nhưng một số phần mềm sẽ sửa câu thành ‘đang trên đường tới đây’ (on the way now) vì ‘đồng cỏ’ là một từ tương đối lạ và chẳng bao giờ đứng sau ‘trên đường’ (on the way). Máy tính sẽ ngày càng hữu ích khi chúng học được thêm nhiều về chúng ta cả trên tổng thể lẫn cá nhân. Dần dần, vấn đề đặt ra với người dùng sẽ là: họ sẵn sàng ‘từ bỏ’ (bảo mật) bao nhiêu thông tin cá nhân để đổi lấy những dịch vụ hữu ích và đáng tin cậy hơn.

Đăng Duy
The Economist

"Play your cards right" nghĩa là gì?

You gotta learn to play it right. Photo courtesy Nomadic Lass.

Nếu bạn 'play your cards right' (đi đúng quân bài, đúng nước cờ), điều đó có nghĩa là bạn làm điều chuẩn xác và trở nên thành công. Mọi người thường dùng cụm từ này để đưa ra lời khuyên và khích lệ, nói rằng 'if you play your cards right', điều tốt đẹp sẽ đến.

Ví dụ
If you play your cards right, he might ask you to marry him!
John, if you play your cards right, you could become the new manager.

Xin lưu ý
Xin đừng nhầm với 'To lay (or put) your cards on the table' có nghĩa là rất thẳng thắn và thật thà về suy nghĩ, cảm giác hay ý định của bạn (ngửa quân bài).

I think it's time to lay your cards on the table. Tell me honestly why you don't like my new boyfriend.

Thực tế thú vị:
Theo sách Kỷ lục Guinness, Antonio Esfandiari đến từ Mỹ đã giành được số tiền thưởng cao nhất từ trước tới nay trong một giải đấu poker. Ông đã giành được số tiền đáng kinh ngạc là 18.300.000 dollar tại Las Vegas vào năm 2012.

BBC


"House of cards" nghĩa là gì?
"Wild Card" nghĩa là gì?
"Trump card" nghĩa là gì?

Thursday, April 24, 2014

Vì sao vệ sinh môi trường cần được coi trọng?

Toalet ngay trước mặt, mà vẫn thích 'ỉa đồng'. Photo courtesy SuSanA Secretariat.

Thập kỉ đầu tiên của thế kỉ này chứng kiến sự gia tăng đáng kể các tài trợ y tế, đặc biệt là các nỗ lực phòng chống HIV và sốt rét. Giờ đây giới chức y tế đang thảo luận cách thức đối phó với nhiều loại bệnh hơn nữa. Ngân hàng Thế giới đã đặt mục tiêu phổ cập chăm sóc y tế trên toàn cầu vào năm 2030. Đây là nhiệm vụ (endeavour) có tầm quan trọng lớn lao và cũng rất phức tạp. Tuy nhiên, cùng với các nỗ lực nâng cao chăm sóc y tế, một sự thật tuy đơn giản nhưng không mấy dễ chịu cần nhớ là: chất thải cũng là vấn đề quan trọng.

Trong lịch sử y tế công cộng, hầu như không có sự kiện nào quan trọng bằng khám phá vào giữa thế kỉ 19, tại một địa điểm cách không xa tòa soạn tạp chí The Economist ở London. Bác sĩ John Snow đã chứng minh rằng máy bơm nước ô nhiễm (contaminated) góp phần làm dịch tả (cholera) lan rộng. Nhờ các khoản đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải sau đó mà dịch bệnh này đã bị xóa bỏ ở London cũng như hầu khắp các nơi trên thế giới. Ngày nay, nước sạch và hệ thống vệ sinh môi trường trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong việc phòng tránh các dịch bệnh tiêu chảy do nhiễm trùng (infectious diarrhoeal diseases) như dịch tả hay khuẩn salmonella. Mỗi dollar đầu tư cho vệ sinh sẽ mang lại 5,50 dollar dưới hình thức giảm chi phí y tế và gia tăng năng suất lao động theo tính toán của Tổ chức Y tế thế giới WHO.

Tuy nhiên, điều đáng ngại là còn tới 14% dân số thế giới vẫn đang duy trì thói quen mà ngành y gọi một cách lịch sự là ‘đại tiện lộ thiên’ (open defecation). Tỉ lệ này ở các nước nghèo là 21% và thậm chí tới 32% ở các nước thu nhập trung bình thấp. Ấn Độ đang dần trở thành một cường quốc kinh tế nhưng 48% dân số nước này vẫn giải quyết nỗi buồn ngoài trời. Đã có những nỗ lực để thay đổi tình trạng này. Hầu hết trong số 86 nước được điều tra trong một báo cáo mới đây có những kế hoạch để cải thiện nguồn nước và vệ sinh nhưng mới chỉ có dưới 1/3 các nước đã tiến hành. Kinh phí eo hẹp là một phần nguyên nhân nhưng tiền cũng không được sử dụng hiệu quả. Đóng góp đã tăng trong 3 năm qua nhưng mức chi vẫn giữ nguyên. Các nước đổ lỗi cho thủ tục giải ngân phức tạp trong khi các nhà tài trợ đổ lỗi cho quản lý yếu kém ở các nước này.

Dù sao, cũng có những hi vọng tình trạng này sẽ thay đổi. Quan chức tài chính các nước và lãnh đạo Ngân hàng thế giới cùng với Liên hợp quốc sẽ gặp nhau tại Washington DC trong tháng này để cùng thảo luận vấn đề. UNICEF đã phát động một chiến dịch nhằm chấm dứt đại tiện lộ thiên ở Ấn Độ. Đó là một đoạn video được đưa lên mạng với tên ‘Mang phân tới toilet’ (Take the poo to the loo) với hình ảnh những khối màu nâu nhảy múa. Thật là kinh tởm, có lẽ vậy, nhưng vẫn còn hơn một đại dịch tiêu chảy chết người.

Đăng Duy
The Economist



Bài trước: Phản ứng dữ dội đối với dữ liệu lớn

Kiểm soát dịch ebola như nào?
Có chức, làm sao đây?
Gửi phân chó trả về khổ chủ
Trẻ em sẽ cho bất cứ thứ gì vào miệng

"Busy bee" nghĩa là gì?

Photo courtesy Christian.

Một cụm từ đơn giản ngày hôm nay. Các con ong trông có vẻ như những con vật rất bận rộn, vì vậy, nếu bạn nói bạn 'as busy as a bee', hay tự gọi mình là 'a busy bee', điều đó có nghĩa là bạn rất bận (con ong chăm chỉ)!

Ví dụ
I've been a really busy bee this morning. I've been to the shops, paid my bills, had a haircut and even been for a run.
Frank is such a busy bee. He's always doing about five projects at once! He needs to take it easy.

Xin lưu ý
Nếu bạn 'have a bee in your bonnet' (có con ong trong mũ) về điều gì, có nghĩa là bạn bị ám ảnh và không thể ngừng nghĩ đến điều đó.

He's got a bee in his bonnet about fast cars. He talks about them all day long!

Thực tế thú vị:
Ong đập cánh rất nhanh. Chúng vỗ cánh lên xuống khoảng 200 lần trong một giây.

BBC


Wednesday, April 23, 2014

Phản ứng dữ dội đối với dữ liệu lớn

Photo courtesy Thierry Gregorius.
‘Nhảm nhí’, ‘Phóng đại’, “Vớ vẩn’, đó là những gì các giáo sư đại học Cambridge hay những nhà nghiên cứu đại học Havard và cả chiến lược gia trưởng (chief number-cruncher) cho chiến dịch tái đắc cử của Tổng thống Obama nói về ‘dữ liệu lớn’ (big data). Chỉ cách đây vài năm, hầu như chẳng mấy ai biết đến, còn ngày nay, không thể tránh khỏi việc được ứng dụng ở khắp nơi, nên giới trí thức thời đại số (digerati, kết hợp 2 từ digital và literati) rất thích thú trong việc chỉ trích dữ liệu lớn. Wired, Time, Harvard Business Review và các ấn phẩm khác đang tỏ ra (fall over themselves) vui mừng thái quá trước sự thất bại của dữ liệu lớn (dance on its grave). ‘Dữ liệu lớn: chúng ta đang sai lầm?’ Thời báo Tài chính viết. ‘Tám (không phải, mà là Chín!) vấn đề với Dữ liệu Lớn, tờ New York Times đưa tin. Vì sao lại có phản ứng như vậy?

Dữ liệu lớn đề cập tới ý tưởng về việc xã hội có thể sử dụng một khối dữ liệu lớn để làm những việc mà không thể thực hiện được nếu chỉ có ít dữ liệu. Thuật ngữ này lần đầu được dùng cách đây 10 năm dành cho các bộ dữ liệu lớn trong các lĩnh vực: vật lý học thiên thể (astrophysic), nghiên cứu gen, các cỗ máy tìm kiếm trên internet, và cả các hệ thống học máy (như nhận diện giọng nói và dịch) chỉ có thể hoạt động tốt khi xử lý khối lượng dữ liệu đủ lớn. Giờ đây thuật ngữ này dùng để chỉ việc ứng dụng thống kê và phân tích dữ liệu trong các lĩnh vực mới như bán lẻ, quản trị nhân lực. Các phản ứng đối với dữ liệu lớn nảy sinh từ giữa tháng Ba, bắt đầu từ một bài báo trên tạp chí Science của David Lazer và một số học giả khác thuộc Đại học Havard và Đại học Northeastern. Bài báo chỉ ra rằng Google Flu Trends - một dự án năm 2009 nhằm xác định dịch cúm chỉ bằng các từ khóa tìm kiếm – cũng là ví dụ điển hình (poster-child) về dữ liệu lớn trong suốt 4 năm hoạt động đã tính toán số ca mắc cúm nhiều hơn nhiều so với ghi nhận từ các Trung tâm Kiểm soát Bệnh dịch. Vì vậy, càng nhiều người phản đối ý tưởng dữ liệu lớn.

Các chỉ trích chủ yếu tập trung ở ba lĩnh vực, không thuộc về bản chất dữ liệu lớn, mà là đặc tính của việc phân tích dữ liệu, và cũng có ý đúng. Trước tiên, có những thiên lệch trong bản thân dữ liệu mà không nên bỏ qua. Hiển nhiên là như vậy. Thứ hai, một vài người ủng hộ dữ liệu lớn cho rằng lý thuyết (ví dụ các mô hình khái quát về hoạt động của cả thế giới) đã lỗi thời. Trên thực tế, cần có kiến thức về đối tượng-khu vực ngay cả khi xử lý các bộ dữ liệu lớn. Thứ ba, vấn đề tương quan giả (spurious correlation) – những mối liên hệ có ý nghĩa lớn về mặt thống kê nhưng ít khi xảy ra – xuất hiện nhiều hơn khi lượng dữ liệu tăng. Mặc dù có những kỹ thuật thống kê mới có thể xác định và loại bỏ (banish) các tương quan giả, chẳng hạn như chạy nhiều bài kiểm tra từng bộ dữ liệu nhỏ, nhưng đây vẫn luôn là vấn đề đáng quan tâm.

Nói cách khác, những người phản đối (naysayer) có cái lý riêng. Tuy nhiên, các chỉ trích này cũng không có nghĩa là phân tích dữ liệu lớn chẳng đem lại lợi ích gì. Ngay cả các nhà nghiên cứu của đại học Harvard từng cho rằng dữ liệu lớn là ‘phóng đại’ cũng thừa nhận trên tạp chí Science rằng kết hợp phân tích Google Flu Trends với dữ liệu của CDC đã giúp cải thiện dữ báo chung, cho thấy trên thực tế dữ liệu lớn có thể là một công cụ hữu dụng. Và nghiên cứu trên tạp chí PLOS Computational Biology (ứng dụng tin học trong sinh học – Public Library of Science) ngày 17 tháng Tư vừa qua chỉ ra rằng có thể ước tính tình trạng phát tán của bệnh cúm dựa trên số lượt ghé thăm các bài viết Wikipedia liên quan đến căn bệnh này. Có thể thấy, đằng sau phản ứng dữ dội đối với dữ liệu lớn là chu trình truyền thông truyền thống khi những người khởi xướng một công nghệ nào đó đưa ra những tuyên bố to tát và hứng chịu chỉ trích của dư luận (people sling arrows) khi những lời hứa này không thành hiện thực. Tuy nhiên, cuối cùng thì công nghệ đó lại làm thay đổi thế giới, dù không nhất thiết giống với cách mà các chuyên gia dự đoán. Điều này đã xảy ra trước đây, đối với web, tivi, đài phát thanh, phim ảnh và máy điện báo. Giờ đến lượt dữ liệu lớn phải đối mặt với những chỉ trích mà thôi.

Phương Thùy
The Economist

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe...
-----
Có thể bạn đã nhìn thấy những biển báo:
ABSOLUTELY NO CREDIT CARDS. (Không chấp nhận thẻ tín dụng)
NOT RESPONSIBLE FOR LOST OR STOLEN ITEMS. (Cửa hàng không chịu trách nhiệm về các vật dụng bị đánh cắp)
BATHROOMS FOR PATRONS ONLY. (Toilet chỉ dành cho khách hàng)

Photo courtesy B Rosen.
Bạn đoán được không? Hoàn toàn không có bất kỳ quy định pháp luật nào về việc bạn phải dùng những lời lẽ khắc nghiệt như kẻ ngớ ngẩn vậy để "tạo sức nặng" hay thông báo cho mọi người. Hoàn toàn có thể viết:

- To keep our prices as low as possible, we only accept cash. The good news is that there's an ATM next door. (Để giữ giá ở mức thấp nhất có thể, chúng tôi chỉ chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt. Tin tốt là có cột ATM cách vài bước chân)
- Careful! We'd like to watch your stuff for you, but we're busy making coffee. (Cẩn thận! Chúng tôi rất muốn trông đồ cho bạn, nhưng đang bận pha cà phê)
- Our spotlessly clean restrooms are for our beloved customers only, so come on in and buy something! Also, there's a public bathroom in the library down the street. (Nhà vệ sinh sạch sẽ chỉ dành cho khách hàng yêu quý của chúng tôi, vì vậy vui lòng vào cửa hàng và mua một món đồ gì đó. Ngoài ra, có nhà vệ sinh công cộng ở thư viện cuối phố)

Trên thực tế, bạn có thể thấy khi bạn nói rõ ràng và với sự tôn trọng, bạn không chỉ giao tiếp hiệu quả hơn, mà mọi người có khi sẽ ít đổ lỗi cho bạn hơn khi xảy ra vấn đề.